Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam đã cho chúng ta thấy được quan niệm về con người của các tác giả trung đại.. Ví như, con người cá nhân với
Trang 1Đề bài: Cái mới trong quan niệm về con người thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX khảo sát qua tác phẩm “Chinh phụ ngâm”
I Khái quát chung:
Con người trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú Nó khác biệt với con người trong văn học dân gian Mỗi thể loại có một cách quan niệm và biểu hiện con người riêng nhưng vẫn có cái chung Có thể nói đến giai đoạn này văn học có những thay đổi lớn về tư tưởng, nhất là khi các nhà Nho có những tiến bộ trong quá trình nhận thức và nhìn nhận thế giới khách quan Các tác giả trung đại quan niệm về con người một cách chân thực, gần gũi và tôn trọng tính bản ngã hơn, đặc biệt là ở giai đoạn thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX Một trong số những đối tượng mà họ chú trọng đến là người phụ nữ cùng nội tâm cũng như sự đề cao giá trị của nữ giới trong nền văn hóa xã hội còn nhiều hà khắc Điều này được thể hiện hoàn toàn rõ nét trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn) – Đoàn Thị Điểm dịch Có thể nói, đây là một trong số những hiện tượng điển hình cho bước đột phá trong tư tưởng và quan niệm về con người trong dòng văn học giai đoạn thế kỉ XVIII – đầu XIX
II Cái mới trong quan niệm về con người thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX khảo sát qua tác phẩm “Chinh phụ ngâm”
1 Một số quan niệm về con người trong văn học thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX:
1.1 Con người vũ trụ
Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống Do đó, con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người Người phương Đông xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ"- thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân hợp nhất) Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài" Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở) Cho nên, quan niệm “Thiên – Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân tương cảm” cổ xưa ấy đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật Do đó thơ văn trung đại thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước trời đất Chẳng hạn, thi đề quen thuộc của
Trang 2thơ trữ tình trung đại chính là con người một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ Người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ:
“Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”
(Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời)
(Đăng Dung – Cảm Hoài)
Hay trong bài thơ Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), không gian nghệ thuật hiện lên là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng, mà trong đó, con người dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vươn lên ngang tầm và có khát vọng làm chủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên Tác giả đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tương xứng với kích thước của đất nước, của vũ trụ:
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng dũng nuốt sao Ngưu)
Ở bài Tự tình nổi tiếng của nữa sĩ Hồ Xuân Hương, hình tượng con người vũ trụ nổi bật rõ:
"Trơ cái hồng nhan với nước non"
Con người được đặt giữa không gian mênh mông của vũ trụ nhưng không hòa nhập vào không gian bao la rộng lớn ấy mà cô độc, lẻ loi một mình Nữ sĩ đưa từ
“trơ” ra đầu câu như để nhấn mạnh sự đối lập của một cá thể đơn lẻ với cả vũ trụ mênh mông, để gia tăng cảm giác cô đơn, quạnh vắng trong tâm hồn nhân vật trữ tình Khi bất đắc chí, đau đáu vì cuộc duyên không trọn, con người tìm về với thiên nhiên như trở về nguồn cội nhưng lại bắt gặp:
“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Thiên nhiên và lòng người vốn tương ứng tương cảm và có sự đồng điệu Thế nên con người đang đau đáu vì cuộc duyên không trọn vẹn thì vầng trăng kia cũng chỉ có thể là vầng trăng khuyết giữa trời đang dần xế bóng Chính vì vậy, ở đây, con người không xuất hiện với tư cách cá nhân Họ buồn không phải một cá nhân buồn, mà cả vũ trụ cũng buồn theo, đúng như Nguyễn Du
đã từng nói:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 1243-1244)
Đó là “con người vũ trụ” sống trong quy tắc “hô, ứng” Vui buồn của mỗi con người buộc cả vũ trụ chuyển động
Trang 3“Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 2795-2796)
Sự miêu tả gián tiếp trong thơ trung đại chính là bị sự chi phối của quan niệm
vũ trụ đó Con người không được miêu tả như một hiện tượng xã hội mà được như
là một bộ phận của thiên nhiên, của vũ trụ Chẳng hạn như khi nói sự bình phục của Kiều, thì Nguyễn Du viết:
“ Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 1191)
về tình yêu của từ Hải và Kiều, thì:
“ Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 2211,2212)
Ngoài ra, do quan niệm vũ trụ trong văn học ta bắt nguồn từ rất xa xôi, gắn liền với những quan niệm thần bí, tướng số Cho nên, đặc biệt đối với những nhân vật xuất chúng, tác giả thường miêu tả thành những con người dị tướng, phi thường, hun đúc một sức mạnh nào đó của vũ trụ Đó là những con người “chịu mệnh trời” Từ Hải chính là nhân vật được Nguyễn Du xây dựng dựa trên quan niệm này:
“Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tất rộng thân mười thước cao”
(Câu 2168-2169)
Đây là con người mà chí khí và tài năng được đo bằng chiều kích của vũ trụ Bởi thế, nói đến Từ Hải, người đọc như thấy hiện rõ trước mắt mình một hình ảnh cao rộng của trời đất và vũ trụ
Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam đã cho chúng ta thấy được quan niệm về con người của các tác giả trung đại Con người đó là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn vũ trụ, thiên nhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây, muông… với cái đạo vững bền, sâu thẳm của nó Đây là nét khu biệt không thể lẫn so với các kiểu con người trong các thời kì sau của văn học
I.2 Con người đạo đức
Toàn bộ xã hội trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức Cho nên, con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lí Vì thế, văn chương xưa chia xã hội thành hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu với mục đích, chức năng nổi bật là giáo huấn:
“Trai thời trung hiếu làm đầu
Trang 4Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.”
(Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên)
Chính vì vậy, con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí trí thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những luân lí trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách
Bên cạnh đó, con người trong văn học trung đại còn là con người của tấm lòng, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng của họ Bởi vậy, cái có giá trị nhất của con người thuộc về tấm lòng, muốn đánh giá về một con người là xem tấm lòng của họ như thế nào Trong Truyện Kiều, để “tỏ lòng” hiếu thảo, Kiều đã bán mình chuộc cha Đó là một hành động phi thường, trên thực tế nàng có thể vay tiền chuộc cha, nhưng như thế thì quá bình thường Tương tự, Kiều Nguyệt Nga cũng thể hiện tấm lòng trinh liệt của mình khi ôm bức chân dung Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn
Như vậy, sự “tỏ lòng” là rất quan trọng trong văn học trung đại Chính nó đã làm cho hệ thống sự kiện trở nên gay gắt, căng thẳng hơn chứ không hề xây dựng được cốt truyện đơn thuần trên những việc bình thường hàng ngày Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, vào thế kỷ thứ XV, là một nhà quân sự thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc Trong tác phẩm Gia huấn
ca, ông đã đề cao đạo đức luân lí trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội Đạo hiếu được nhấn mạnh rất rõ:
“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy
Đừng tranh giành bên ấy, bên này
Cù Lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.”
Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:
“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
Người đà vô sự ta thì an tâm”
Trong truyện Nôm, các nhân vật luôn luôn bày tỏ tấm lòng rất rõ rệt Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau Trong Truyền kỳ mạn lục hình tượng con người đạo đức cũng được xuất hiện, có thể kể đến nhân Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Với hình ảnh người trí thức Tử Văn
có tính tình cương trực, dũng cảm “thấy sự gian tà thì không chịu được” Nguyễn
Dữ hướng đến đề cao con người của công lý, chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làm hại nhân dân
Trang 5Tóm lại, cùng với con người vũ trụ, hình tượng con người đạo đức cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại Qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thộng nhân vật của một thời kỳ văn học
I.3 Con người đấng bậc
Cùng với mô hình con người vũ trụ và con người đạo đức là thái độ tôn xưng với những con người tài tình, phân biệt với những người khác Trong văn học trung đại còn tồn tại một quan niệm khác về con người đó là quan niệm về con người đấng bậc Điều này được thể hiện rõ nét nhất là trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Cách miêu tả của Nguyễn Du chịu sự chi phối của quan niệm đấng bậc về con người Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng, Thúy Kiều, Từ Hải là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng Họ là “đấng tài hoa” (Đạm Tiên); “bậc tài danh” (Kim Trọng); “bậc bố kinh” (Thúy Kiều); “đấng anh hùng” (Từ Hải) Đối với những nhân vật ấy, tác giả dành cho những lời trang trọng, tượng trưng Còn bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh là bọn vô loài, bọn chúng không có mẫu mực gì cả, mỗi đứa một vẻ, đều là “tuồng” vô lại Bọn chúng được miêu tả theo đặc tính thực tế về nghề nghiệp cá nhân theo kiểu “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”, hoặc: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”… rất hiện thực Như vậy, con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du rất độc đáo, theo kiểu phương Đông Cách “quan niệm về con người” này chi phối một giai đoạn rất dài của Văn học Việt Nam gần mười thế kỷ
I.4 Con người có ý thức cá nhân
Con người cá nhân trong văn học chính là sự phản ánh cái tôi, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả Nói cách khác, con người
cá nhân trong văn học chính là sự tự khắc họa tâm tư, tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà họ sáng tác Tùy theo từng giai đoạn, thời kỳ văn học, mà con người cá nhân có những đặc điểm khác nhau Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể hiện ở mức độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau Cụ thể, ý thức về con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn với những hình thái khác nhau Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ bản con người cá nhân được “khẳng định trên bình diện tinh thần, như một thực thể tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tu dưỡng, lựa chọn xuất xử, hoàn thiện nhân cách, tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối lập với thói tục Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn
Trang 6mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng Yếu tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX,
“con người trong văn học đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên” Ví như, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng (thơ Hồ Xuân Hương); con người với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u uẩn (thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ); con người thể hiện cảm hứng sống ẩn dật, hành lạc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng); con người với tình yêu lứa đôi, hạnh phúc, khát vọng nhu cầu trần thế (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục); Con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn (Chinh phụ ngâm), Con người
cá nhân công danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ (thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát); Con người cá nhân giải thoát bằng hưởng lạc (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX), Con người cá nhân trống rỗng, mất hết ý nghĩa (thơ Nguyễn Khuyến,…
Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh
mẽ Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống
2 Cái mới trong quan niệm về con người trong văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỉ XIX:
Văn học là một dòng chảy không ngừng, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn đều
có những tư tưởng tiến bộ, những cá thể dị biệt khác thường so với hệ thống cũ Bên cạnh những tư tưởng mang tính mẫu số chung như trên thì văn học giai đoạn này có những ý thức hệ mới xuất hiện như một cuộc quy hồi và chuyển giao Trong văn học trung đại Việt Nam, người phụ nữ chỉ chiếm một vị trí hết sức khiêm tốn Hầu như chỉ tới giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX người ta mới bắt đầu nghe thấy giọng nói của phái nữ cất lên, tuy không phải là quá đông đảo nhưng cũng đủ hợp thành một khuynh hướng trong thơ ca Và, thú vị hơn cả là hầu hết những tác phẩm đó lại có tác quyền rõ ràng (hoặc không rõ ràng) thuộc về nam giới Một trong số những tác phẩm đi đầu cho xu trào này chính là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Trong đó, nhà thơ nam giới mượn giọng nhân vật nữ để bày tỏ những ngụ ý phê phán chính trị và những quan điểm nhân sinh phi chính thống chuyên chú ở con người cá nhân Với những tác phẩm viết theo khuynh
Trang 7hướng này, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện một bộ phận văn chương nằm “ngoài lề” những vấn đề quốc gia đại sự, mục đích giáo huấn hoặc phô diễn đạo đức, và đặc biệt là được nói bằng giọng của người phụ nữ
2.1 Quan niệm về con người và văn hóa giới:
2.1.1 Giới – biểu hiện đầu tiên của con người
Giới được xem là biểu hiện đầu tiên của con người Trong quan niệm văn học, “giới” bao gồm 2 ý nghĩa: “sex” và “gender” “Sex” (tính, mang tính chất tự nhiên, bẩm sinh) là sự quy định của quy luật tiến hóa tự nhiên dựa trên thuyết tiến hóa của Đác – uyn và lẽ tất yếu, nó không thể thay đổi trong suốt quá trình con người tồn tại Xét về mặt nghĩa này, giới chia ra làm 2 tính: nữ tính và nam tính
Nữ tính (feminity) là những phẩm chất được xem là đặc trưng cho phụ nữ trong một nền văn hóa của một giai đoạn lịch sử nào đó Theo nghiên cứu của nhiều học giả về giới trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, nữ tính thường được gắn với sự tái sản sinh ra sự sống (sinh nở) và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng như thiên chức làm mẹ, sinh đẻ, sự nhã nhặn, dịu dàng, trực giác nhạy bén, tính sáng tạo, chu kỳ sinh học của cuộc sống Nữ tính không xuất hiện và tồn tại độc lập mà dựa trên tương quan với định nghĩa và quan niệm về nam tính (masculinity) Nam tính được hiểu như một phản đề của nữ tính và ngược lại Nghĩa là, là một người đàn ông thì không giống như là một người phụ nữ Do đó, nam tính được đánh giá dựa trên những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực xã hội hơn là trong gia đình và chức năng sinh học như nữ tính
Nghĩa thứ hai, giới là “Gender”, nói các khác là “giới tính”, hiểu theo nghĩa này có nghĩa đã bao gồm màu sắc văn hóa xã hội Điều này hoàn toàn đồng tâm với quan niệm “Người ta sinh ra không phải sẵn là người phụ nữ mà người ta trở thành phụ nữ” Một con người khi sinh ra đã mang sẵn yếu tố “sex” nhưng trong quá trình tiếp nhận tri thức và phát triển về ý thức, văn hóa xã hội tác động hai chiều và giúp con người điều chỉnh hành vi của mình Cả nam tính và nữ tính đều
là những tập hợp các biểu hiện đặc trưng về giới được tạo dựng, phố biến, thể chế hóa trong một nền văn hóa, một thời kỳ lịch sử nhất định Trong cơ sở hình thành nên nam tính và nữ tính, những yếu tố sinh học tuy cũng đóng một vai trò không nhỏ nhưng quan trọng hơn cả là vị trí có tính tương quan của hai giới trong hệ thống chính trị - xã hội - kinh tế - văn hóa Vì thế, nam tính và nữ tính không phải
Trang 8là những giá trị “nhất thành bất biến” mà có tính lịch sử, tính khu vực Chúng vừa
là những qui ước xã hội về giới áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài vừa là ý thức và cách ứng xử theo giới của chính họ
2.1.2: Quyền diễn ngôn của người phụ nữ
Quan niệm giới là cơ sở hình thành một luồng quan niệm hoàn toàn mới trong quá trình sáng tác văn học trung đại: “the male gaze” – nam giới thay mặt diễn ngôn Cái nhìn đàn ông là một lý thuyết điện ảnh xuất phát từ lý thuyết về
“Cái nhìn” (gaze) vốn là thuật ngữ của phân tâm học được phổ biến rộng rãi bởi Jacques Lacan Lý thuyết này cho rằng khi người ta nhìn vào một đồ vật, người ta không chỉ nhìn bản thân đồ vật đó mà còn đang nhìn cả mối liên hệ giữa nó và chính họ Ví dụ như trong hội họa, người phụ nữ khoả thân luôn được vẽ trong tư thế bất động, thường là đang nằm ngả người, hoặc thậm chí đôi khi còn đang ngắm nhìn và ngưỡng mộ hình ảnh của chính mình trong một tấm gương – tất cả những chi tiết này đều nhằm nuôi dưỡng ý thức về bản ngã và quyền sở hữu của người xem kiêm chủ sở hữu.Dựa trên lý thuyết về “cái nhìn”, Laura Mulvey đã đưa ra khái niêṃ “Cái nhìn của đàn ông” (male gaze) như là một đặc trưng về sự bất cân xứng về quyền lực
Thuật ngữ “ventriloquism” vốn có nghĩa là kĩ thuật nói giọng bụng, tức là một người đang nói đánh lừa người nghe như thể tiếng nói của mình đang phát ra
từ một vật hay người khác, ví dụ như trong sân khấu kịch sử dụng các con rối được điều khiển bằng các diễn viên đứng sau tấm màn sân khấu Thuật ngữ này được vay mượn bởi một số nhà lí luận văn học dùng để đặt tên cho hiện tượng tác giả (thường là nam giới) mượn giọng nhân vật (người hoặc con/ đồ vật) để gián tiếp nói ra những suy nghĩ, quan điểm của bản thân mình Tuy nhiên, dù vô tình hay hữu ý, anh ta vẫn để lộ mình qua những phát ngôn của nhân vật thể hiện ý thức của bản thân anh ta về sự phân biệt giới.Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này chính là bởi sự áp đặt ý thức phân biệt về giới lên nam và nữ trong xã hội khiến các nhà thơ nam giới phải giả trang thông qua giọng nói nhân vật nữ nhằm đương đầu với sự hạn hẹp của những ranh giới tù túng của những định nghĩa về giới tính
Hiện tượng mượn giọng người phụ nữ để diễn ngôn dựa trên cái nhìn của người đàn ông là một quan niệm mới mẻ mà trước đây chưa từng xuất hiện, hoặc nếu có thì chỉ dừng lại ở mức mờ nhạt Trong lịch sử Việt Nam có rất nhiều cuộc
Trang 9chiến tranh nhưng tiếng nói than thở số phận người phụ nữ chờ đợi chồng rất hiếm hoi Xã hội Nho giáo hóa, người phụ nữ được văn hóa nhà Nho định hình theo hướng cam chịu, im lặng và giấu kín tâm tư của mình, nhất là những ý nghĩ dục tính thường bị bỏ qua, ngay cả đến những nhà thơ nữ thì khía cạnh này cũng rất ít khi bộc lộ Ngược lại, nam giới được quyền tự do diễn ngôn, vì vậy đến một thời điểm lịch sử nào đó các nhà thơ nam phải giúp người phụ nữ nói lên “sự thật tâm hồn” Đây chính là quá trình tất yếu của dòng chảy văn học, và cũng là kết quả nhận thức của “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn) Với những nét mới mẻ và tiến
bộ đó mà hiện tượng này không chỉ khởi sắc, nở rộ trong nền văn học giai đoạn này mà còn kéo dài sang cả văn học những năm đầu thế kỷ XX
Để phát biểu những quan điểm mới, trái với những tín điều đạo đức của Nho giáo chính thống, các tác giả nhà nho mới phải viện đến cách “ngụy trang” đã có tiền lệ hiển nhiên từ trong văn học Trung Quốc Việc mượn giọng nữ giới chính là
cơ hội để tác giả nam giới thoát ra khỏi những ranh giới gò bó về nam tính – nữ tính mà xã hội áp đặt lên họ, để họ được bày tỏ những gì mà họ bị cấm với tư cách
là một người đàn ông Đồng thời, cách làm đó lại làm cho hình ảnh người phụ nữ với những đặc trưng nữ tính vừa truyền thống (nằm trong khuôn khổ “tàm tòng”,
“tứ đức”) vừa mới mẻ (có các yếu tố thường bị phê phán trong văn học giai đoạn trước như “sắc”, “tình”) được ca ngợi và bênh vực công khai, tuy có bị biến dạng bởi sự thiếu trải nghiệm nữ giới và ảnh hưởng của tư tưởng phụ quyền còn nặng nề
ở tác giả
2.1.3 Quan niệm “trinh tiết” thể hiện đậm đặc xã hội nam quyền: Vấn đề “trinh tiết” là một trong số những vấn đề cơ bản và chung nhất của
xã hội phương Đông, chỉ áp dụng đối với người phụ nữ Đây là vấn đề thể hiện rõ nhất sự bất bình đẳng về giới và văn hóa ứng xử với giới trong xã hội phong kiến
Trong văn học trung đại Việt Nam có xu hướng bộc lộ quan niệm nghiệt ngã của nhà Nho về trinh tiết Nguyễn Trãi đã từng viết: “Sắc là giặc, đam làm chi”, ông hoàn toàn lên án xu hướng, lối sống buông thả bản thân, đam mê sắc đẹp cũng như đề cao mẫu hình người phụ nữ điển hình – luôn đặt chữ “trinh” lên đầu Tuy nhiên, trải qua thời gian, văn học trung đại cũng có những nét chuyển biến mới và cái nhìn của nhà Nho từng bước khách quan, tiến bộ Nó thể hiện ở chỗ, vào thời Nguyễn Dữ, vấn đề ham muốn bản năng tính dục của con người mà nhất là người
Trang 10phụ nữ đã được đề cập đến một cách trực tiếp thông qua “Truyền kì mạn lục”, tuy nhiên mặc dù có sự tiến bộ trong tư tưởng và lối suy nghĩ về nữ giới nhưng những nhân vật nữ dám chủ động trong chuyện “chăn gối” thường bị coi là ma quỷ, không chính thuận (Chuyện cây gạo, Chuyện kì ngộ ở trại tây, ) Về điểm này, xét đến giai đoạn đó, quan niệm về con người mà cụ thể là người phụ nữ đã có những nét mới mẻ ở mức nhất định
Bên cạnh những người phụ nữ không chính chuyên, các tác giả trung đại thế
kỉ XVIII thường xây dựng mô típ nhân vật “liệt nữ” – hình tượng người phụ nữ có thể hi sinh bản thân để bảo vệ trinh tiết Một lần nữa, quan niệm về con người gần như đồng tâm với những quan niệm trước đó, thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc về giới trong văn học và trong xã hội đương thời Một trong những tử số của mẫu số chung của trường hợp này là “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ), nhân vật Vũ Nương để bảo toàn trinh tiết đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang
Rõ ràng, đến giai đoạn này, mặc dù đã có những bước đầu manh nha quan niệm mới về giới và cách ứng xử với giới của các nhà Nho nhưng nó vẫn dừng lại ở một mức độ thấp
Tuy vậy, vẫn có những “hiện tượng” điển hình đề cập đến tính giới, tính dục trong các sáng tác của mình – Hồ Xuân Hương Thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp khéo léo giữa nữ tính, dục tính và cũng là nhà thơ nữ hiếm hoi trực diện bày tỏ quan điểm của bản thân về giới và tâm tư người phụ nữ Có thể nói, Hồ Xuân Hương là một “nguyên tố hiếm” của văn học giai đoạn này mà ít có cơ hội lịch sử
có thể lặp lại Tuy nhiên, vì vấn đề diễn ngôn của người phụ nữ chưa thực sự phổ biến nên quan niệm về giới cũng như văn hóa giới bộc lộ từ phía người phụ nữ chưa trở thành một trào lưu sâu rộng mà chỉ có những đóng góp của Hồ Xuân Hương là điển hình Như vậy, đến giai đoạn này, con người, nhất là người phụ nữ
đã được quan niệm về giới thực sự rõ ràng và chân thực
Xét trong giai đoạn văn học cuối XIX – đầu XX mà điển hình là “Chinh phụ ngâm”, vấn đề trinh tiết tuy vẫn còn ẩn hiện nhưng nó không còn chiếm “vị trí độc tôn” trong một tác phẩm viết về người phụ nữ và những phẩm chất của họ Tác giả Đặng Trần Côn đưa ra một quan niệm mới: người phụ nữ không thể luôn vì trinh tiết mà quyên sinh, họ có quyền bình đẳng như nhau với nam giới trong chuyện
“chăn gối” và có quyền bộc lộ những tâm tư, tình cảm đó! Điều đó hoàn toàn đồng nghĩa với việc, tác giả nhìn nhận, quan niệm rõ ràng về giới và có cách ứng xử