Kinh tế chính trị là một môn khoa học xã hội. Tên gọi kinh tế chính trị xuất hiện do kết hợp các từ có nguồn gốc Hy Lạp với nghĩa là Thiết chế xã hội. Danh từ khoa học kinh tế chính trị được đưa ra vào năm 1615. Đi sâu tìm hiểu, phân tích, giải thích để nhằm tìm ra được lời giải thích đúng đắn nhất về các vấn đề thuộc phạm trù kinh tế, trong đó có “hòn đá tàng” về giá trị thặng dư, phạm trù hàng hóa và giá trị của hàng hóa Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Tìm hiểu về hàng hoá, bên cạnh điều kiện ra đời, tồn tại và đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hoá và các thuộc tính của nó, chúng ta cũng cần quan tâm các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá. Huyện A là một huyện trọng điểm chăn nuôi bò sữa tại tỉnh HẬU GIANG. Đến nay, số lượng bò sữa huyện A đã lên tới khoảng 16.000 con. Sự quan tâm vào cuộc của chính quyền địa phương, sự hỗ trợ của các nhà băng (ngân hàng), sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật của các trường, vụ, viện, trung tâm, sự đồng hành của các doanh nghiệp để các hộ nông dân huyện A ký hợp đồng thu mua sữa đã giúp họ chăn nuôi bò sữa khá bền vững.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG
TÊN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
TÊN BÀI THU HOẠCH:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA - VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN VIỆC NÂNG CAO GIÁ TRỊ CỦA CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI HUYỆN A, TỈNH HẬU GIANG
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2Phần 2 Nội dung: trang 2 2.1 Những vấn đề lý luận có liên quan trang 2 2.1.1 Khái niệm hàng hóa và giá trị của hàng hóa trang 2 2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa trang 2 2.1.3 Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đối với Việt Nam trang 3 2.2 Vận dụng vào thực tiễn việc nâng cao giá trị của chăn nuôi bò sữa tại huyện
A, tỉnh HẬU GIANG trang 7 2.2.1 Thực trạng chăn nuôi bò sữa huyện A, tỉnh HẬU GIANG trang 8 2.2.2 Thực trạng phân phối và tiêu thụ sữa bò tươi tại huyện A .trang 10 2.2.3 Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trang 11 2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế mô hình chăn nuôi
bò sữa tại huyện A, tỉnh HẬU GIANG trang 12 Phần 3 Kết luận trang 16
Trang 3Phần 1: MỞ ĐẦU
Kinh tế chính trị là một môn khoa học xã hội Tên gọi kinh tế chính trị xuất hiện do kết hợp các từ có nguồn gốc Hy Lạp với nghĩa là "Thiết chế xã hội" Danh
từ khoa học "kinh tế chính trị" được đưa ra vào năm 1615 Đi sâu tìm hiểu, phân tích, giải thích để nhằm tìm ra được lời giải thích đúng đắn nhất về các vấn đề thuộc phạm trù kinh tế, trong đó có “hòn đá tàng” về giá trị thặng dư, phạm trù hàng hóa
và giá trị của hàng hóa
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Tìm hiểu về hàng hoá, bên cạnh điều kiện ra đời, tồn tại và đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hoá và các thuộc tính của nó, chúng ta cũng cần quan tâm các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá
Huyện A là một huyện trọng điểm chăn nuôi bò sữa tại tỉnh HẬU GIANG Đến nay, số lượng bò sữa huyện A đã lên tới khoảng 16.000 con Sự quan tâm vào cuộc của chính quyền địa phương, sự hỗ trợ của các nhà băng (ngân hàng), sự giúp
đỡ về mặt kỹ thuật của các trường, vụ, viện, trung tâm, sự đồng hành của các doanh nghiệp để các hộ nông dân huyện A ký hợp đồng thu mua sữa đã giúp họ chăn nuôi
bò sữa khá bền vững
Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi bò sữa vẫn còn những khó khăn, trở ngại như con giống, thức ăn chăn nuôi, kiến thức chăn nuôi… đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi bò sữa huyện A khi mà phần lớn là những hộ dân chăn nuôi bò sữa Do đó, việc đánh giá lại hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò sữa dựa vào lý thuyết về “các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa”là hết sức cần thiết để giúp cho các hộ nông dân, lãnh đạo chính quyền địa phương có cái nhìn toàn cảnh về mô hình chăn nuôi bò sữa Từ đó, có những chính sách phù hợp trong việc quy hoạch, quản lý mô hình chăn nuôi bò sữa của hộ nông dân trên địa
bàn huyện A Do đó, học viên đã lựa chọn đề tài viết bài thu hoạch “Phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa - vận dụng vào thực tiễn việc nâng cao giá trị của chăn nuôi bò sữa tại huyện A, tỉnh HẬU GIANG”
Trang 4Phần 2: NỘI DUNG 2.1 Những vấn đề lý luận có liên quan
2.1.1 Khái niệm hàng hóa và giá trị của hàng hóa
Hàng hóa, theo quan điểm của C.Mác trước hết là một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thỏa mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người: “Dù cho những nhu cầu đó do dạ dày hay do trí tưởng tượng đẻ ra, thì bản chất của chúng vẫn không làm cho vấn đề thay đổi gì cả vấn đề cũng không phải là ở chỗ vật đó thỏa mãn nhu cầu của con người như thế nào: hoặc giả một cách trực tiếp, với tư cách là tư liệu sinh hoạt, tức là với tư cách là vật phẩm tiêu dùng, hoặc giả một cách gián tiếp, với tư each là tư liệu sản xuất”
Như vậy, có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người, được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nỏ tiêu dùng, mà để bán.
Giá trị của hàng hóa, theo C.Mác, là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Để đưa đến khái niệm giá trị nêu trên, C.Mác đặt vấn đề: Tại sao các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau? C.Mác lý giải,
sở dĩ các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau là
vì giữa chúng có điểm chung là kết quả của sự hao phí sức lao động Với nghĩa đó, giá trị của hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Nguồn gốc của giá trị là do lao động tạo ra
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa
Theo C.Mác, sự thay đổi lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu sau đây: sức sản xuất của lao động, cường độ lao động và tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động
Một là, sức sản xuất của lao động.
Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi rất nhiều tình hình, trong đó có: trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển khoa học
và trình độ áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trinh sản xuất, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện thiên
Trang 5nhiên Như vậy là “đại lượng giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa theo đó và tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”
Sức sản xuất của lao động tăng thì trong cùng một đơn vị thời gian số lượng sản phẩm tăng lên, nhung thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, do đó giá trị của một đơn vị sản phẩm giảm xuống
Hai là, cường độ lao động là mức độ khẩn trương, hay mật độ lao động trong
một đơn vị thời gian
Cường độ lao động tăng lên thi số lượng sản phẩm trên một đơn vị thời gian tăng lên, đồng thời tổng số giá trị hàng hóa tạo ra trong một đơn vị thời gian cũng tăng lên Tuy nhiên, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa không giảm, bởi vì tăng cường độ lao động có khi quá mức làm tăng hao phí lao động cho một đơn vị hàng hóa Tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động
Ba là, tính chất giản đơn hay phức tạp của lao động.
Lao động giản đơn là lao động mà bất cứ một người lao động bình thường nào cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động phải qua học tập, đào tạo, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm mới có được Trong cùng một đơn vị thời gian thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn và khi trao đổi, người ta quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn đưực lũy thừa lên Như vậy, đến đây có thể khái quát, lượng giá trị của hàng hóa là thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
Cần chú ý là, để sản xuất hàng hóa không những chỉ cần lao động sống hao phí trong quá trình ché biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới mà còn cần cả các yểu tố khác như công cụ, nguyên nhiên vật liệu, đây là có thể được coi là những lao động đã được vật hóa Do đó, xét về két cấu, lượng giá trị của một hàng hóa được tạo ra phải bao gồm lượng giá trị đã được vật hóa trong tư liệu sản xuất được dùng
để sản xuất ra hàng hóa và lượng giá trị mới do hao phí lao động sống tạo ra trong quá trình tạo ra hàng hóa đó
2.1.3 Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đối với Việt Nam
Trang 6Học thuyết giá tri thặng là cơ sở khoa học cho việc luận giải tính chất lịch sử của phương thức sản xuất to bản chủ nghĩa
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế the giới nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam đều phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của quy luật giá trị thặng
dư Khi chúng ta “mời gọi” vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ngay cả vốn ODA; đồng thời khuyến khích tạo điều kiện cho người lao động làm thuê cho chủ đầu tư kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa (cả trong nước và nước ngoài) có nghĩa là chấp nhận bóc lột ở mức độ nhất định hay tạo điều kiện cho quy luật giá trị thặng dư hoạt động và phát huy tác dụng
Trong điều kiện và phạm vi xác định, quy luật giá trị thặng dư cũng như các quy luật kinh tể của chủ nghĩa tư bản có đóng góp quan trọng cho sự tién bộ của nhân loại; thế nhưng chủ nghĩa tư bản chỉ có ý nghĩa và sứ mệnh lịch sử, nỏ phải bị thay thế bằng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn Đó là chủ nghĩa xã hội Đảng
ta đã đánh giá là kết luận về địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản như sau: “Chủ nghĩa
tư bản hiện đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”
Học thuyết giá trị thặng dư là cơ sở khoa học vững chắc trong thời đại ngày nay khi khẳng định nguồn gốc sự giàu có là từ tăng năng suất lao động xã hội
Đối với Việt Nam, có nhiều ý kiến đánh giá năng suất lao động còn thấp, tụt hậu so với các nước trong khu vực Do đó, Nhà nước cũng như các chủ thể sản xuất kinh doanh cần quan tâm đề ra nhiều giải pháp góp phần nâng cao năng suất lao động Đảng và Nhà nước đang lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn chặt với phát triển kinh tế tri thức và chuyển đổi số, trong đó ưu tiên các ngành và lĩnh vực kinh tế số
Trang 7Thực chất của các quá trình nêu trên là nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá thành (c + v) sản phẩm, nhờ đó mà nâng cao giá trị gia tăng V.I.Lênin cũng đã khẳng định rằng: “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới cao hơn nhiều”1 so với chủ nghĩa tư bản Và để tạo ra năng suất lao động cao là công việc hết sức khó khăn phải được thực hiện thông qua quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân Trong lịch sử, quá trình công nghiệp hóa cổ điển (cách mạng công nghiệp) ở các nước Anh, Pháp phải trải qua hàng trăm năm Vì vậy, tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất là một công việc lâu dài và khó khăn V.LLênin cũng
đã từng khẳng định: “vài ba ngày cũng đủ để giành được chính quyền nhà nước trung ương, và trong vài tuần lễ cũng có thể dẹp tan được sự phản kháng quân sự (và sự phá hoại ngầm) của bọn bóc lột cũng mất nhiều năm mới giải quyết được vững chắc nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động”
Để tăng năng suất lao động, trước hết phải đổi mới công cụ lao động, trang
bị máy móc thiết bị hiện đại, nhưng nước ta còn nghèo, chưa có đủ tiền để mua máy móc hiện đại, trong khi đó chúng ta cũng chưa thể tự sản xuất, vì vậy phải có chiến lược “đi tắt” và chọn lựa khâu đột phá, “kinh tế số” đồng thời phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao động cao nhất có thể Mặt khác, muốn tăng nâng suất lao động cần phải có đội ngũ lao động lành nghề, trình độ chuyên môn cao Những người lao động đó chỉ có thể có trong một nền giáo dục - đào tạo hiện đại Cũng chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta luôn xếp giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu và tập trung nguồn lực toàn xã hội nhằm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo Đảng ta đã xác định việc nâng cao chất lượng giáo dục -đào tạo để tạo ra đội ngũ lao động, đặc biệt lao động chất lượng cao tiếp tục là một
trong ba đột phá của Chiến lược phát triển kỉnh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 “Chú
trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả ưong và ngoài nước Một lĩnh vực rất quan trọng và ngày càng giữ vai trò quyết định đó là khoa học
Trang 8-công nghệ Trong bối cảnh cuộc Cách mạng -công nghiệp lần thứ tư cũng cần “đi tắt, đón đầu” để bắt nhịp với tốc độ vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần này
Học thuyết giá trị thặng dư là cơ sở khoa học cho việc nhận thức và phát triển kinh tế thị trường hiện đại
Đối với Việt Nam, sau 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, mà trước hết là đổi mới lĩnh vực kinh tế, với họng tâm là đổi mới tư duy kinh tế kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tháng 12-1986 đến nay đã cơ bản đưa đất nước thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình vừa tổng kết thực tiễn trong nước cùng với tham khảo học hỏi kinh nghiệm nước ngoài gắn liền với nghiên cứu phát triển lý luận, Đảng ta đã từng bước làm rõ và xây dựng về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đỏ là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Với điều kiện phát triển của Việt Nam, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không chỉ để hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản mà còn để vận dụng vào thực hiện quan điểm, đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
để xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Muốn làm giàu trong điều kiện còn sản xuất hàng hóa thì phải tìm mọi cách để tạo ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, thực chất của quá trình này nhằm nâng cao năng suất lao động để phát triển nhanh lực lượng sản xuất xã hội
Lý luận về sản xuất giá trị thặng dư tương đối với cơ sở lý luận của đường lối ưu tiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản với việc vận dụng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin, phần mềm, ứng dụng công nghệ số trong
Trang 9quá trinh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Quy luật tỷ suất lợi nhuận cố xu hướng giảm xuống buộc các doanh nghiệp trong quá ưình sản xuất kinh doanh phải năng động sáng tạo, tiết kiệm chi phí, tăng nhanh thời gian khấu hao máy móc, thiết bị để tránh hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình do sự tác động của môi trường nhằm ổn định và phát triển trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt của kinh tế thị trường
2.2 Vận dụng vào thực tiễn việc nâng cao giá trị của chăn nuôi bò sữa tại huyện A, tỉnh HẬU GIANG
Huyện A là cửa ngõ phía Đông của tỉnh HẬU GIANG, cách thành phố Đà Lạt 40 km, cách sân bay Liên Khương 20 km, huyện có độ cao trên 1.000, với diện tích đất tự nhiên là 61.135 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 33,2%, còn lại là đất rừng (hiện nay độ che phủ rừng là 59,1%) Huyện có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 08 xã và 02 thị trấn với dân số 112.800 người, trong đó đồng bào dân tộc chiếm gần 30% dân số toàn huyện
Huyện A có những điều kiện thích hợp để phát triển chăn nuôi bò sữa Trong
đó, phải kể đến các điều kiện như
Thứ nhất, điều kiện thời tiết mát mẻ, huyện A có độ cao trên 1000 m, nhiệt
độ trung bình từ 12 – 200C Với diện tích đất tự nhiên trên 61.000 ha Đây là điều kiện rất thuận lợi để thực hiện mô hình chăn nuôi bò sữa
Thứ hai, diện tích đồng cỏ rộng lớn, đáp ứng được nhu cầu của việc chăn
nuôi bò sữa
Thứ ba, hiện nay đang có ba doanh nghiệp tiến hành thu mua sữa tươi từ các
nông hộ là Vinamilk, Friesland Campina và Công ty cổ phần Sữa Đà Lạt (TH True milk) và các đơn vị thu mua sữa tươi nhỏ trên địa bàn huyện
Thứ tư, chính sách thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất và tiêu thụ
sữa được các cấp chính quyền các cấp rất quan tâm Trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển bò sữa trên địa bàn, UBND tỉnh HẬU GIANG ưu tiên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đảm bảo được vùng nguyên liệu (diện tích tự có và diện tích hợp tác với nông dân thông qua hợp đồng) để cung cấp thức ăn thô xanh cho đàn bò, có kinh nghiệm, thị trường, công nghệ và đảm bảo được đầu ra cho
Trang 10nông dân; đặc biệt có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng con giống, quy trình khép kín đồng cỏ, chăn nuôi, chế biến sữa và thị trường tiêu thụ; có kế hoạch hợp đồng dài hạn phát triển đồng cỏ và bắp chăn nuôi với nông dân; đồng thời chủ động diện tích đồng cỏ của doanh nghiệp đảm bảo phát triển bền vững Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho huyện A trong việc phát triển chăn nuôi bò sữa cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế trong mô hình chăn nuôi bò sữa của huyện
2.2.1 Thực trạng chăn nuôi bò sữa huyện A, tỉnh HẬU GIANG
Ngành chăn nuôi bò sữa bắt đầu tăng trưởng từ năm 2001 với sự tham gia của Vinamilk và một số chương trình hỗ trợ chính phủ Từ năm 2010, ngành này bắt đầu bủng nổ nhờ sự tham gia của Dalat Milk cùng Dutch Lady tại HẬU GIANG
và sự hỗ trợ của Chính Phủ Do chăn nuôi bò sữa cho thu nhập cao và ổn định, nhiều hộ nông dân chuyển từ trồng một số cây trồng kém hiệu quả sang chăn nuôi
bò sữa dẫn tới số lượng bò tăng nhanh và vượt kế hoạch dự kiến của huyện
Mô hình chăn nuôi bò sữa ngày càng được nhân rộng ra do hiệu quả kinh tế của mô hình này mang lại Trong những năm gần đây, số lượng bò sữa tại huyện A
đã tăng lên nhanh chóng Năm 2012, số lượng bò sữa của huyện chỉ đạt 4.200 con
bò sữa thì tính đến cuối năm 2015, số lượng bò sữa của huyện A đã phát triển lên 10.200 bò sữa và tiếp tục tăng hơn 5.500 con bò sữa vào 9 tháng đầu năm 2021 nâng tổng số bò sữa tại huyện A lên 16.126 con bò sữa, Trong đó, khoảng 70% đang được khai thác sữa
Yếu tố đầu vào
Yếu tố đầu vào bao gồm: con giống và thức ăn chăn nuôi là 2 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất cho sữa của bò Theo kinh nghiệm từ các chuyên gia trong ngành, năng suất cho sữa và chất lượng sữa bị ảnh hưởng khoảng 40% bởi chất lượng con giống, 30% bởi thức ăn chăn nuôi, và 30% còn lại là do chăm sóc và môi trường
Đối với con giống, hầu hết đàn bò sữa A là giống Holsten Friesian (HF) từ
Úc và Thái Lan Vì chưa có công ty phân phối con giống ở HẬU GIANG, nông dân không có nguồn tin cậy để mua con giống Qua phỏng vấn với nông dân tại A –