Các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông đã có các chương trình, sản phẩm tuyên truyền, phổ biến vấn đề biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường thực sự gần gũi với nhân dân.. Xuất phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các nội dung trong 15 chương trình Cuộc sống xanh từ tháng 1 – tháng 3/2018
Biểu đồ 2.2: Đồng hồ thời lượng chương trình Cuộc sống xanh 10 phút
Biểu đồ 2.3: Thống kê số lượng góc tiết mục trong chương trình Cuộc sống xanh từ tháng 1 – tháng 3/2018
Biểu đồ 2.4: Mức độ đánh giá ngôn ngữ trong chương trình môi trường và biến đổi khí hậu
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ thể hiện mong muốn của thính giả về thời lượng chương trình môi trường và biến đổi khí hậu
Biểu đồ 2.6: Mức độ áp dụng thông tin trong chương trình môi trường và biến đổi khí hậu vào cuộc sống
Biểu đồ 3.1 Thể hiện mong muốn của thính giả về chủ đề trong chương trình môi trường và biến đổi khí hậu
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ mức độ phản ánh thông tin của chương trình Cuộc sống xanh từ tháng 1 – tháng 3/2018
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 10 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, THÔNG TIN VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 10 1.2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu 18 1.3.Báo phát thanh với vấn đề thông tin về môi trường biến đổi khí hậu 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN KÊNH VOV2 – ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 42
2.1 Tổng quan về Kênh VOV2 và chương trình “Cuộc sống xanh” 42 2.2 Khảo sát thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trong chương trình Cuộc sống xanh, kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THÔNG TIN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN KÊNH VOV2, ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 117
3.1 Những vấn đề đặt ra 117 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam 119
KẾT LUẬN 144 PHỤ LỤC 153
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường (MT) trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đến công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới bị tổn thương nhất do nước biển dâng
Đảng, Nhà nước và các ban ngành có liên quan đã ban hành các chính sách, điều lệ nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, các chính sách đó chưa thực sự hiệu quả và đi vào trong cuộc sống của nhân dân Báo chí, với vai trò quan trọng của mình trong việc cung cấp và chuyển tải thông tin góp phần trong nhiệm
vụ quan trọng đó Các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông đã có các chương trình, sản phẩm tuyên truyền, phổ biến vấn đề biến đổi khí hậu và bảo
vệ môi trường thực sự gần gũi với nhân dân
Báo chí đã tạo nên kênh thông tin đa dạng, góc nhìn tiếp cận nhiều chiều đối với các vấn đề môi trường và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống
và sản xuất của nhân dân Từ các hoạt động của báo chí, các chính sách của Nhà nước đã đi vào đời sống nhân dân, góp phần thay đổi nhận thức và hành động của người dân Cụm từ “biến đổi khí hậu”, “bảo vệ môi trường” đã không còn là câu chuyện của mỗi cá nhân, đó là câu chuyện của toàn xã hội
Trang 7khí hậu Nếu như báo in truyền tải bằng chữ viết với những bài bình luận chuyên sâu, những bài phỏng ánh in đậm trên từng con chữ; báo truyền hình, báo mạng chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh chân thật cung cấp cho khán giả góc nhìn toàn cảnh nhất, thì báo phát thanh với ngôn ngữ âm thanh tổng hợp cùng tính thời sự cao lại có những thế mạnh riêng trong việc tiếp cận thính giả
Trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) hiện nay, có nhiều chương trình tiếp cận chủ đề môi trường và biến đổi khí hậu Trong số đó phải kể đến: chương trình Môi trường và phát triển (kênh VOV1), chương trình Cuộc sống xanh (kênh VOV2) Có thể nhận thấy, đây là chủ đề nóng và nếu được tiếp cận, đầu tư xây dựng sẽ đạt được hiệu quả thông tin cao và đưa chương trình gần gũi với thính giả
Xuất phát từ sự quan tâm những sự kiện nóng của xã hội về môi trường
và thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay, cùng với sự phù hợp về chuyên ngành học, tôi lựa chọn đề tài: “Thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2 - Đài Tiếng nói Việt Nam” (Khảo sát chương trình Cuộc sống xanh từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 3 năm 2018) làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp báo chí của mình Tác giả mong rằng, thông qua việc theo dõi, khảo sát và nghiên cứu về đề tài này, tôi sẽ mang đến một cái nhìn tổng quan về cách thức, các phương pháp, hiệu quả và những biện pháp nâng cao hiệu quả truyền thông của các chương trình truyền thông về môi trường và biến đổi khí hậu trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề biến đổi khí hậu lần đầu tiên được nêu trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào năm 1930 Đây được đặt ra là một vấn đề quan trọng không chỉ của riêng quốc gia nào, mà là vấn đề của toàn nhân loại, cho nên giải pháp nghiên cứu truyền thông đưa tin về biến đổi khí hậu cũng được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm
Trang 8Hiện nay, những đề tài nghiên cứu thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu vô cùng đa dạng về nội dung, cách thức tiếp cận, góc độ nghiên cứu… Những công trình nghiên cứu đó là: Những giáo trình và những bài viết chuyên sâu đề cập đến thực trạng thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên một loại hình báo chí cụ thể, những luận văn, luận án nghiên cứu về báo phát thanh và các chuyên đề của báo phát thanh
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như:
- Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông phòng ngừa thiên tai – Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
(2013), Sổ tay “Tuyên truyền biến đổi khí hậu”, NXB Tài nguyên môi trường
và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội Cuốn sổ tay đã giới thiệu những kiến thức cơ bản nhất về thời tiết, khí hậu, biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên tai thường gặp; các biện pháp và chỉ rõ trách nhiệm của cộng đồng dân cư với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
- Cuốn sách: “Bối cảnh truyền thông về biến đổi khí hậu đăng tải trên phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam” của TS Lưu Hồng Minh và
Sonja Schirmbeck đồng chủ biên, khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản
- Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng trung ương (2013), “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội Cuốn sách đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia phân tích về thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam, trong đó có bài viết đã chỉ ra thực trạng và đưa ra những giải pháp chủ yếu cho công tác thông tin, tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên, môi trường ở nước ta hiện nay
Trang 9tư tưởng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong luận văn, tác giả Quốc Việt chủ yếu nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân của biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Thọ, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo tuyên truyền về mặt tư tưởng cho người dân, đặc biệt đối với thành phố Việt Trì Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền thông tin về BĐKH cho nhân dân
- Lê Thế Biên (2015), “Thông tin, tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh của Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Hà Giang” (Khảo sát
từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2015), Học viện Báo chí và Tuyên truyền Cuốn luận văn đã nêu ra những vấn đề của quá trình thông tin về biến đổi khí hậu, các giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang Như vậy, nghiên cứu này mới dừng ở một đài cấp tỉnh, chưa có nghiên cứu thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu ở đài truyền thanh quốc gia
- Lê Kim Hậu (2015), “Tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau hiện nay” (Khảo sát năm 2014), Luận văn
thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã sử dụng những lý luận về thực trạng tuyên truyền về biến đổi ở đài truyền thanh cấp huyện của tỉnh Cà Mau, các vấn đề cấp bách được đặt ra tại địa phương và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tuyên truyền chống biến đổi khí hậu
ở các đài truyền thanh huyện Luận văn đã đề cập đến vấn đề tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh, tuy nhiên dừng ở mức độ cấp huyện với những vấn đề mang tính địa phương cao Những giải pháp đề xuất cụ thể ở cấp độ quốc gia và các vấn đề mang tính đại chúng cao chưa được thông tin trong luận văn
- Nguyễn Thị Xuân Nguyên (2015), “Nhận thức và nhu cầu thông tin về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng hiện nay”,
Trang 10Luận văn thạc sĩ báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2015 Tác giả Xuân Nguyên đã nghiên cứu về nhận thức, nhu cầu thông tin và biến đổi khí hậu của đội ngũ giảng viên, sinh viên ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc,
từ đó đưa ra những nhu cầu từ thực tiễn của công chúng đối với báo chí về vấn đề biến đổi khí hậu
- Nguyễn Thị Thanh Thảo (2015), “Truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay” (khảo sát năm 2014), Luận
văn thạc sĩ báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Cuốn luận văn đã phân tích các chương trình đề tài biến đổi khí hậu trên các kênh truyền hình của các tỉnh Tây Nam Bộ: Đài phát thanh – truyền hình Sóc Trăng, đài phát thanh – truyền hình Trà Vinh, đài phát thanh – truyền hình An Giang Từ đó, luận văn đưa ra nhu cầu của công chúng với đề tài biến đổi khí hậu, đồng thời
có những kiến nghị với lãnh đạo và giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông Luận văn mới đề cập đến loại hình truyền tải là báo truyền hình, chưa nhắc đến các loại hình báo chí khác Trong luận văn cũng chưa chỉ rõ những yếu tố thuận lợi, khó khăn khi thực hiện truyền thông về biến đổi khí hậu trong quá trình tác nghiệp của nhà báo
- Hoàng Thị Kim Quý (2016), “Vấn đề biến đổi khí trên báo mạng điện
tử nước ngoài hiện nay” (khảo sát các báo: Washington Post, The Guardian,
và China Daily từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2016), Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tác giả Kim Quý đã nghiên cứu và nêu ra thực trạng thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu trên các trang báo mạng điện tử nước ngoài Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được những bài học kinh nghiệm cho nhà báo Việt Nam khi truyền thông về biến đổi khí hậu từ những thành công của các trang báo mạng điện tử nước ngoài
Ngoài ra, còn có một số tham luận, bài viết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, như:
- Các dự án nghiên cứu về truyền thông với biến đổi khí hậu: “Truyền
Trang 11quốc tế “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” của PGS,
TS Phạm Huy Kỳ đã định hướng cho các nhà khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu về vai trò của truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu, đưa ra các giải pháp để truyền thông đại chúng Việt Nam phát huy hiệu quả tuyên truyền, định hướng dư luận và dự báo tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
- Tham luận của TS Đỗ Chí Nghĩa tại Hội thảo quốc tế “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” đã khảo sát chương trình thời sự
của Đài Truyền hình tỉnh Vĩnh Loang và Đài Truyền hình Việt Nam Tham luận đã chỉ ra ưu điểm và hạn chế của truyền hình trong thông tin về biến đổi khí hậu hiện nay Từ những nghiên cứu đó đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả thông tin về biến đổi khí hậu trên báo truyền hình
Tất cả những tài liệu trên là nguồn tư liệu cho tác giả để xây dựng khung lý thuyết đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu Các tác phẩm, đề tài nghiên cứu đã chỉ ra những khía cạnh, góc độ tiếp cận của truyền thông đại chúng với vấn đề biến đổi khí hậu Tuy nhiên, các nhà khoa học, nhà báo mới chỉ đề cập đến những vấn đề của truyền thông về môi trường và biến đổi khí hậu nói chung, truyền thông về môi trường ở một số cơ quan báo chí địa phương, những góc độ phản ánh thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu
ở đài truyền thanh cấp cơ sở Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
về thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên sóng Đài TNVN Trong khi đó, phát thanh nói chung và Đài TNVN nói riêng được đánh giá là có những thế mạnh riêng trong truyền tải thông tin về môi trường biến đổi khí hậu bởi thông tin nhanh, phủ sóng rộng và sử dụng âm thanh tổng hợp mang lại hiệu quả thông tin cao Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của khóa luận không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn tìm hiểu thực trạng thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói
Trang 12Việt Nam trên các mặt: nội dung và hình thức Thông qua việc tìm hiểu đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu, đề xuất những giải pháp để thông tin có hiệu quả và nâng cao chất lượng các chương trình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục đích đã đặt ra của khóa luận, cần đạt được các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Chỉ ra được các nội dung thông tin, hình thức thông tin trong chương trình Cuộc sống xanh, kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam
- Chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế trong quá trình thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu của chương trình Cuộc sống xanh nói riêng và Đài Tiếng nói Việt Nam nói chung
- Trên cơ sở thông tin nghiên cứu về các ưu điểm và hạn chế, tìm ra những giải pháp, kiến nghị để các chương trình về môi trường và biến đổi khí hậu thông tin hiệu quả, hấp dẫn, được thính giả tin tưởng và yêu thích
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu những tài liệu về môi trường và biến
đổi khí hậu, truyền thông về bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu; nghiên cứu những tài liệu về báo phát thanh, chương trình phát thanh tại kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam ; tài liệu nghiên cứu về truyền thông về môi
trường trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá: từ việc khảo sát thực tiễn
chương trình Cuộc sống xanh, tác giả sử dụng những phương pháp: phân tích, tổng hợp, đánh giá để tổng kết và rút ra thực trạng truyền thông trên kênh
VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam về môi trường và biến đổi khí hậu
- Phỏng vấn sâu: tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với
những nhà báo, biên tập viên trực tiếp sản xuất và thực hiện chương trình Cuộc sống xanh, các nhà báo viết về đề tài môi trường nhằm lấy ý kiến nhận xét, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện tác phẩm, truyền thông đến thính giả, những nhu cầu và mong muốn của họ để nâng cao
hiệu quả và chất lượng chương trình
- Điều tra bằng bảng hỏi: điều tra thính giả qua bảng hỏi (100 phiếu
điều tra) để biết được đánh giá của họ về chương trình Cuộc sống xanh trên kênh VOV2 mà tác giả thực hiện khảo sát, nhu cầu của họ đối với việc truyền
thông về môi trường và biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh
6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận của đề tài: trên cơ sở khảo sát thực tiễn, khóa luận góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý thuyết về cách thức xây dựng và thực hiện một chương trình chuyên đề về môi trường trên sóng phát thanh
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: tác giả hy vọng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của các chương trình truyền thông về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay, đặc biệt đối với chương trình Cuộc sống xanh, các
Trang 14biện pháp cũng như đề xuất, kiến nghị giúp cho những người thực hiện chương trình có thể tham khảo để cải thiện, nâng cao chất lượng chương trình
Đề tài cũng có thể được sử dụng để tham khảo cho các bạn sinh viên cùng chuyên ngành phát thanh muốn tìm hiểu về các chương trình chuyên đề về môi trường trên kênh VOV2 nói riêng và trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam nói chung
7 Kết cấu khóa luận
Trong khóa luận này, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của khóa luận được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận – thực tiễn của vấn đề thông tin về môi trường
và biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh
Chương 2: Thực trạng thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, THÔNG TIN VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Môi trường
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về môi trường Trong cuốn
Môi trường và con người, NXB Giáo dục năm 1997, tác giả Mai Đình Yên
đưa ra khái niệm về môi trường: “Môi trường là một khái niệm gắn liền với
sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống Nói cách khác, môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của sinh vật Như vậy, những yếu tố cấu trúc nên môi trường như ánh sáng, nhiệt độ,… được gọi là yếu tố môi trường Nếu xét tác động của chúng lên đời sống sinh vật cụ thể gọi là yếu tố sinh thái.” [36, tr 13]
Trong cuốn Môi trường sinh thái: vấn đề và giải pháp, tác giả Phạm
Thị Ngọc Trâm cho rằng: “Môi trường là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu
cơ có liên quan đến sự tồn tại của cơ thể sống.” [31, tr 11]
Cũng đưa ra một khái niệm ngắn gọn về môi trường, Hà Thị Thành và
Hà Thị Minh Thu trong cuốn Môi trường và Phát triển bền vững nêu: “Môi
trường là tất cả các yếu tố tự nhiên – xã hội xung quanh sinh vật có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mọi sinh vật.” [29, tr.20]
Trong Luận văn thạc sĩ Báo chí học, tác giả Thái Hoàng Sơn cho rằng:
“Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.” [27, tr 12]
Trang 16Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29 tháng 11 năm
2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
của môi trường:
- Bản chất hệ thống của môi trường
- Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người
Tuy nhiên, trong định nghĩa chưa nêu rõ vai trò của con người với môi trường, từ đó chưa nêu được hướng giải quyết môi trường từ phía con người
Vì vậy cần bổ sung thêm yếu tố hoạt động và ứng xử của con người đối với môi trường
Thành phần môi trường là các yếu tổ vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác
Điều 1 Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 xác định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và của thiên nhiên”
Như vậy, chúng ta có thể thấy môi trường không chỉ là các yếu tố tự nhiên hiện hữu ở xung quanh trên Trái Đất như nước, không khí, đất, rừng, các tài nguyên thiên nhiên… mà bao gồm cả những yếu tố nhân tạo do chính
sự sinh tồn và hoạt động sản xuất của con người tạo ra Giữa môi trường và con người có quan hệ và tác động qua lại với nhau Môi trường cung cấp
Trang 17khai thác tài nguyên rừng phục vụ cho nhu cầu, sau đó quay trở lại trồng cây gây rừng thì đó là tác động tích cực; nếu cứ khai thác và không có hoạt động phục hồi sẽ là tác động tiêu cực với môi trường Không có cây xanh, không có
sự quang hợp, môi trường trở nên ô nhiễm và các hiện tượng mưa, lũ diễn biến phức tạp hơn, ảnh hưởng đến tính mạng con người và tài sản của họ Các khái niệm về môi trường đều chỉ rõ mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại giữa môi trường và con người
Có thể thấy môi trường là một khái niệm rất rộng bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Môi trường tự nhiên được hiểu là bao gồm tất cả các sinh vật sống và không sống xảy ra tự nhiên trên Trái đất Khái niệm về môi trường tự nhiên
có thể được phân biệt bởi các thành phần: đơn vị sinh thái đầy đủ chức năng như hệ thống tự nhiên mà không có sự can thiệp của con người, bao gồm tất
cả các thảm thực vật, vi sinh vật, đất đá, không khí và các hiện tượng tự nhiên; tài nguyên thiên nhiên và các hiện tượng vật lý mà không có ranh giới
rõ ràng, chẳng hạn như không khí, nước và khí hậu, bức xạ, năng lượng, điện tích và từ tính không có nguồn gốc từ hoạt động con người
Môi trường xã hội được hiểu là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao, lịch sử… xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình [27, tr 11]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ phân tích và nghiên cứu về môi trường tự nhiên
Một số vấn đề về môi trường hiện nay:
Hiện nay, loài người đang đứng trước những áp lực lớn mang tính toàn cầu Đó là nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt, suy thoái; trong khi dân
số trên thế giới ngày một gia tăng một cách nhanh chóng (mỗi năm thế giới có thêm gần 90 triệu người), quá trình biến đổi khí hậu (mà do chính con người
Trang 18là thủ phạm chính) đã gây ra các thiên tai ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống nhân dân trên toàn thế giới Ở đây, tác giả khóa luận xin nêu ra một số thông tin cơ bản về môi trường mà nhân loại đang phải đối mặt:
- Suy thoái đất ngày càng trầm trọng: “Trên thế giới đã có khoảng gần 2
tỷ ha đất đã bị thoái hoá trong vòng 50 năm trở lại đây, với 25 tỷ tấn đất bị rửa trôi, xói mòn hàng năm.” [26]
- Suy thoái đa dạng sinh học: “Rừng, các hệ sinh thái biển, các sinh cảnh tự nhiên đang bị phá huỷ (mỗi năm có khoảng 5% diện tích rừng nhiệt đới bị mất đi
Dự tính trong 10 năm đầu thế kỷ 21 sẽ có 25.000 loài sẽ biến mất” [26]
- Ô nhiễm không khí và suy thoái nguồn nước: “Việc thải vào khí quyển quá mức các loại khí gây hiệu ứng nhà kính đã và đang làm trái đất nóng dần lên Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng về tần suất và cường độ của các thiên tai như bão lũ, hạn hán, động đất, sóng thần làm hàng triệu người chết Do dân số gia tăng, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu sẽ mất đi khoảng 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới” [26]
- Dân số và sức khoẻ: Dân số thế giới gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển “Dân số năm 1992 là 5,4 tỷ người, năm 2000 là 6,5
tỷ người và dự tính nếu không có các biện pháp hữu hiệu để hạn chế thì dân
số loài người có thể lên đến 9-10 tỷ người vào năm 2050; trong 100 năm gần, đây cứ 40 năm dân số lại tăng lên gấp đôi” [14] Dân số tăng, diện tích đất ở, đất canh tác ngày càng bị thu hẹp làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Rác thải, nước thải, khói bụi gia tăng gây ô nhiễm môi trường Một công bố gần đây của Tổ chức y tế thế giới (WHO): mỗi năm trên thế giới có khoảng
13 triệu người chết do môi trường ô nhiễm
Có thể nói: Môi trường hiện nay đang là mối quan tâm của mọi quốc gia Trước đây, chúng ta luôn nghĩ rằng chính thiên nhiên đã tạo nên những
Trang 19nhưng lại không tìm hiểu nguyên nhân của những hiện tượng cực đoan đó do đâu mà có
Theo định nghĩa của Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29/11/2005 thì con người trở thành trung tâm trong mọi mối quan hệ với tự nhiên Cho đến nay, khi chúng ta hiểu ra rằng: “con người trở thành giữ vai trò trung tâm, có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng môi trường thì đã phải gánh chịu những hậu quả hết sức bất lợi cho cuộc sống của mình Con người phá rừng làm nương rấy, làm nhà và để kinh doanh thu lợi cho mình là nguyên nhân gây ra lũ rừng
và lụt lội thường xuyên Quá trình canh tác thiếu khoa học của con người đã khiến cho đất đai bạc màu nhanh, dùng phân hóa học quá mức là nguyên nhân gây ra bệnh tật cho con người Tốc độ công nghiệp hóa nhanh cùng với sự thờ
ơ và vô trách nhiệm với thiên nhiên của con người đã khiến cho đất, nước, không khí đều có khả năng bị ô nhiễm…” [3, tr 94]
1.1.2 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu được nhắc đến lần đầu tiên trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào năm 1930 Đến năm 2011, thuật ngữ biến đổi khí hậu được nhắc đến nhiều hơn trên truyền thông sau thảm họa động đất sóng thần ở Nhật Bản gây nên thiệt hại nặng nề về người và tài sản
Điều 1 của Công ước Khung Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC) định nghĩa về biến đổi khí hậu: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những
Khái niệm về biến đổi khí hậu do Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu IPCC đưa ra: “Biến đổi khí hậu là do thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra.” [28, tr 28]
Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường nêu ra khái niệm: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí
Trang 20hậu so với trung bình/ hoặc giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là
do các quá trình tự nhiên bên trong, hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển.” [27, tr 17]
Theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu là biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt trực tiếp hay gián tiếp do con người gây ra sự thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự biến đổi khí hậu tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ
có thể so sánh được
Theo Thạc sĩ Bùi Thu Vân, Đại học Sư phạm Hà Nội: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi đáng kể về trị số trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu ở một khu vực cụ thể Biến đổi khí hậu cũng phản ánh những sự biến đổi khác thường của điều kiện khí hậu trong bầu khí quyển trên Trái Đất và kéo theo đó là những tác động tiêu cực lên nhiều phần của Trái Đất, như các tảng băng (trên đỉnh núi cao) trong khoảng thời gian dài từ hàng chục năm cho đến hàng triệu năm.” [35]
Như vậy, có thể hiểu biến đổi khí hậu là những hiện tượng biểu hiện của thay đổi môi trường tác động xấu đến con người Các hiện tượng đó có thể là: mưa bão, hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy hay dịch bệnh… Biến đổi khí hậu không chỉ gây nên hậu quả xấu với con người, mà còn đe dọa đến sự tồn vong của các sinh vật khác trên trái đất
Hậu quả từ ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống của con người Vì vậy, thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu hiện nay cần thiết hơn bất cứ lúc nào nhằm cảnh báo và thông tin cho mọi người biết về nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả từ ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu gây nên gây nên Việt Nam còn nằm trong
Trang 21nói riêng cần phải thực hiện thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu tới nhân dân
1.1.3 Báo phát thanh
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người ngày càng cao Phát thanh cũng nằm trong xu thế phát triển chung của hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng
Báo phát thanh ra đời trên thế giới bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX trên cơ sở phát minh ra sóng điện từ với sự đóng góp của các nhà bác học Maxwell, Faraday, Hert Có thể kể đến một vài dấu mốc đáng nhớ của báo phát thanh:
Năm 1895: nhà bác học Nga Alexander S Popov đã phát minh ra ăng ten vô tuyến điện Ngày 7/5/1895, ông giới thiệu máy thu sóng điện từ đầu tiên tại Hội Vật lý và Hóa học Saint - Petersbourg Cũng năm này, nhà bác học Ý Gughielmo Marconi thí nghiệm thành công việc truyền tín hiệu vô tuyến đầu tiên trên khoảng cách 400m, rồi 200m và tiến tới những khoảng cách xa hơn
Năm 1915: Bản tin phát thanh quốc tế hàng ngày đầu tiên được phát đi
Trang 22Như vậy, chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ, từ năm 1895 đến 1937, phát thanh đã phát triển với một tốc độ nhanh chóng cả về chất lượng, quy
mô, phạm vi phát sóng và cả chất lượng thông tin truyền tải
Quá trình phát triển kỹ thuật phát thanh trên thế giới có 2 bước nhảy vọt quan trọng Đó là phát thanh FM ra đời vào những năm 40 và phát thanh
số DAB ra đời vào cuối thế kỷ XX và hiện nay đang đi vào cuộc sống Phát thanh FM ra đời đánh dấu bước nhảy vọt quan trọng về chất lượng sóng và chi phí đầu tư, khai thác rẻ hơn, gọn nhẹ hơn Đầu năm 2000, có 34 nước và khu vực trên thế giới phát thử và thường xuyên phát thanh số Singapore là nước đi đầu về phát thanh số ở khu vực Châu Á [11, tr 11]
Ở Việt Nam, phát thanh phát triển nhanh chóng từ sau khi giành được độc lập vào năm 1945 Ngày 7/9/1945, Đài Tiếng nói Việt Nam ra đời Ngoài đài phát thanh quốc gia, 4 đài khu vực, hệ thống phát thanh, truyền thanh trong nước đã lớn mạnh hoàn chỉnh với 63 đài phát thanh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; hơn 600 đài truyền thanh cấp huyện, cùng với hàng ngàn trạm truyền thanh cấp xã, phường; là mạng lưới rộng khắp, chuyển tải thông tin – truyền thông phục vụ hoạt động tuyên truyền, nhu cầu dân sinh và phát triển [9, tr 35]
Để nói về báo phát thanh, có nhiều cách định nghĩa về báo phát thanh xuất phát từ những góc độ nhìn nhận khác nhau như:
- Báo phát thanh là tờ báo bằng âm thanh (nhìn từ góc độ phương tiện chuyển tải)
- Phát thanh là tiếp nhận thông tin bằng tai (nhìn từ góc độ tiếp nhận)
- Phát thanh là sử dụng âm thanh để chuyển tải thông tin (nhìn từ góc độ sáng tạo) [11, tr 32]
TS Đinh Thu Hằng đã định nghĩa chung về báo phát thanh trong cuốn
Trang 23truyền đi ngôn ngữ âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giả của đối tượng tiếp nhận.” [11, tr 32]
Báo phát thanh là một loại hình báo chí: Báo chí bao gồm các loại hình: báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử Internet (theo trật
tự ra đời) Với tư cách là tờ báo nói, phát thanh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của báo chí nói chung, đó là: thông tin, định hướng, giáo dục, quản
lý và giám sát xã hội,…
Báo phát thanh sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền thanh: đây là những phương tiện kỹ thuật của báo phát thanh Kỹ thuật sóng điện từ giúp cho phát thanh truyền sóng tức khắc trên diện rộng Cùng với hệ thống truyền thanh, âm thanh trên sóng phát thanh được chuyển tải đi mọi nơi, đến với mọi tầng lớp thính giả
Truyền tới đối tượng tiếp nhận ngôn ngữ âm thanh trực tiếp tác động vào thính giả: phương tiện tác động của báo phát thanh là âm thanh, bao gồm: lời nói, tiếng động, âm nhạc Cách thức tác động là vào thính giác một cách trực tiếp Bởi vậy, phát thanh đến được với mọi đối tượng công chúng trừ những người khiếm thính [11, tr32,33]
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu
1.2.1 Quan điểm của Đảng
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định tại điều 29: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường
Quan điểm về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đã được Đảng, Nhà nước ta khẳng định và đề cập sớm trong kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 – 2000, trong Luật Bảo vệ Môi trường
Trang 24năm 1993 sau được sửa đỏi, bổ sung năm 2005; Nghị định 26/CP; Chỉ thị 36 ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII; Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị khóa IX ngày 15/11/2004; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam năm 2006; Chiến lược bảo vệ Môi trường quốc gia năm 2020 – 2030… Vấn đề môi trường từ lâu đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng
và chính sách của Nhà nước ta
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (tháng 1/2011) đưa ra
quan điểm chỉ đạo: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị, toàn xã hội và của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo và ứng phó với sự biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”
Những nội dung chính và mới được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XI
của Đảng để thực hiện quan điểm trên như sau: Một là, “đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ
tài nguyên, môi trường” Hai là, “gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với… bảo
vệ môi trường” Ba là, “Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên” Bốn là,
xử lý triệt để những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đẩy mạnh
cải tạo môi trường.Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường, đặc biệt là “Quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất,
nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác” Sáu là, bảo vệ
môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của
mọi công dân
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện
Trang 25như: Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (Quyết định số 153/204 TTG ngày 17-8-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam); Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (Quyết định số 172/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình, mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ); Đề
/QĐ-án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (Quyết định số 1002/2009/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ); Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc lồng ghép biến đổi khí hậu vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, giai đoạn 2011 - 2015 Các chương trình đã đưa ra quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo chung cho việc đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Bên cạnh những bộ luật, chính sách quy định về bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội cũng
có những chính sách quy định và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng
Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan chuyên môn của Việt Nam, các tổ chức quốc tế tổ chức hội thảo quốc tế về “Biến đổi khí hậu và các cực trị khí hậu tại Việt Nam”; hội thảo “Báo cáo kết quả ban đầu
và tham vấn về các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu” Nhiều địa phương
tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã, giáo viên và học sinh, cung cấp kiến cơ bản về biến đổi khí hậu, kỹ năng chủ động ứng phó, phòng chống những tác động xấu do biến đổi khí hậu gây ra Bộ Thông tin và Truyền thông
Trang 26phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn “Nâng cao năng lực phóng viên trong tuyên truyền biến đổi khí hậu và giảm thiểu tác hại thiên tai” cho các cơ quan báo chí khu vực miền Trung và Tây Nguyên
Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Mục tiêu của Chương trình là đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành, địa phương…, tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất Một trong những nhân tố góp phần vào sự thành công trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu và chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đó là công tác truyền thông Vai trò của truyền thông được thể hiện trong việc nâng cao nhận thức và hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Với thế mạnh của việc thông tin phát đến nhóm công chúng lớn, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cũng như cảnh báo hậu quả từ biến đổi khí hậu cho công chúng Ngoài ra, truyền thông còn có thể tạo dựng các diễn đàn thảo luận về giải pháp phù hợp ứng phó với biến đổi khí hậu đối với từng khu vực và cộng đồng cụ thể [3, tr76]
1.2.2 Pháp luật của Nhà nước về môi trường và biến đổi khí hậu
Việt Nam ký Nghị định thư Kyoto ngày 11/3/1999 và phê chuẩn vào ngày 18/11/1999 Nghị định Kyoto chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam
từ ngày 16/2/2005
Tổng cục Khí tượng và Thủy văn trước đây, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường, được chính phủ giao làm cơ quan có đầu mối quốc gia cho các hoạt động thực hiện Công ước Khung Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Văn phòng
Trang 27Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc đối phó với biến đổi khí hậu, bao gồm:
- Luật bảo vệ Môi trường năm 1993 ghi rõ: Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy thoái môi trường, gây ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi trường (Điều 9)
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, hủy
bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ, phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái môi trường, sự cố môi trường Chính phủ quy định danh mục các chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ nói tại Điều này (Điều 23)
- Ngày 25/8/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành Chỉ thị số 26/CT – Ttg về việc triển khai thi hành Luật Bảo vệ Môi trường
- Nghị quyết số 853/NQ – UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về kết quả giám sả và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long
- Quyết định 9792/QĐ – BCT năm 2014 về Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết 08/NQ – CP thực hiện Nghị quyết 24 – NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Bộ Công thương ban hành Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết 08/NQ – CP thực hiện Nghị quyết 24 – NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ngày 30/10/2014
- Thông báo 414/TB – VPCP năm 2014 kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- Ngày 06/10/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020
đã chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch bảo
Trang 28vệ và phát triển rừng 9 tháng đầu năm 2014 và triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
- Quyết định số 1824/QĐ – TTg ngày 08/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Văn kiện sửa đổi Khung Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP – RCC)
- Ngày 08/10/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Văn kiện Khung Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP – RCC) [27, tr.13]
Có thể khẳng định sự cố gắng, quan tâm, nhất quán và đồng bộ của Đảng, Nhà nước ta trong việc đề ra đường lối, chính sách về vấn đề môi trường, về sự quan trọng, tính cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Điều này cũng cho thấy, công tác bảo vệ môi trường là cả một quá trình lâu dài và cấp thiết
Về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2020 – 2030, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1216/QĐ – TTg ngày 5/9/2012, phê duyệt chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Nội dung quyết định như sau:
- Mục tiêu đến năm 2020: kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng
ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học, tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống, nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước
- Tầm nhìn đến năm 2030: ngặn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học, cải thiện chất lượng môi trường sống, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế phát triển bền vững
Như vậy, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các quy định cụ thể
Trang 29lên ý kiến của nhân dân trước những chính sách Nhà nước ban hành về môi
trường và biến đổi khí hậu
1.3 Báo phát thanh với vấn đề thông tin về môi trường biến đổi khí hậu
1.3.1 Vai trò của báo phát thanh trong thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu
1.3.1.1 Báo phát thanh tuyên truyền chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về môi trường biến đổi khí hậu
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, cần sự chung tay
và nhiệt tâm của cả cộng đồng xã hội, cả nhân loại trên toàn cầu Trong rất nhiều nhiệm vụ và thách thức đặt ra thì truyền thông về bảo vệ môi trường vẫn giữ một vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu để việc bảo vệ, gìn giữ môi trường trở nên hiệu quả nhờ sự thống nhất ý chí và hành động trên phạm vi rộng rãi nhất
Việt Nam là một trong 6 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong những năm qua, biến đổi khí hậu không chỉ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp mà còn khiến tần suất
và cường độ thiên tai ở nước ta ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường Chỉ tính trong 10 năm gần đây (2005 - 2015), các loại thiên tai như: Bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, nóng, lạnh bất thường, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản
Báo chí phát thanh nói riêng, nền báo chí cách mạng Việt Nam nói chung là một bộ phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng Là công cụ sắt bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời là cầu nối, kịp thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân
Trang 30Báo phát thanh cũng không nằm ngoài vòng vận động của báo chí trong công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước về môi trường và biến đổi khí hậu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X)
“Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” chỉ rõ: “Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới”
Báo chí nói chung, và báo phát thanh nói riêng là một hoạt động đặc biệt mang đặc tính chính trị - xã hội Mỗi tác phẩm báo chí được phát sóng bao giờ cũng tác động mạnh mẽ đến dư luận xã hội, nhận thức, thái độ, quan niệm và hành vi của công chúng
Với hệ thống truyền thanh từ cấp trung ương đến từng cấp cơ sở (phát thanh xã, phường, thị trấn), báo phát thanh là kênh thông tin phủ sóng rộng khắp, truyền tải những thông tin được Đảng và Nhà nước ban hành Đặc biệt ở các vùng nông thôn, vùng xâu, vùng xa, hải đảo hay vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, khả năng tiếp cận thông tin báo chí còn hạn chế thì báo phát thanh lại càng phát huy được thế mạnh của mình Sóng của phát thanh lan truyền theo hình sin (truyền hình truyền sóng theo hình thẳng) cho phép phát thanh đến được
cả với những địa hình phức tạp, những vùng xa xôi, hẻo lánh mà truyền hình khó vươn tới Phát thanh có sức mạnh đặc biệt trong việc truyền phát thông tin theo diện rộng nhằm tạo ra hiệu ứng xã hội một cách nhanh chóng, trở thành loại hình báo chí mang tính xã hội hóa cao Như vậy, báo phát thanh dễ dàng đưa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, chống chặt phá rừng bừa bãi hay đốt nương làm rẫy – những thói quen canh tác của đồng bào các dân tộc đến tuyên truyền cho từng người dân, làm cho
họ nhân thức được đó là hành vi không những gây ô nhiễm môi trường mà còn
vi phạm pháp luật, bị pháp luật xử lý
Trang 31phát thanh phải có tính trách nhiệm xã hội như: Trách nhiệm xã hội trong cung cấp thông tin; trách nhiệm nâng cao dân trí và sự hiểu biết của nhân dân; trách nhiệm củng cố và bảo vệ sự ổn định xã hội; trách nhiệm đấu tranh trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ; và đặc biệt, trách nhiệm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Hiện nay, tăng trưởng nhanh, tăng trưởng nóng dễ dẫn đến ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhiều vấn
đề khác như: an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề việc làm của một bộ phận dân
cư nơi đô thị hóa, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội và tội phạm ảnh hưởng đến trật tự trị an trong đời sống nhân dân Trách nhiệm của các đài phát thanh, Đài Tiếng nói Việt Nam đối với vấn đề môi trường không chỉ dừng lại ở những cảnh báo, khuyến cáo, tuyên truyền nói chung mà phải tạo ra được dư luận xã hội, tạo ra tiếng nói mạnh mẽ có tác động với các cơ quan chức năng; kiên quyết đấu tranh với những hành vi, tư tưởng vụ lợi cá nhân mà không chú ý đến những nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, đến sự sống còn của mọi người và các yếu tố khác
Báo phát thanh tuyên truyền chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và ngược lại Báo phát thanh cũng là cơ quan ngôn luận nói lên tiếng nói của nhân dân trước những chính sách của Đảng Với những chủ trương về môi trường còn chưa phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, ảnh hưởng đến đời sống và quyền lợi của nhân dân, báo phát thanh sẽ là cơ quan, là cầu nối quan trọng để người dân có thể nói lên tiếng nói, tâm tư và nguyện vọng của mình Chính từ những ý kiến của dân, cùng với quan điểm “dân là gốc”, Đảng
và Nhà nước ta sẽ có những biện pháp điều chỉnh các chủ trương, đường lối cho phù hợp với thực tiễn của nhân dân và của đời sống xã hội
Như vậy, báo phát thanh đã góp phần cùng với nền báo chí trong công cuộc tuyên truyền tới nhân dân những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt chức năng thông tin của mình
Trang 321.3.1.2.Báo phát thanh giúp nâng cao hiểu biết, góp phần thay đổi hành vi của cộng đồng về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu
Dù là công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước hay giám sát việc thực hiện chính sách ấy thì mục đích cao nhất mà báo phát thanh hướng tới trong việc thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu là nâng cao hiểu biết và nhận thức trong công chúng, từ đó tác động, điều chỉnh hành vi của công chúng với vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu
Hiện nay, các vấn đề về môi trường và các hiện tượng tiêu cực do biến đổi khí hậu mang lại có tác động, ảnh hưởng đến mọi người, mọi ngành, mọi nghề và trên mọi mặt của lĩnh vực đời sống xã hội của con người, cả thế hệ hiện tại và tương lai Hiểu biết về những chính sách hay quy định của pháp luật về môi trường là chưa đủ trong công cuộc nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường Chính vì vậy, bên cạnh những bài viết mang tính thông tin, thông báo, báo phát thanh còn đăng tải nhiều khía cạnh khác của vấn đề ô nhiễm môi trường
Các bài báo, phóng sự điều tra, phản ánh về các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường xuất hiện thường xuyên và đều đặn trong các chương trình phát thanh định kỳ và bất ngờ khi có sự kiện môi trường nổi cộm Từ ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, ô nhiễm không khí đến những khái niệm
mà vài năm trước đây tưởng chừng như còn xa lạ “ô nhiễm tiếng ồn”, “ô nhiễm ánh sáng”… được truyền tải liên tục đến công chúng Thuật ngữ ô nhiễm môi trường giờ không chỉ được nhắc đến với những vấn đề vĩ mô mà
đã đi sâu vào đời sống nhân dân cùng nhận thức về nguyên nhân, tác động to lớn mà ô nhiễm môi trường mang lại
Trở lại những năm đầu thập niên của thế kỷ XXI, khi truyền thông và báo chí nhắc đến những thuật ngữ khoa học – giải thích cho những hiện tượng
Trang 33trên phạm vi toàn cầu), “La Nina” (hiện tượng nước biển lạnh đi so với bình
thường, đây là một hiện tượng trái ngược lại với hiện tượng El Nino)… nhiều người còn thấy xa lạ thì nay, đó là những hiện tượng thời tiết cực đoan mà hầu hết mọi người có thể nhận thấy rõ ràng Từ năm 2015, khi El Nino gây nên hiện tượng thời tiết khắc nghiệt nhất từ trước đến giờ với vùng nắng nóng kéo dài cả tháng trên cả một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á và cả ở Việt Nam Mùa hè ở miền Bắc Việt Nam trải qua những ngày nhiệt độ đạt đến mức nóng
kỷ lục: trên 40 độ C, gần 50% diện tích canh tác ở đồng bằng Sông Cửu Long
có nguy cơ nhiễm mặn… Hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân bị ảnh hưởng không nhỏ, báo phát thanh nói riêng và báo chí nói chung đã liên tục đăng tải những bài viết, thông tin phản ánh về hiện tượng thời tiết bất thường đó Nhận thức của nhân dân càng ngày càng được nâng lên về các hiện tượng tự nhiên mà trước đây được cho là sinh ra từ một thế lực siêu nhiên nào đó Báo phát thanh với vai trò thông tin của mình, đã giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về các hiện tượng của thời tiết, mà nguyên nhân sâu
xa gây nên các yếu tố bất thường đó chính là môi trường ngày càng bị ô nhiễm và biến đổi khí hậu
Trước vấn đề nhận thức của công chúng về nguyên nhân, hậu quả của các hiện tượng do ô nhiễm môi trường mang lại, báo phát thanh còn góp phần làm thay đổi hành vi, thái độ của công chúng Việc truyền tải nguyên nhân, thực trạng của bất kỳ vấn đề môi trường nào không chỉ dừng lại ở mức độ thông tin, mà còn định hướng hành vi cho công chúng, công chúng cần làm gì
từ những hành vi nhỏ nhất trong đời sống xã hội để làm giảm thiểu các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
1.3.1.3 Báo phát thanh là diễn đàn để xây dựng và phản biện các chính sách, dự án có liên quan đến môi trường và biến đổi khí hậu
Nói báo phát thanh là một “diễn đàn” để xây dựng và phản biện các chính sách, dự án có liên quan đến môi trường và biến đổi xã hội là nói đến
Trang 34báo phát thanh giám sát thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách về môi trường và biến đổi khí hậu
Bên cạnh chức năng thông tin của báo phát thanh về vấn đề môi trường
và biến đổi khí hậu đã nhắc đến ở phần trên, báo phát thanh và báo chí còn có những chức năng cơ bản khác: chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý nhằm đảm bảo hoạt động, phát huy có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Về bản chất, quá trình quản lý là quá trình thông tin, bao gồm việc khai thác, thu thập, đánh giá, lựa chọn, phân tích và xử lý các thông tin đến việc đưa ra quyết định và truyền đạt thông tin về quyết định đến khách thể quản lý Để đảm bảo cho sự quản lý có hiệu quả cần phải có cơ chế thống nhất thông tin giữa hai chiều: thuận và ngược Thông tin chiều thuận là thông tin từ chủ thể đến khách thể, chuyển đi những quyết định quản lý cũng như các thông tin cần thiết để hướng dẫn về cách thức, phương pháp, điều kiện thực hiện chúng Yêu cầu đặt ra đối với chiều thông tin này là chính xác, kịp thời và đầy đủ Đó cũng là điều kiện cần thiết cho khả năng tác động một cách
có hiệu lực của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý, làm cho khách thể quản lý vận động theo phương hướng đã đặt ra Kênh thông tin theo chiều ngược cần kịp thời, đầy đủ và toàn diện là điều kiện tiền đề cho việc đưa ra những sự điều chỉnh hay những quyết định quản lý một cách đúng đắn, hợp lý
và hiệu quả Báo chí thực hiện chức năng quản lý bằng cách cung cấp thông tin được cung cấp và truyền tải theo cả hai chiều của thông tin: thuận và ngược [27, tr20]
Khái niệm giám sát có thể hiểu là theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không Nghĩa là, giám sát bao gồm hai quá trình: theo dõi và kiểm tra Chức năng giám sát xã hội của báo chí thực tế là giám
Trang 35được vai trò phản biện xã hội của mình Trong đó, báo phát thanh và báo chí giám sát thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách về môi trường và biến đổi khí hậu của Đảng và Nhà nước thông qua những hình thức chủ yếu như sau:
- Đăng tải, bình luận, giải thích, phân tích các văn kiện, nghị quyết, quyết định của Đảng và Nhà nước về vấn đề môi trường
- Giám sát, kiểm tra việc thực hiện các đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước về môi trường và biến đổi khí hậu [21, tr.22]
Báo chí thể hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình Trong điều kiện xã hội hiện nay, khi công nghệ - thông tin và mạng xã hội phát triển và phổ biến thì báo chí là kênh thông tin tin cậy và chính xác Báo chí bám sát sự kiện, đưa đến thông tin nhanh nhạy, thể hiện được chiều sâu của vấn đề và định hướng được dư luận xã hội Từ đó, các cơ quan báo chí truyền thông đã thực hiện tốt chức năng giám sát, mang lại hiệu quả xã hội cao và có sự tác động rõ rệt đến thực tiễn đời sống Nhờ thế mà vai trò, chức năng giám sát thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về môi trường và biến đổi khí hậu của báo chí ngày càng được khẳng định và lòng tin của công chúng đối với cơ quan báo chí truyền thông chính thức của Nhà nước cũng ngày càng được nâng lên rõ rệt
Kết quả của hoạt động giám sát, kiểm tra của báo chí về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu là nguồn thông tin quan trọng giúp các cơ quan của Đảng và Nhà nước kịp thời đưa ra các quyết định, chính sách, biện pháp tích cực để điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội Ngược lại, nguồn thông tin đó trực tiếp tác động tới các cơ quan, tổ chức
về những điều còn hạn chế, cần khắc phục để giúp họ khắc phục, đưa ra những giải pháp điều chỉnh phù hợp với thực tiễn
- Báo chí là diễn đàn thu thập ý kiến của chuyên gia và toàn thể nhân dân về chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước chuẩn bị ban hành và áp dụng
Trang 36Với tư cách là một “diễn đàn”, một kênh thông tin, một cầu nối, thông qua báo phát thanh, nhân dân có thể nói lên ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của mình về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu
Những tháng đầu năm 2018, một lần nữa trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều lời kêu gọi ủng hộ cho chiến dịch “Save Son Dong” (phản đối
dự án cáp treo hang Sơn Đòng) Kết quả đạt được 71 000 chữ ký của cá nhân phản đối việc xây dựng cáp treo qua hang động đặc biệt này Chiến dịch này được khởi động ngay khi có những thông tin xoay quanh việc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng như Chính phủ đồng ý với đề xuất xây dựng dự án cáp treo tại hang Sơn Đòng [25]
Mặc dù mọi việc chỉ mới dừng ở giai đoạn khảo sát, lập dự án nhưng
đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận với việc bảo tồn “hang động
tự nhiên lớn nhất thế giới” hai lần được sách kỷ lục Guinness vinh danh Bên cạnh các ý kiến cho rằng với việc xây dựng tuyến cáp treo sẽ tạo ra cơ hội cho nhiều người muốn khám phá hang động kỳ vĩ này; dưới góc độ kinh tế, đây là
cơ hội phát triển kinh tế, du lịch vượt bậc cho tỉnh Quảng Bình thì còn có nhiều ý kiến phản đối Hầu hết đều cho rằng tuyến cáp treo này sẽ phá hỏng cảnh quan thiên nhiên hàng triệu năm của Sơn Đòng, cũng như vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng Việc đón nhận một lượng khách lớn mỗi ngày khi có cáp treo sẽ kéo theo nhiều hệ quả về môi trường nếu không có những giải pháp cụ thể và triệt để - một vấn đề nan giải và cũng là thực tế đã diễn ra tại nhiều khu du lịch và di sản thiên nhiên ở Việt Nam [25]
Trước những luồng dư luận, ý kiến trái chiều của nhân dân, báo phát thanh đã phản ánh những mong muốn của nhân dân, cùng những bài phỏng vấn có chiều sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, bảo tồn
di sản thiên nhiên góp phần tạo nên tiếng nói với các cơ quan quản lý Nhà
Trang 37trước khi đưa ra quyết định chính thức về dự án này Các cuộc hội thảo phát thanh đa chiều xoay quanh dự án này càng nóng hơn khi có bất kỳ luồng thông tin nào từ phía Chính phủ hay Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình
Giữa năm 2017, các cơ quan báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng đã liên tục đăng tải thông tin về các vấn đề liên quan đến quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà trên bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Bán đảo Sơn Trà cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10 km về phía đông bắc, rộng 4400 ha, là tổng hòa hệ thống sinh thái rừng tự nhiên gắn liền biển duy nhất tại Việt Nam Từ trước năm 2013, Đà Nẵng đã cấp phép cho 18 dự án với số phòng ước tính 5000 phòng Tháng 11/2016, Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà với số phòng giảm xuống 1600 phòng Tuy nhiên, sau khi công bố quy hoạch, Hiệp hội du lịch Đà Nẵng đã gửi kiến nghị đến Thủ tướng bày tỏ lo ngại Sơn Trà sẽ
bị bê tông hóa bởi các dự án, kiến nghị xem xét lại bản quy hoạch theo hướng giữ nguyên hiện trạng 300 phòng đang có Các tờ báo, các kênh phát thanh đã đăng tải những bài bình luận, phóng sự, tọa đàm phân tích sâu những ảnh hưởng của việc du lịch hóa Sơn Trà lên thiên nhiên nơi đây Việc xây dựng bán đảo Sơn Trà thành khu du lịch sẽ tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến
an ninh quốc phòng, môi trường sống của loài voọc nằm trong sách đỏ, các cây thuốc quý và rừng đặc dụng trên đảo Đài Tiếng nói Việt Nam là một cơ
quan theo dõi sát diễn biến sự kiện này thông qua một loạt bài phát sóng: Dự
án “băm nát” bán đảo Sơn Trà: Du lịch sinh thái hủy hoại môi trường (20/3/2018), “Nóng” vấn đề bán đảo Sơn Trà: Đà Nẵng điều chỉnh quy hoạch tổng thể (27/3/2018), Dự án Khu du lịch biển Tiên Sa – Sơn Trà: Chờ ý kiến Thủ tướng (4/5/2018), Bộ Văn hóa và Đà Nẵng làm việc, không nhắc đến quy hoạch Sơn Trà (12/5/2017), Không tìm được tiếng nói chung về quy hoạch bán đảo Sơn Trà (12/5/2017), Bán đảo Sơn Trà đang bị xâm hại
(20/5/2017)… Trước những ý kiến phản hồi của nhân dân trên các diễn đàn
Trang 38xã hội, quan điểm của báo chí, các cơ quan có thẩm quyền đã lắng nghe ý kiến của nhân dân và báo cáo xin ý kiến lãnh đạo của Thủ tướng về chính sách xây dựng dự án trên bán đảo Sơn Trà Đến nay, các công trình thi công trên bán đảo Sơn Trà đang được rà soát theo quy định
Như vậy, báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng đã thực hiện tốt vai trò là một diễn đàn chuyển tải ý kiến của nhân dân về cách quyết định, chính sách của Nhà nước Bản thân báo chí cũng đưa ra những quan điểm riêng của mình về các quyết định của Nhà nước đưa ra đối với xã hội
1.3.2 Thế mạnh của báo phát thanh trong việc thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện báo chí truyền thông, báo phát thanh có một con đường, một lối đi riêng cho sự tồn tại và phát triển của mình Trong cuốn “Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh” (Trường Phát thanh, truyền hình và điện ảnh Australia), tác giả Lois Baird đã đưa ra các đặc điểm của báo phát thanh như sau:
“Radio là hình ảnh
Radio là thân mật, riêng tư
Radio là dễ tiếp cận và dễ mang
Radio gợi lên cảm xúc
Radio làm công việc thông tin và giáo dục
Radio là âm nhạc”
Hai tác giả Paul Chantler và Peter Stewart viết: “Radio là phương tiện
Trang 39Với những đặc điểm riêng biệt như vậy, báo phát thanh có những lợi thế nhất định so với các loại hình báo chí khác Trong việc thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu, báo phát thanh có những thế mạnh được xuất phát
từ những đặc trưng của riêng mình
Thứ nhất, báo phát thanh thông tin một cách nhanh chóng, toàn diện và đầy đủ về môi trường và biến đổi khí hậu Các yếu tố giúp báo phát thanh đưa thông tin một cách nhanh chóng, rộng khắp phải kể đến các yếu tố như :
Phát thanh sử dụng kỹ thuật sóng điện từ với tốc độ tương đương tốc độ ánh sáng (gần 300.000 km/s) cùng với hệ thống truyền thanh nhanh chóng đưa thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu, âm thanh từ người nói đến với công chúng
Chính nhờ sử dụng sóng điện từ trong việc thu phát sóng nên phát thanh có thế mạnh trong việc chuyển phát thông tin nhanh ở khoảng cách xa Phát thanh là phương tiện hữu ích cảnh báo cho người dân về các thảm họa, hay các hiện tượng thiên nhiên bất thường Khi có cảnh báo thiên tai được phát đi, tất cả các thiết bị điện sẽ bị cắt, ngừng kết nối với mạng Internet, các phương tiện truyền thông sẽ bị tê liệt, ngay cả với báo in Lúc đó, phương tiện thông tin hữu ích nhất giúp nhân dân nhận được các tin tức, tình hình mới nhất chính nhờ chiếc radio nhỏ gọn đưa tin phát thanh Trong nhiều tình huống, báo phát thanh qua radio chính là cầu nối thông tin duy nhất giữa nhân dân vùng thiên tai với bên ngoài Có thể thấy rõ minh chứng đó qua cảnh báo thiên tai sóng thần ở Nhật Bản tháng 3/2011
Là một đất nước thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là động đất với sóng thần, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng nhiều biện pháp trong xây dựng, giáo dục, và đặc biệt là đầu tư cho lĩnh vực cảnh báo thiên tai Nhận thức được tầm quan trọng của radio và phát thanh trong điều kiện khó khăn khi thiên tai xảy ra, với hệ thống giám sát động đất của Cơ quan cảnh báo sóng thần (ra đời năm 1952) có thể gửi đi cảnh báo sóng thần sau 3
Trang 40phút ngay từ khi trận động đất bắt đầu Tại hầu hết các thị trấn và thành phố của Nhật đều có hệ thống loa phát thanh, có thể phát đi nhanh chóng các thông tin khẩn cấp tới người dân Tại một số vùng nông thôn, chính quyền địa phương còn phát cho người dân những chiếc radio để họ có thể được hướng dẫn sơ tán trong trường hợp khẩn cấp Phát thanh đã trở thành phương tiện cảnh báo thảm họa rất hữu ích cho người dân Nhật Bản
Các phương tiện, thiết bị thu và phát tín hiệu gọn nhẹ giúp cho phát thanh có lợi thế riêng trong việc tiếp cận với nguồn tin, đặc biệt trong những hoàn cảnh tác nghiệp khó khăn, nguy hiểm hay nhỏ hẹp…, với việc thực hiện tác phẩm và chuyển tải tới công chúng Báo phát thanh có thể đưa thông tin một cách nhanh chóng Người phóng viên, biên tập viên chỉ cần một chiếc máy ghi âm gọn nhẹ, dễ sử dụng, phương thức truyền tải nhanh chóng (sử dụng âm thanh để truyền tin, sóng hình sin đã nhắc đến ở phần trước), ngay lập tức truyển tải thông tin tới thính giả, thậm chí có thể đưa thông tin trực tiếp Lúc đó, khoảng cách giữa sự kiện và công chúng là con số 0 Đây là điểm tạo nên sự khác biệt và cũng là ưu thế của phát thanh so với các loại hình báo chí khác Với truyền hình, các phương tiện tác nghiệp khá cồng kềnh
và cần phải dựng bài trước khi phát sóng Còn đối với báo in, các PV cần thời gian để viết bài, biên tập, dàn trang báo, in ấn và sau đó mới chuyển đến tay đọc giả Quá trình ấy khiến cho nguồn thông tin bị nguội và bị thế chỗ bởi các thông tin mới hơn
Như đã nói, báo phát thanh còn có thể thực hiện các chương trình phát thanh trực tiếp, ngay lập tức đưa thông tin từ hiện trường đến thính giả, có thể thường thấy ở các sự kiện truyền thông về môi trường hay trực tiếp từ hiện trường thiên tai Trong xu thế của phát thanh hiện đại, phát thanh trực tiếp ngày càng phát triển và khẳng định vị thế của mình khi thông tin về môi