Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở việt nam hiện nay
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TƯ BẢN CHO VAY 5
1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH: 5
1.2 KHÁI NIỆM TƯ BẢN CHO VAY: 6
1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC NĂNG CỦA TƯ BẢN CHO VAY: 6
1.4 LỢI TỨC VÀ TỶ SUẤT LỢI TỨC: 8
1.5 VÍ DỤ VỀ LỢI TỨC: 10
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở 12
VIỆT NAM HIỆN NAY 12
2.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG: 12
2.2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 17:
2.3 ĐẨY MẠNH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM: 19
2.3.1 VẤN ĐỀ: 19
2.3.2 GIẢI PHÁP: 20
2.4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: 22
2.4.1 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÁ NHÂN: 22
2.4.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP: 23
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hoạt động tín dụng từ lâu vẫn luôn là hoạt động cơ bản nhất của các ngân hàngthương mại trên thế giới, mang lại nguồn thu nhập lớn cho các ngân hàng Song song
với hoạt động tín dụng đó, rủi ro về tín dụng cũng luôn là yếu tố thường trực và có ảnh
hưởng toàn diện đến hoạt động Ngân hàng Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị
trường, sản xuất hàng hoá phát triển, nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ
sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy
các doanh nghiệp phải cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình Ở nước
ta hiện nay hầu hết các doanh nghiệp có vốn nhỏ, máy móc thiết bị, cộng nghệ lạc hậu
đang rất cần nhiều vốn đầu tư, chính vì vậy vai trò của tín dụng ngân hàng lại càng
chiếm vị trí quan trọng Nó là nguồn dẫn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ đó đáp ứng
các nhu cầu về vốn góp phần thúc đẩy phát triển đất nước Trong bối cảnh hội nhập
của nền kinh tế Việt Nam vàonền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tài chính củanước ta, thị trường ngân hàng cũng đã có nhiều khởi sắc, đánh dấu
bước pháttriển mới cả về chất lẫn về lượng của hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy
nhiên, để theo kịp với trình độ phát triển chung của thế giới, việc nâng cao vị thế của
tín dụng ngân hàng ở Việt Nam cũng là một đề tài đáng chú ý Để có thể hiểu rõ hơn
về hoạt động tín dụng ở Việt Nam và vai trò to lớn của nó trong nền kinh tế thị trường
nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần phát triển nền kinh
tế Việt Nam, nhóm chúng tôi chọn chủ đề : “SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận
này
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
-Bản chất của tư bản cho vay và Tín dụng ngân hàng
-Sự phát triển tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
Trang 33 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-Không gian: ở Việt Nam-Thời gian: 2016 - 2020
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
-Thứ nhất, phân tích khái niệm và đặc điểm của tư bản cho vay, lợi tức, tỷ suất
lợi tức và sự phân chia lợi ích trong hoạt động cho vay
-Thứ hai, giới thiệu về tín dụng ngân hàng
-Thứ ba, đánh giá thực trạng của tín dụng ngân hàng thương mại ở Việt Namtrong giai đoạn 2016-2020
-Thứ bốn, đề xuất giải pháp phát triển tín dụng ngân hàng thương mại ở ViệtNam hiện nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
-Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
+Phương pháp trừu tượng hóa khoa học+Phương pháp phân tích tổng hợp+Phương pháp logic và lịch sử
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương:
-Chương 1: Tư bản cho vay-Chương 2: Sự phát triển của tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện Nay
Trang 4Chương 1: TƯ BẢN CHO VAY
1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH:
Cùng thời tiền tư bản chủ nghĩa cùng với sự phát triển mạnh của các loại hìnhthương nghiệp thì các hình thức cho vay nặng lãi cũng bắt đầu xuất hiện Điều này làm
tiền đề cho một hình thức kinh tế xã hội mới ra đời Tư bản cho vay đã hình thành từ
rất lâu sớm hơn cả tư bản công nghiệp, đó là hình thức cho vay nặng lãi, có đặc điểm
là lãi suất rất cao, là hình thức bốc lột dã man Các hình thức tư bản cho vay này bắt
đầu xuất hiện nhiều ở nước ta, người đi vay là những người nông dân túng thiếu tiền
bạc, vật chất Tiền vay về không phải để làm tư bản Do đó mà tư bản cho vay dưới
chủ nghĩa tư bản hoàn toàn khác tư bản cho vay nặng lãi Tư bản cho vay dưới chủ
nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra trong quá trình tuần hoàn
của tư bản
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển đó, thường xuyên có một bộ phận tưbản tiền tệ nhàn rỗi, chẳng hạn như: tiền mua nguyên vật liệu nhưng chưa đến kì hạn
mua; quỹ tiền lương trả cho công nhân nhưng chưa đến kì hạn phải trả; tiển trong quỹ
khấu hao nhưng chưa đến thời kỳ đổi mới,…
Số tiền để nhàn rỗi này nếu không mang lại thu nhập lợi ích cho tư bản, tức làkhông sinh ra lợi Thay vì để khoản tiền đó nằm không như vậy, thì họ sẽ mong muốn
cho người khác vay mượn đồng tiền đó Và đồng thời trong khoảng thời gian đó,
những đồng tiền cho mượn đó sẽ sinh ra lợi tức cho người cho vay Đồng tiền của họ
lúc này có thể đẻ được ra tiền Bên cạnh những người mong muốn cho người khác vay
thì hẳn cũng sẽ có những nhà tư bản túng thiếu tiền bạc, cần để mua nguyên vật liệu để
sản suất chẳng hạn, tất yếu họ sẽ phải đi vay mượn tiền
Từ những mối quan hệ cho vay mượn này mà tư bản cho vay được hình thành
và hình thành trên cơ sở tư bản nhàn rỗi
1.2 KHÁI NIỆM TƯ BẢN CHO VAY:
Trang 5Qua phần 1.1, ta có thể hiểu tư bản cho vay là bản tư tiền tệ tạm thời nhàn rỗi màngười chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định,và sau khoảng
thời gian đó họ sẽ nhận được số tiền lời nào đó Số tiền lời đó được gọi là lợi tức Tư
bản cho vay là một hình thức tư bản xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản Điều kiện tồn
tại của tư bản cho vay là sản phẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức
năng của mình Trước chủ nghĩa tư bản, hình thức đặc trưng của tư bản cho vay là tư
bản cho vay nặng lãi (cho vay với lãi suất cắt cổ, lãi mẹ đẻ lãi con) Giai cấp tư sản
ngay từ khi ra đời, trong quá trình chuyển thành giai cấp thống trị đã đấu tranh chống
lại tư bản cho vay nặng lãi và đứng ra tổ chức lấy sự vay mượn của mình để thúc đẩy
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển
Tư bản cho vay hình thành trên mối quan hệ vay mượn giữa những nhà tư bảnkhác nhau Có thể hiểu người tư bản này túng thiếu thì người khác cho mượn trong
khoảng thời gian nào đó, nhưng sau đó phải trả lại cho người cho vay số tiền đã mượn
cộng với khoảng tiền lãi sinh ra Do đi từ nhu cầu đó nên tư bản cho vay giữ một vị thế
rất cao trong xã hội tư bản và ngày càng phát triển hơn trước
1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC NĂNG CỦA TƯ BẢN CHO VAY:
-Tư bản cho vay có những đặc điểm sau:
+Quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản Đối với người cho vay nó là tưbản sở hữu, đối với người đi vay nó là tư bản sử dụng Chủ thể sử dụng tư bản chỉ
được sử dụng trong khoảng thời gian nhất định, không có quyền sỡ hữu
+Tư bản cho vay là một hàng hóa đặc biệt, vì khi cho vay người bán không mất
quyền sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất định
Và khi sử dụng thì giá trị của nó không mất đi mà thậm chí còn tăng lên Giá cả của nó
không do giá trị mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay, do khả năng tạo ra lợi tức
của nó quyết định Lợi tức chính là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay
+Tư bản cho vay là tư bản được "sùng bái" nhất Do vận động theo công thức T
-T' (T’ = T + z) nên nó gây ấn tượng hình thức tiền có thể trực tiếp đẻ ra tiền (không
phản ánh rõ nguồn gốc của lợi tức cho vay)
Trang 6+Sự hình thành tư bản cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ hàng hóa tiền tệ đến một trình độ nhất định làm xuất hiện một quan hệ là: có nơi tiền tệ tạm thời
-nhàn rỗi, có nơi lại thiếu tiền để hoạt động
+Tư bản cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở rộng sảnxuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản Do đó nó góp phần
làm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội
-Chức năng của tư bản cho vay :+Đối tượng của tư bản cho vay rất đa dạng, chẳng hạn giai cấp thống trị, haynhững người có tiền của nhưng nguồn thu lãi suất chủ yếu và chắc chắn của nó thì lại
chỉ có một Do tư bản cho vay và tư bản thương nghiệp đều được tách ra từ tư bản
công nghiệp nên tư bản cho vay phụ thuộc nhiều vào sự vận động của tư bản công
nghiệp, và phần nào cũng là từ tư bản thương nghiệp Nhà tư bản đi vay về, phải sử
dụng tư bản tiền tệ ấy vào việc sản xuất, và chỉ sau khi lần lượt trải qua ba giai đoạn
tuần hoàn của nó, tư bản mới mang lại giá trị thặng dư, một phần giá trị thặng dư phải
đem nộp cho nhà tư bản cho vay tiền Bộ phận giá trị thặng dư này được gọi là lợi tức
Nếu người đi vay là nhà tư bản công nghiệp thì lợi tức là số tiền khấu trừ vào lợi
nhuận trung bình mà nhà tư bản công nghiệp thu được Nếu người đi vay là nhà tư bản
thương nghiệp thì lợi tức là số tiền khấu trừ vào lợi nhuận trung bình mà nhà tư bản
thương nghiệp thu được Về phía nhà tư bản đi vay, thì vì họ không có tư bản hoạt
động đề đưa vào sản xuất kinh doanh để rồi cho ra lợi nhuận Còn về phía tư bản cho
vay thì họ nhường quyền sở hữu tư bản của mình cho người khác trong một khoảng
thời gian nhất định nào đó, và sau đó họ thu được lợi tức
+Tư bản cho vay là hàng hoá vì nócũng có giá trị và giá trị sử dụng, có ngườimua, có người bán, có giá cả và giá cả của nó cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu,
nếu cung thấp hơn cầu thì giá trị của hàng hóa tăng và ngược lại, Nhưng tư bản cho
vay là loại hàng hoá đặc biệt, bởi vì người bán không mất quyền sở hữu giống như
trong quan hệ mua bán Khi người mua sử dụng thì giá trị và giá trị sử dụng của nó
không mất đi, mà còn tăng lên, nhiều hay ít là do khả năng tạo ra lợi nhuận của nó
quyết định Cũng tương tự như số tiền chúng ta gửi vào ngân hàng, nếu số tiền càng
nhiều thì số tiền lãi đẻ ra là nhiều hơn Thực ra sự vận động của tư bản cho vay không
Trang 7thể tách rời sự vận động của tư bản công nghiệp Sở dĩ tiền tệ dưới dạng tư bản cho
vay tăng lên được là do trong thực tế nó vận động theo công thức: T-T'-H
(SLD+TLSX) +SX H’-T’-T Trong đó T-T’ và T’-T chỉ là điểm mở đầu và điểm kết
thúc,là sự chuẩn bị và kết quả vận động tuần hoàn của tư bản công nghiệp Đóng vai
trò trung gian luân chuyển tiền tệ song tư bản cho vay là phần không thể thiếu trong xã
hội tư bản Tư bản công nghiệp có vốn để tiếp tục sản xuất hoặc tái sản xuất mở rộng,
kéo theo tư bản thương nghiệp được mở rộng phạm vi hoạt động và đẩy mạnh kinh
doanh, thị trường
1.4 LỢI TỨC VÀ TỶ SUẤT LỢI TỨC:
Phần trên chúng ta đã đề cập đến nền kinh tế thị trường, sẽ xuất hiện hiện tượng
có chủ thể có lượng tiền nhàn rỗi, có chủ thể lại cần tiền để kinh doanh Người cho vay
sẽ thu được lợi tức Vậy thì ta có thể hiểu nôm na lợi tức là cái mà tư bản đi vay phải
trả lại cho tư bản cho vay căn cứ vào lượng tư bản tiền tệ mà nhà tư bản cho vay đã bỏ
ra cho nhà tư bản đi vay sử dụng
Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản chovay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một khoảng thời gian
nhất định Đây là quan hệ kinh tế phản ánh quan hệ lợi ích giữa người đi vay và người
cho vay
Ngay từ khi được cho vay tiền trở thành tư bản, và sẽ đẻ ra lợi nhuận được nếuđược chuyển từ người cho vay sang người đi vay Ở đây, cùng một số tiền đã tồn tại là
tư bản hai lần với cả hai người cho vay và người đi vay, nhưng lợi nhuận không có
nghĩa là có thể tăng gấp đôi Khi đấy nó chỉ đem lại một lợi nhuận duy nhất cho người
đi vay, còn lợi tức chỉ là một phần lợi nhuận trung bình mà nhà tư bản đi vay hoạt
động tạo ra và thu lại được để trả lại cho tư bản cho vay Như vậy, thực chất lợi tức
cũng chỉ là một phần của giá trị thặng dư mà tư bản đi vay thu được nhờ sử dụng tư
bản cho vay, trả lại cho chủ sở hữu là tư bản cho vay Vì vậy, có thể khẳng định tư bản
cho vay cũng gián tiếp bốc lột công nhân làm thuê thông qua nhà tư bản đi vay
Như vậy, khi tư bản cho vay hưởng được lợi tức từ tư bản đi vay thì sẽ xuất hiệnkhái niệm mới gọi là suất lợi tức Suất lợi tức là tỉ lệ so sánh, tính theo phần trăm giữa
Trang 8lợi tức và tư bản cho vay Suất lợi tức cao hay thấp tùy thuộc vào mối quan hệ cung
cầu về tiền vay, tuy nhiên thì suất lợi tức sẽ không cao bằng suất lợi nhuận trung bình,
bởi vì nếu suất lợi tức mà lại cao hơn cái lợi nhuận mà tư bản đi vay tạo ra được thì
chẳng một ai đi vay để kinh doanh nữa Dĩ nhiên cũng không thể nào hạ xuống tới
mức bằng 0, nếu thế cũng sẽ không ai dám cho vay nữa
Gọi Z’ là tỷ suất lợi tức, Z là lợi tức, TBCV là tư bản cho vay, thì công thức tính
tỷ suất lợi tức như sau:
Z’= (Z/TBCV) x 100%
Nhà tư bản cho vay cho nhà tư bản đi vay mượn và sử dụng một khoảng tư bảntiền tệ của mình để rồi sau một khoảng thời gian nhất định, họ lại thu được cái họ cho
vay đó và luôn cả thêm phần lợi tức Do vây mà cái tư bản tiền tệ cho vay lúc đầu đó
về sau chia làm hai phần: một thuộc về người sử dụng tư bản, một thuộc về người sở
hữu tư bản dưới hình thức là lợi tức
Tư bản cho vay là tư bản sinh lợi tức Nguồn gốc của lợi tức là giá trị thặng dư
Công thức vận động của tư bản cho vay là T – T’(T’=T + z) Do đó lợi tức sinh ra bề
ngoài hình như nguồn gốc của lợi tức không phải là giá trị thặng dư do công nhân sáng
tạo ra, mà là so bản thân tiền tệ sinh ra Thực vậy, trong công thức chung của tư bản T
– H – T’, mặc dù T’ hình như lớn lên chỉ do việc mua và bán, nhưng ít nhất người ta
cũng còn thấy một khâu trung gian là mua và bán (H), người ta còn thấy số tiền lãi đó
là sản phẩm của một quan hệ sản xuất xã hội, quan hệ mua bán Còn trong công thức
của tư bản cho vay T – T’, thì không có khâu trung gian nào T đem lại t (t là lợi tức), t
biểu hiện thành con đẻ của T Thực ra thì sự vận động của tư bản cho vay hoàn toàn
dựa vào sự vận động của tư bản công nghiệp và công thức T – T’ chỉ là sự tóm tắt giản
đơn của công thức sau đây:
S
TL
Trang 9Công thức này nói rõ:
-Nhà tư bản cho vay dựa vào hoạt động của nhà tư bản hoạt động, còn nhà tư bảnhoạt động dựa vào quyền sở hữu của nhà tư bản cho vay kiếm giá trị thặng dư
-Lợi tức của nhà tư bản cho vay (t) chẳng hạn chỉ là một bộ phận giá trị thặng dư
do lao động của công nhân sáng tạo ra trong sản xuất
1.5 VÍ DỤ VỀ LỢI TỨC:
Nhắc đến lợi tức sinh lời từ việc gì đó, chúng ta không thể bỏ qua “cổ phiếu”
Gỉa sử như bạn giành ra 500 nghìn để mua cổ phiếu của công ty A, đến cuối năm bạn
sẽ được công ty đó chia lợi nhuận bằng 10% số tiền bạn đầu tư trước đó và giá trị cổ
phiếu của bạn cũng tăng 20% so với giá ban đầu mua, thì lợi tức bạn nhận được sẽ là
(10%+20%)x500 nghìn = 150 nghìn
Hiện nay có rất nhiều loại lợi tức phổ biến như chiết khấu, lợi tức theo thờigian,
1.5.1 CƠ SỞ CHIẾT KHẤU NGÂN HÀNG:
Hiểu theo cách đơn giản nó có nghĩa là lợi tức sẽ được ngân hàng báo cáo rõ trêntổng số tiền mà khách hàng sẽ được ngân hàng chi trả khi hợp đồng đáo hạn và tìm các
nhà đầu tư trả giá thấp hơn để mua Ở trường hợp này lợi nhuận của nhà đầu tư là
chiết khấu, tuy nhiên để có thể tính được khoảng lợi tức được nhận thì nó còn phải căn
cứ vào khoảng chênh lệch đã được chuyển đổi sang tỷ lệ phần trăm hàng năm
Lợi tức = (D/F) x (360/T)Trong đó: D: Giá trị chiết khấu, bằng mệnh giá trừ số tiền phải trả (D = F-T)
F: Mệnh giáT: Số ngày tính đến khi đáo hạn
Trang 10Ví dụ: Bạn mua một trái phiếu kho bạc có mệnh giá 100.000 đô la chỉ phải trả97.000 đô la Trái phiếu này sẽ đáo hạn trong vòng 279 ngày Vậy lợi tức chiết khấu
ngân hàng lúc này là bao nhiêu?
Lợi tức = (3.000 /100.000) x (360/279) = 0,0387
= 3,9% (Quy đổi phần trăm)
1.5.2 LỢI TỨC THEO THỜI GIAN NẮM GIỮ:
HPY = (P1 – P0 + D1)/P0Trong đó: P1: Số tiền nhận được khi đáo hạn
P0: Gía mua của khoản đầu tư D1: là tiền lãi nhận được vào ngày đáo hạn
1.5.3 LỢI TỨC HIỆU DỤNG NĂM:
Đây là cách giúp các doanh nghiệp xác định lợi tức một cách chính xác, đặc biệt
là khi doanh nghiệp đó đã có sẵn các cơ hội đầu tư thay thế cho việc áp dụng lãi kép
EPY = (1 + HPY)^(365/T) -1 Trong đó: HPY: khoảng lợi tức trong khoảng thời gian doanh nghiệp đầu tư
T: số ngày tính đến thời điểm đáo hạn
1.5.4 LỢI TỨC THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ:
Lợi tức trên thị trường tiền tệ còn được gọi với một cái tên khác là là lợi tứctương đương chứng chỉ tiền gửi Với cách tính này bạn sẽ so sánh lợi tức trên trái
phiếu kho bạc với lãi từ công cụ tiền tệ Thông thường những khoản đầu tư nay là
ngắn hạn và được chia thành các khoản tương đương
MMY = (360 x YBD)/ 360 – (T x YBD)Trong đó: YBD : lợi tức trên cơ sở chiết khấu ngân hàng đã được tính
T: số ngày tính đến thời điểm đáo hạn
Trang 11Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:
Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển:
-Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phongkiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được
thiết lập và hoạt độngchủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam
Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng
đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông Dương Thực chất,
Ngân hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngân hàng phát hành Trung
ương, đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ ngân
hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư
-Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyềncách mạng là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng
của chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước Nhiệm vụ này dần trở thành hiện
thực khi bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam
ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến
trường, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng Sự chuyển biến của cục diện
cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu
cầu mới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ II (tháng 02/1951) đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm
vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý
Kho bạc nhà nước, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với
mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch Sự ra đời của Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, là kết quả nối tiếp của quá trình đấu
tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển
mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta
Trang 12-Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955-1975), hoạt động của Ngân hàngQuốc gia tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các
nguyên tắc quản lý kinh tế XHCN; xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào
phục vụ phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến
nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thiết lập vai trò ngân hàng là trung tâm
thanh toán của nền kinh tế; mở rộng quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế; thực hiện
chế độ Nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối
-Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàngNhà nước Việt Nam (NHNN)
-Thời kỳ 1975-1985 là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh Ngân hàngNhà nước Việt Nam đã thực hiện thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền
Nam; thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc; phát hành các loại tiền mới của nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà
nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt
động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
-Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với địnhhướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh Tháng
5/1990,Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Sự ra đời của 2
Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam từ một cấp sang hai cấp Trong đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm
vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ
pháp luật
-Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaNHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998,
Trang 13vay Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế, số vốn sẽ được dịch chuyển từ
nơi thừa sang thiếu với điều kiện hoàn trả vốn, lãi cho người cho vay
-Tín dụng ngân hàng cũng vậy, đó là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng vớitất cả các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong xã hội Tuy nhiên, tín dụng ngân
hàng là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó chính
là ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là gì?
-Như đã nói ở trên, tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người chovay và người vay Trong mối quan hệ này, người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử
dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay một thời gian nhất định Lúc này, người đi
vay có nghĩa vụ phải thanh toán tiền gốc/giá trị hàng hóa kèm lãi (nếu có) khi đến thời
hạn
-Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng(TCTD) với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao
tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong
hợp đồng Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời
hạn
-Trong nền kinh tế, ngân hàng không chỉ là định chế tài chính mà còn là ngườicho vay, đồng thời là người đi vay Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung cấp
tín dụng cho cá nhân, tổ chức Ngược lại, với tư cách là người đi vay ngân hàng sẽ
nhận tiền gửi từ cá nhân, doanh nghiệp hoặc chứng chỉ tiền, trái trái phiếu nhằm huy
động vốn trong xã hội
Trang 14-Tại các ngân hàng nhà nước hiện nay, tín dụng sẽ được chia ra làm 2 mảngchính:
+Tín dụng cá nhân: Đáp ứng nhu cầu cải thiện chất lượng đời sống như tiêudùng, mua sắm, vay mua nhà, mua ôtô, du học, kinh doanh…
+Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, đáp ứng cácnhu cầu cần vốn để sản xuất kinh doanh như mua sắm máy móc, thanh toán công nợ…
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
-So với các hình thức khác, tín dụng ngân hàng mang đến nhiều ưu điểm nổi bật
+Nguồn vốn bằng tiền đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng vay
+Thời hạn cho vay linh hoạt, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Ngân hàng có thểđiều chỉnh nguồn vốn với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu về thời hạn cho khách hàng
+Thỏa mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của cá nhân, tổ chức trong nền kinh
tế vì có thể huy động nguồn vốn dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn
Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng khác nhau tùy theo mục đíchnghiên cứu Tuy nhiên, thông thường người ta thường phân loại theo một vài yếu tố
sau:
-Thời hạn tín dụng+Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn dưới 12 tháng
+Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng
+Tín dụng dài hạn: Thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng