TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LUẬT LAO ĐỘNG ĐỀ BÀI SỐ 03 “Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và đề xuất các kiến nghị” Tranh chấp lao động cá nhân là một trong những loại tranh chấp lao động có quy mô nhỏ, phổ biến, dễ xảy ra và chiếm đa số trong các tranh chấp lao động hiện nay. Việc giải quyết tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân phù hợp sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, xây dựng được mối QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp. Với mong muốn tìm hiểu một cách tổng quát về vấn đề trên, em xin chọn đề tài bài tập số 03: “Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và đề xuất các kiến nghị” làm chủ đề tiểu luận kết thúc học phần của mình. Do những hạn chế khó tránh khỏi về tri thức và phương pháp nghiên cứu, tiểu luận sẽ còn tồn tại những sai sót nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý để hoàn thiện hơn phương pháp học môn Luật Lao động. Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô.
Trang 11
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỀ BÀI SỐ 03
“Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và đề xuất các kiến nghị”
HỌ VÀ TÊN : DƯƠNG THỊ NGÂN
MSSV : 440801
LỚP : N04 – TL3
Hà Nội, tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1
1.1 Tranh chấp lao động cá nhân 1
1.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1
1.3 Vai trò của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 2
2 Thực trạng quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 2
2.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 2
2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 3
2.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 5
2.4 Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 6
3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 7
3.1 Những kết quả đạt được 7
3.2 Khó khăn, vướng mắc 7
4 Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 9
4.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 9
4.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 10
KẾT LUẬN 11
PHỤ LỤC 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
Tranh chấp lao động cá nhân là một trong những loại tranh chấp lao động có quy
mô nhỏ, phổ biến, dễ xảy ra và chiếm đa số trong các tranh chấp lao động hiện nay Việc giải quyết tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân phù hợp sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, xây dựng được mối QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp Với mong muốn tìm hiểu một cách tổng
quát về vấn đề trên, em xin chọn đề tài bài tập số 03: “Phân tích thực trạng pháp
luật lao động Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và đề xuất các kiến nghị” làm chủ đề tiểu luận kết thúc học phần của mình Do những hạn chế khó
tránh khỏi về tri thức và phương pháp nghiên cứu, tiểu luận sẽ còn tồn tại những sai sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý để hoàn thiện hơn phương pháp học môn Luật Lao động Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô
NỘI DUNG
1 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1.1 Tranh chấp lao động cá nhân
Trên cơ sở quy định của các BLLĐ trước đây, BLLĐ năm 2019 đưa ra định nghĩa
về tranh chấp lao động tại khoản 1 Điều 179 như sau: “Tranh chấp lao động là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động” Định nghĩa về tranh chấp lao động trong BLLĐ năm 2019 đã
bao quát được các tranh chấp lao động từ phương diện chủ thể và nội dung
Có thể hiểu tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ hoặc doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong QHLĐ hoặc quan hệ có liên quan đến QHLĐ Các vấn đề trong QHLĐ như việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và thường phát sinh trên cơ sở HĐLĐ
1.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Giải quyết tranh chấp theo nghĩa hẹp là việc các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục luật định nhằm giải quyết tranh chấp
Trang 4phát sinh giữa cá nhân, tập thể NLĐ về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại, xóa bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất
Theo nghĩa rộng, giải quyết tranh chấp lao động là những hoạt động được tiến hành nhằm dàn xếp những bất ổn trong quan hệ lao động, với mục đích để các bên
có thể tiếp tục thực hiện quan hệ lao động một cách hài hòa
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là hoạt động của các chủ thể tranh chấp hoặc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành giải quyết những xích mích, bất đồng trong QHLĐ hoặc quan hệ liên quan đến QHLĐ theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm xác lập QHLĐ hài hòa, tiến bộ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
1.3 Vai trò của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Khi tranh chấp lao động cá nhân xảy ra chắc chắn sẽ làm tổn hại đến quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của hai bên
Do vậy khi những tranh chấp này được giải quyết thành công bằng phương thức nào
đi chăng nữa thì nó sẽ có tác dụng hết sực tích cực cho cả hai phía thậm chí là cả nhà nước và xã hội Cụ thể:
Thứ nhất, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên
tranh chấp, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội
Thứ hai, thông qua giải quyết tranh chấp lao động cá nhân sẽ duy trì và củng cố
QHLĐ, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất, giải quyết tình trạng mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ
Thứ ba, góp phần to lớn trong việc ngăn ngừa những tranh chấp lao động mới có
thể phát sinh
Thứ tư, góp phần hoàn thiện pháp luật lao động nói chung và pháp luật về giải
quyết tranh chấp lao động nói riêng
2 Thực trạng quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
2.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp lao động mà tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình giải
Trang 5quyết tranh chấp lao động đều phải tuân thủ Các nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 180 BLLĐ năm 2019:
Thứ nhất, tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong
suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động
Thứ hai, coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên
cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của
xã hội, không trái pháp luật
Thứ ba, công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp
luật
Thứ tư, bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh
chấp lao động
Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý
Có thể thấy BLLĐ năm 2019 đề cao sự thỏa thuận, tự định đoạt và hướng đến sự đảm bảo toàn vẹn nhất quyền, lợi ích các bên, giải quyết mâu thuẫn được nhanh nhất và tránh các chi phí không đáng có
2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Theo Điều 187 BLLĐ năm 2019 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm: Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng tài lao động; Tòa án nhân dân
Thẩm quyền của hòa giải viên lao động
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp lao động được nhiều nước trên thế giới sử dụng một cách hiệu quả Trong đó bên thứ ba đóng vai trò trung gian, hoàn toàn độc lập với hai bên và hành động một cách vô tư, không thiên vị, tìm các đưa ra cho các bên những điểm mà họ có thể thỏa thuận với nhau
Theo quy định tại khoản 1 Điều 187 BLLĐ năm 2019, có thể thấy hòa giải viên lao động là chủ thể đầu tiên có quyền tiến hành hòa giải hầu hết các tranh chấp lao động cá nhân trừ các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều này So với BLLĐ năm
2012, BLLĐ năm 2019 bổ sung thêm một trường hợp tranh chấp lao động cá nhân
Trang 6không bắt buộc phải qua hòa giải tại hòa giải viên lao động là “tranh chấp giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại”
Hòa giải viên lao động là người có trình độ đại học trở lên và có ít nhất 03 năm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động (Điều 92 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động), do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hòa giải tranh chấp lao động, tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển quan hệ lao động Bên cạnh nhiệm vụ hòa giải tranh chấp lao động, tranh chấp
về hợp đồng đào tạo nghề, hòa giải viên lao động còn có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tại địa phương, giúp cho quan hệ lao động dần cải thiện và ngày càng phát triển tích cực, hợp tác
Như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải viên lao động mục đích đem lại hiệu quả trong việc khuyến khích các bên tranh chấp tự tiến hành hòa giải, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng thương lượng, đồng thời thủ tục này cũng được xem như là một giải pháp nhằm giảm tải số lượng vụ án về tranh chấp lao động theo con đường tố tụng tại Tòa án Tuy nhiên, có thể thấy, giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành chưa thực sự được đảm bảo
Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài lao động
BLLĐ năm 2012 không quy định Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Đến BLLĐ 2019 đã quy định bổ sung thêm Hội đồng lao động là một trong những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Theo BLLĐ năm 2012, Hội đồng trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định
So với BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm 2019 có nhiều điểm khác biệt về cơ cấu, tổ chức của Hội đồng trọng tài: về trọng tài viên lao động, cụ thể số lượng thành viên của Hội đồng được quy định tăng từ “không quá 7 người” lên “ít nhất 15 người” Điều này nhằm tăng cường sự lựa chọn của các bên, đảm bảo tính đúng đắn, hợp lý của kết quả giải quyết tranh chấp lao động Ngoài ra, BLLĐ năm 2019 quy định cơ chế ban trọng tài lao động lao động được hình thành do Hội đồng trọng tài lao động thành lập để giải quyết vụ tranh chấp lao động cụ thể khi có yêu cầu của các bên tranh chấp Cách thức hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động đã chuyển từ cả hội
Trang 7đồng sang Ban trọng tài gồm 03 trọng tài viên hoặc 01 trọng tài viên để giải quyết
vụ tranh chấp lao động cụ thể khi có yêu cầu của các bên tranh chấp
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án được xem là hoạt động giải quyết tranh chấp cuối cùng sau khi giải quyết tranh chấp đã được giải quyết ở các giai đoạn khác mà không đạt được kết quả Đây là phương thức giải quyết tại cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước tiến hành theo trình tự thủ tục nhất định và phán quyết của Tòa được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước Khi xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân (TAND) trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cần căn cứ vào quy định chung của BLTTDS năm 2015 và BLLĐ năm 2019 Thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp lao động cá nhân của Tòa án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án Theo
đó, thẩm quyền của Tòa án được chia thành các nhóm sau: thẩm quyền chung (theo
vụ việc), thẩm quyền theo các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của một bên tranh chấp là nguyên đơn
Mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp lao động thông qua hoạt động xét xử của Tòa án mang giá trị pháp lý cao nhưng giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án cũng có nhiều hạn chế Đó là thủ tục phức tạp, thời gian kéo dài, tốn kém thời gian
và tiền bạc của các đương sự, gây sự căng thẳng trong quan hệ lao động sau khi giải quyết tranh chấp lao động
2.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trình tự, thủ tục là các bước tiến hành giải quyết sự kiện hoặc vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước Trình tự thủ tục thường gắn liền với cơ quan hoặc người có thẩm quyền do pháp luật quy định cụ thể trong văn bản pháp luật Khi xảy
ra tranh chấp, trước hết các bên sẽ tiến hành thương lượng với nhau để tự giải quyết Trong trường hợp không thành thì một trong các bên sẽ gửi đơn yêu cầu hòa giải
của Hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động được quy định lần lượt tại
1 Trần Mỹ Linh (2020), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo Bộ luật Lao động năm 2019, Luận văn Thạc
sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 47
Trang 8Điều 188, 189 BLLĐ năm 2019 Quy trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo BLLĐ năm 2019 được trình bày tại bảng 1 Phụ lục
Về mặt tố tụng, giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án được quy định trong pháp luật TTDS, giống như các vụ án dân sự khác, tranh chấp lao động cá nhân
có thể được giải quyết theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Sau khi bản án, quyết định
sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực, bản án, quyết định đó có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
2.4 Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhằm mục đích
ổn định quan hệ lao động Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu các cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể mất quyền yêu cầu
BLLĐ năm 2019 kế thừa các quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao đọng
cá nhân của BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm 2019 đã bổ sung thêm quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động đối với Hội đồng trọng tài lao động, bổ sung trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật tại khoản 2 và khoản 4 Điều
190 BLLĐ năm 2019
Việc bổ sung thêm thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Như vậy, quy định mới này
sẽ tạo điều kiện cho NLĐ cũng như NSDLĐ thực hiện quyền yêu cầu của mình một cách tốt nhất, nhất là trong thời kỳ vấn đề lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh hiện nay
Trong một số trường hợp, xuất hiện tình trạng trốn tránh, che giấu hành vi vi phạm
đóng bảo hiểm xã hội mà NLĐ không thể biết được, khi phát hiện ra thì thời hiệu khởi kiện đã hết Vì thế việc quy định thời hiệu khởi kiện từ ngày phát hiện ra hành
vi vi phạm như BLLĐ hiện hành là hoàn toàn hợp lý
2 Nguyễn Năng Quang, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo BLLĐ năm 2019, Tạp chí Pháp luật và Kinh
Trang 93 Thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
3.1 Những kết quả đạt được
Trong quan hệ việc làm, tranh chấp là cố hữu và tất yếu, vì vậy việc thiết lập các quy trình phòng ngừa và giải quyết tranh chấp hiệu quả là chìa khóa làm giảm thiểu tranh chấp tại nơi làm việc và những hậu quả của nó
So với BLLĐ năm 2012, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ở BLLĐ năm 2019 đã khắc phục được những bất cập của quy định tại bộ luật cũ, tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp theo hướng linh hoạt, tạo điều kiện cho các bên có thể lựa chọn
cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của BLLĐ 2019 đã góp phần định hướng việc giải quyết tranh chấp sang mô hình chủ yếu là tự nguyện và tự chọn bởi các bên tranh chấp trong thời gian tới, tạo thuận lợi cho NLĐ và NSDLĐ, góp phần tiết kiệm được thời gian và kinh phí Với những điểm mới trên, BLLĐ năm 2019 đã thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp lao động phù hợp
Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và nhiệm kỳ 2016 – 2020 của Tòa án
giải quyết 3.789 vụ việc; đạt tỷ lệ 93,2% Các vụ án lao động mà Tòa án phải giải quyết chủ yếu là tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (947 vụ); tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương (1.232 vụ); tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (560 vụ)
Đối với hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, tỷ lệ vụ việc tranh chấp về lao động được hòa giải thành đạt 60% Hòa giải viên lao động mới bước đầu tham gia giải quyết một số tranh chấp lao động cá nhân ở một số tỉnh, thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương (bình quân mỗi Hòa giải viên tham gia
3.2 Khó khăn, vướng mắc
Báo cáo tại một số tỉnh, thành phố cho thấy, tranh chấp lao động (TCLĐ) cá nhân
3 Cổng thông tin điện tử Tòa án Nhân dân tối cao, https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND155594#ID462E
4 Cổng Thông tin điện tử Quốc Hội, Thực trạng các tranh chấp dân sự được hòa giải ngoài tố tụng dân sự,
https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=44825
5 ILO (2020), Giải quyết tranh chấp lao động tại địa phương – triển khai thực hiện Bộ luật Lao động 2019, Bản tin Quan hệ
Lao động, số 35 – Quý IV, tr 10.
Trang 10các địa phương, hoạt động giải quyết TCLĐ của hòa giải viên lao động chủ yếu là giải quyết TCLĐ cá nhân Tuy nhiên, số vụ TCLĐ cá nhân được hòa giải viên lao động tiếp nhận còn chiếm số ít so với số TCLĐ cá nhân thực tế xảy ra tại các DN trên địa bàn (Bắc Ninh) Hơn nữa, hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân vẫn còn hạn chế tại một số tỉnh, thành phố (Tp Hồ Chí Minh)
Khi triển khai thực hiện BLLĐ 2019 về giải quyết TCLĐ, một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt các quy định pháp luật lao động Việc giải quyết TCLĐ gặp khó khăn do sự thiếu thiện chí của các bên trong QHLĐ (Tp.HCM) Nhiều DN chưa nhận thức được lợi ích khi xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ tại DN
Đội ngũ HGVLĐ và thành viên HĐTTLĐ hiện làm việc nhiêm nhiệm, phải đảm đương nhiều việc Trong khi đó, các địa phương đều gặp khó khăn trong việc bố trí biên chế để thực hiện thí điểm mô hình giải quyết TCLĐ với việc bố trí một số HGVLĐ, trọng tài viên lao động (TTVLĐ) chuyên trách để vừa giải quyết TCLĐ, vừa hỗ trợ phát triển QHLĐ
Quy định tại khoản 6 Điều 188 BLLĐ năm 2019 làm mất đi giá trị pháp lý và ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài Ngoài ra, quy định này cũng chưa điều chỉnh về trường hợp các bên
có thực hiện, nhưng thực hiện không đầy đủ nội dung đã thỏa thuận (hoặc đã giải quyết) thì cơ chế giải quyết sẽ ra sao
Về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua Hội đồng trọng tài: Theo quy định của BLLĐ 2019, vai trò của Hội đồng trọng tài không khác biệt với hòa giải viên, dừng lại ở việc hỗ trợ hai bên hòa giải, chưa có quy định về căn cứ ban hành phán quyết giải quyết của Ban trọng tài và quyết định giải quyết được đảm bảo thi
tài suy giảm, kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp khi kết quả giải quyết dễ dàng
bị phá vỡ khi một bên không thực hiện
Một số điều khoản trong BLTTDS chưa đồng bộ, không nhất quán, chồng chéo gây lúng túng và khó khăn cho hai bên trong QHLĐ đối với cá nhân, cơ quan giải quyết tranh chấp lao động Tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh
6 Trần Mỹ Linh (2020), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo BLLĐ năm 2019, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học