1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư

14 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư

Trang 1

M ụ c L ụ c

PHẦN I: Mở đầu 2

PHẦN II: Lí luận giá trị thặng dư – Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư 3

I, Định nghĩa giá trị thặng dư 3

II, Đặc điểm quy luật sản xuất giá trị thặng dư 4

III, Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 5

IV, Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư……….7

V, Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư 10

PHẦN III: Kết luận………13

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 13

Trang 2

PHẦN I : MỞ ĐẦU

Theo danh giá của VI LêNin thì lý luận giá trị thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của C.Mac Các nhà tư bản để đạt được mục đích tối đa của mình họ đã mua sức lao động của người công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm và thu về giá trị thặng dư

Các nhà kinh tế học thường cho rằng mọi công cụ lao động, mọi tư liệu sản xuất đều

là tư bản Thực ra bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản xuất trong bất cứ xã hội nào Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của các nhà tư bản và được dùng để bót lột lao động làm thuê Ta có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê Giá trị thặng dư , phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao động và tư bản chiếm không

Chính vì vậy mà sản xuất giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật thặng dư Nó quyết định đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư có vai trò rất quan trọng , nó có ý nghĩa rất quan trọng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy mà tôi đã chọn đề tài

“Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư.” cho bài tiểu luận của mình.

Trang 3

PHẦN II: LÍ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ – CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN

CỨU QUY LUẬT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

I Định nghĩa giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động

do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.

Giá trị thặng dư được Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và số tiền nhà tư bản bỏ ra trong kinh doanh Nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến Tuy nhiên, người lao động sẽ đưa vào hàng hoá một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động Phần dư ra được gọi là giá trị thặng dư, tức là

số lượng của hàng hoá mà người lao động làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và mức chênh lệch đó là giá trị thặng dư

Có thể lấy một ví dụ sau để giải thích: Giả sử một người lao động có trong tay nguyên vật liệu la 1000đồng Trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra, người lao động đó sẽ làm được sản phẩm mới có giá trị 1100đ Số tiền 100đ chênh lệch đó là giá trị thặng dư sức lao động Tuy nhiên, nhà tư bản chỉ trả cho anh ta 50đ, có nghĩa là 50đ còn lại là phần nhà tư bản chiếm không của người lao động

Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư:

- Năng suất lao động

- Thời gian lao động

- Cường độ lao động

- Công nghệ sản xuất

- Trình độ quản lí

Trang 4

II Đặc điểm quy luật sản xuất giá trị thặng dư:

Quy luật sản xuất giá trị thặng dư là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Nội dung quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư bằng cách tăng cường độ bóc lột công nhân làm thuê Nếu quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá là quy luật giá trị thì quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất

tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị thặng dư Có thể thấy, vì giá trị thặng dư là cội nguồn sinh ra sự giàu có sung túc vì xuất hiện giá trị mới, nên để duy trì và phát triển sự giàu có dôi dư này, giai cấp tư sản có xu hướng không ngừng sản xuất với quy mô ngày càng lớn hơn trước Những tiền bạc thu được đều được đưa vào tái đầu tư, tái sản xuất, thuê mua nguyên vật liệu nhà xưởng để vận hành tạo giá trị thặng dư

Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của CNTB vì theo kinh tế chính trị Mác nó quy định bản chất của nền sản xuất TBCN, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của xã hội tư bản Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có CNTB.Theo Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư- đó là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN Ở đâu có giá trị thặng dư thì ở đó có CNTB, ngược lại ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có giá trị thặng dư

Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích là động lực thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và thúc đẩy sự vận động phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc

=> Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: + Mâu thuẫn của tư bản và lao động

+ Mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp công nhân

Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa với mục đích thu được ngày càng nhiều giá trị thặng dư Các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn

Trang 5

Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật cải tiến sản xuất Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt

III Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, do vậy mà các nhà

tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng khối lượng giá trị thặng dư Những phương pháp

cơ bản để đạt được mục đích đó là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng

dư tương đối

1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:

Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp thì phương pháp chủ yếu mà các nhà tư bản thường dùng để tăng giá trị thặng dư đó

là kéo dài ngày lao động của công nhân , trong điều kiện thời gian lao động là tất yếu không thay đổi

Giả sử thời gian lao động là 8 giờ trong đó 4 giờ là thơi gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là 100% Giá trị ngày lao động kéo dài thêm 2 giờ trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt đối , vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên , trình độ bóc lột tăng lên đạt 200%(m’=200%)

Các nhà tư bản tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản Nhưng dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá , nhưng nó tồn tại trong cơ thể sống con người vì vậy mà người công nhân cần có thời gian để ăn ngủ nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khoẻ nhằm tái sản xuất sức lao động Mặt khác , sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi phải có thời gian cho nhu cầu sinh hoạt về tinh thần , vật chất , tôn giáo của mình Như vậy , về mặt kinh tế , ngày lao động phải dài hạn

Trang 6

thời gian lao động tất yếu , nhưng không thể vượt qua giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

Vì thời gian lao động quá dài , do vậy mà đã dẫn đến phong trào giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày Chính vì vậy mà giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn , đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối

2 Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:

Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi

Giả sử ngày lao động 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư , trình độ bóc lột 100%.Giả thiết rằng công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị bằng giá trị sức lao động của mình Do đó mà tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động giá trị thặng dư trong trường hợp đó cũng không thay đổi Khi đó thời gian lao động cần thiết là

2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tư bản lúc này là 300%(m’=300%)

Như vậy để có thể giảm thời gian lao động cần thiết để từ đó gia tăng tương ứng phần thời gian lao động thặng dư thì các nhà tư bản cần tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong những nghành sản xuất tư liệu sinh hoạt Đồng thời nâng cao năng suất lao động xã hội trong những nghành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn sau khi mà kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối đã chiếm ưu thế Hai phương pháp trên đã được các nhà tư bản sư dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản

Trang 7

IV Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư:

1 Lợi nhuận thương nghiệp:

Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhượng cho tư bản thương nghiệp, để tư bản thương nghiệp bán hàng hoá thay cho mình.Thực chất, lợi nhuận thương nghiệp chỉ là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư nên nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp chính là một

bộ phận laođộng của công nhân không được trả công

- Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp:

Tư bản công nghiệp nhượng một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp bằng cách bán hàng hoá thấp hơn giá trị của nó, để rồi tư bản thương nghiệp bán hàng hoá theo đúng giá trị sẽ thu được khoản chênh lệch (hoa hồng).

( Giá cả < Giá trị ) - (Giá cả = Giá trị) = Ptn

dùng

Tư bản thương nghiệp

Tư bản

công

nghiệp

Trang 8

Việc nhượng giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp cũng diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân Nghĩa là, tư bản thương nghiệp cũng tham gia vào cạnh tranh giữa các ngành để thu được lợi nhuận bình quân cho mình

2 Lợi tức và tỷ suất

- Lợi tức chính là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà

tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định Ký hiệu là z.

Nguồn gốc của lợi tức cũng chính là từ giá trị thặng dư do công nhân làm thuê sáng tạo ra

từ trong lĩnh vực sản xuất Vì vậy,có thể khẳng định tư bản cho vay cũng gián tiếp bót lột công nhân làm thuê thông qua nhà tư bản đi vay

- Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong một thời gian nhất định Ký hiệu z’

z '=Kcv z x 100 %

Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung cầu về tư bản cho vay Thông thường giới hạn vận động của tỷ suất lợi tức là:

0 < z’ < p’

3 Địa tô:

a) Bản chất của địa tô:

Trong nông nghiệp, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân như các ngành khác, nhưng họ phải thuê ruộng đất của địa chủ để kinh doanh,

do vậy ngoài lợi nhuận bình quân họ phải thu được phần lợi nhuận siêu ngạch để trả cho nhà tư bản dưới hình thức địa tô Phần lợi nhuận siêu ngạch phải ổn định và lâu dài

Trang 9

Vậy: Địa tô TBCN là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản kinh doanh trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra, mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất.

Bản chất của địa tô TBCN là mối quan hệ bóc lột giá trị thặng dư giữa 3 giai cấp trong

đó, giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ cùng tham gia bóc lột giai cấp công nhân làm thuê trong nông nghiệp

a) Các hình thức địa tô TBCN:

- Địa tô chêch lệch:

Trong kinh doanh nông nghiệp, giá cả của hàng hoá nông phẩm được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất (độ màu mỡ xấu nhất, vị trí địa lý khó khăn nhất ), chứ không phải ở điều kiện trung bình như trong công nghiệp.Vì thế, nếu kinh doanh trên đất tốt hoặc trung bình sẽ có lợi nhuận siêu ngạch.Phần lợi nhuận siêu ngạch này tồn tại thường xuyên, tương đối ổn định và nó thuộc về người chủ ruộng đất (nhà tư bản phải trả cho địa chủ) gọi là địa tô chêch lệch

Vậy: Địa tô chêch lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chêch lệch giữa giá

cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá

cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.

Địa tô chêch lệch có hai loại: Địa tô chêch lệch I và địa tô chêch lệch II

+ Địa tô chêch lệch I: là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có những điều kiện tự nhiên thuận lợi, tức là có độ màu mỡ hay vị trí thuận lợi hơn

+ Địa tô chêch lệch II :là loại địa tô thu được gắn liền với thâm canh tăng năng suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích Trong thời hạn hợp đồng, lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm canh đem lại thuộc nhà tư bản kinh doanh ruộng đất Nhưng khi hết hợp đồng, địa chủ sẽ tìm cách nâng giá thuê ruộng đất lên, tức là biến địa

Trang 10

tô chêch lêch II thành địa tô chêch lêch I Tình trạng này dẫn đến mâu thuẫn: Nhà tư bản muốn kéo dài thời hạn thuê ruộng đất, ngược lại, địa chủ lại chỉ muốn cho thuê trong thời hạn ngắn Vì vậy trong thời hạn thuê đất nhà tư bản tìm mọi cách quay vòng sản xuất, tận dụng và vắt kiệt độ màu mỡ của đất đai Mác cho rằng lối kinh doanh TBCN trong nông nghiệp dẫn đến quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm xuống

- Địa tô tuyệt đối:

+ Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành bởi sự chêch lệch giữa giá trị nông sản và giá cả sản xuất chung Đây là loại địa tô mà nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ, bất kể ruộng đất tốt hay xấu

+ Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp

+ Nguyên nhân tồn tại của địa tô tuyệt đối là do chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranh để hình thành lợi nhuận bình quân

Vậy: Địa tô tuyệt đối là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu

cơ của tư bản trong công nghiệp, nó là số chênh lệch giữa giá trị nông sản phẩm và giá

cả sản suất chung.

V Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư:

1 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:

Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất

Ngày đăng: 12/03/2022, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w