1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh đồng nai lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương từ năm 2005 đến năm 2015

238 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo CTQPĐP của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai cònmột số hạn chế: Công tác tuyên truyền, giáo dục bồi dưỡng KTQP&AN chủ yếuphát triển về bề rộng, một số nội dung chưa sâu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 111.2 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình đã được công

bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH

ĐỒNG NAI VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG ĐỊA

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh

Đồng Nai về công tác quốc phòng địa phương 322.2 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai chỉ đạo công tác quốc phòng địa phương 51

Chương 3 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG ĐỊA

3.1 Những yêu cầu mới tác động và chủ trương của Đảng bộ

tỉnh Đồng Nai tăng cường công tác quốc phòng địa phương 853.2 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai chỉ đạo tăng cường công tác quốc

4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về công

tác quốc phòng địa phương (2005 - 2015) 126

4 2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh

đạo công tác quốc phòng địa phương (2005 - 2015) 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH

3 Công tác quốc phòng địa phương CTQPĐP

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể họatđộng đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của Nhànước và Nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện cân đối,trong đó, sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hoà bình, ngăn chặn, đẩylùi các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lượcdưới mọi hình thức và quy mô Kế thừa truyền thống, “Dựng nước phải đi đôi vớigiữ nước” “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”; “Biên phòng cần có phương lượctốt, đất nước nên có kế lâu dài” đúc rút hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam;trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về quốc phòng; bám sát tình hình thực tiễn của đất nước, Đảng Cộng sản ViệtNam luôn đề ra đường lối lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phù hợpvới yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng

Công tác quốc phòng địa phương là một bộ phận trong công tác quốcphòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thực hiện ở địa phương trongthời bình, nhằm tổ chức và động viên quần chúng tham gia xây dựng nềnQPTD; chuẩn bị và sẵn sàng chuyển sang tiến hành chiến tranh nhân dân ởđịa phương khi chiến tranh nổ ra, nhằm bảo vệ địa phương và góp phần bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xácđịnh phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, củng cố, tăngcường QP, AN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, trong đó xác định lãnh đạotốt CTQPĐP là một trong những nhân tố quyết định bảo đảm sự ổn định về chínhtrị - xã hội ở mỗi địa phương, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc từ sớm, từ xa

Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị tríchiến lược quan trọng về QP, AN, án ngữ đường giao thông huyết mạch quốcgia là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu

Trang 5

Long Tỉnh Đồng Nai có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, vì vậy sự ổn định vềchính trị, sự vững mạnh về QP, AN không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối vớiTỉnh mà còn với cả khu vực miền Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh đồng bằng sông cửu long Trong những năm 2005 - 2015, nhận thứcđúng đắn và quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

về QP, AN, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã tăng cường lãnh đạo CTQPĐP, nhờ đócông tác QP, AN, xây dựng LLVT, xây dựng tiềm lực quốc phòng trong khuvực phòng thủ của Tỉnh đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần giữ vững ổn địnhchính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân

Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo CTQPĐP của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai cònmột số hạn chế: Công tác tuyên truyền, giáo dục bồi dưỡng KTQP&AN chủ yếuphát triển về bề rộng, một số nội dung chưa sâu, chất lượng hiệu quả chưa cao;vai trò tham mưu của cơ quan quân sự các cấp trong thực hiện CTQPĐP có nộidung chưa theo kịp sự phát triển của tình hình nhiệm vụ, ý thức xây dựng, củng

cố tiềm lực quốc phòng ở một số cấp ủy, ngành và một bộ phận đảng viên, Nhândân chưa sâu sắc

Bên cạnh đó, “các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” nhằm

phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng và dân tộc ta” [42, tr 46]; tìnhhình khiếu kiện đông người liên quan đến đất đai, đình công, lãn công của công nhân

ở một số khu công nghiệp có nhiều diễn biến phức tạp, khó kiểm soát; tình hình biếnđổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến bất thường Từ thực tiễn trên đặt ra yêu cầuphải nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vềcông tác quốc phòng trên phạm vi cả nước, ở các địa phương và tỉnh Đồng Naivới các góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh Đồng Nai về công tác tác quốc phòng địa phương những năm (2005 2015) toàn diện, hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử

Trang 6

-Đảng Cộng sản Việt Nam thì chưa có công trình nào cập nhật tới Đây là

“khoảng trống” khoa học cần được khỏa lấp Nghiên cứu quá trình Đảng

bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo CTQPĐP (2005 - 2015) không chỉ góp phầnvào việc tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo CTQPĐP trong thời kỳ đổi mới

và hội nhập quốc tế mà còn góp thêm cơ sở cho việc bổ sung chủ trương,giải pháp lãnh đạo, CTQPĐP của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trongthời gian tới

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Đồng Nai

lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương từ năm 2005 đến năm 2015” làm luận

án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo CTQPĐP từ năm

2005 đến năm 2015; trên cơ sở đó đúc rút kinh nghiệm có giá trị tham khảo

để vận dụng vào hiện tại

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ĐồngNai về CTQPĐP (2005 - 2015)

Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vềCTQPĐP qua 2 giai đoạn 2005 - 2010 và 2010 - 2015

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP từ năm

2005 - 2015 qua 2 giai đoạn 2005 - 2010 và 2010 - 2015

Nhận xét ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đúc rút kinh nghiệm

từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo CTQPĐP (2005- 2015)

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP từ năm

2005 đến năm 2015

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP Theo Nghị định số 119/2004 ngày 11/5/2004,của Chính phủ Về công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương, thì nội dung CTQPĐP bao gồm: Công

tác giáo dục quốc phòng toàn dân; Kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoạivới quốc phòng; Xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng bộ đội địaphương; Dân quân tự vệ, xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên;Xây dựng và bảo vệ tiềm lực quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dânvững chắc; Thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - quân sự trong thời bình, thờichiến và công tác phòng thủ dân sự; Chuẩn bị tiến hành công tác tuyển quân vàđộng viên nền kinh tế quốc dân cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tìnhhuống; Bảo đảm ngân sách cho sự nghiệp quốc phòng, thực hiện chính sáchhậu phương quân đội và chính sách xã hội có liên quan đến công tác quốcphòng Trong phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ, tác giả, chỉ tập trunglàm rõ 3 nội dung chủ yếu sau: (1) Công tác giáo dục quốc phòng, an ninh; (2)Công tác xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và dự bị độngviên ; (3) Công tác xây dựng tiềm lực quốc phòng

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2015, là thời

gian gắn với 2 nhiệm kỳ đại hội Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng bộtỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2005 - 2010 và Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng

bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2010 - 2015 Để đạt được mục đích nghiên cứu vàbảo đảm tính hệ thống, luận án có đề cập một số nội dung trước năm 2005 vàsau năm 2015

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về

QP, AN bảo vệ Tổ quốc XHCN

Trang 8

Cơ sở thực tiễn

Dựa vào thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,Đảng bộ Quân khu 7 và Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP từ năm 2005 đếnnăm 2015 Thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết, văn bản của các cơ quan chứcnăng, và báo cáo tổng kết, đề án, kế hoạch của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, Đảng bộQuân sự Tỉnh và các cơ quan, đơn vị hữu quan trong hệ thống chính trị tỉnh ĐồngNai Đồng thời, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã đượccông bố có liên quan đến đề tài luận án

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp lịch

sử, phương pháp lôgic

Phương pháp lịch sử được sử dụng để phục dựng tiến trình Đảng bộtỉnh Đồng Nai lãnh đạo CTQPĐP thông qua các sự kiện lịch sử, quá trình lịch

sử, được sử dụng nhiều hơn trong Chương 2 và Chương 3

Phương pháp logíc được sử dụng chủ yếu để: (1) Khái quát kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố ở Chương 1; (2)Khái quát chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở Chương 2, Chương3; (3) Hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vềCTQPĐP bao gồm: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp ở Chương

2, Chương 3; (4) Nhận xét, đúc rút kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnhĐồng Nai lãnh đạo CTQPĐP từ năm 2005 đến năm 2015 ở Chương 4

Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác: Thống kê, sosánh, tổng hợp, phân tích, phương pháp điều tra xã hội học, phương phápchuyên gia để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận án

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộtỉnh Đồng Nai về CTQPĐP từ năm 2005 đến năm 2015

Trang 9

Đưa ra những nhận xét, đánh giá quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạoCTQPĐP từ năm 2005 đến năm 2015 về ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của ưuđiểm, hạn chế.

Đúc rút kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạoCTQPĐP từ năm 2005 đến năm 2015

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực QP, ANtrong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (qua thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai)

Góp thêm luận cứ khoa học cho việc bổ sung, phát triển chủ trương và chỉđạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP trong thời gian tới

Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo trong công tác tuyên truyền, nghiêncứu, giảng dạy Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, cũng như Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở các học viện nhà trường, cơquan nghiên cứu trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục các công trình

nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận

án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quốc phòng một số nước trên thế giới

Đại tướng A.T.An-Tu-Nin (Chủ biên) (1980), Trần Đăng Vĩnh dịch

Phòng thủ dân sự [01] Tác giả khẳng định: Phòng thủ dân sự là sự nghiệp

của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc XHCN Mỗi công dân đều phải nắm vữngnhững kiến thức cần thiết về phòng thủ dân sự, phòng tránh vũ khí huỷ diệtlớn nhằm bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống Việc chuẩn bị cho nhân dânthực hiện các nhiệm vụ phòng thủ dân sự bao gồm một hệ thống các biệnpháp đồng bộ, bảo đảm cho mỗi người dân sẵn sàng hành động đúng, đáp

ứng các điều kiện đặc biệt của chiến tranh Do vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô,

Chính phủ Liên Xô phải thường xuyên bồi dưỡng, huấn luyện cho nhân dântoàn diện, bao gồm: Phẩm chất chính trị, tinh thần và tâm lý; những kiếnthức quân sự cần thiết thiết để tham gia vào các biện pháp phòng thủ dân sự

N.I.Nie-kra-xốp, (1987) Công tác tổ chức giáo dục thể thao quốc phòng trong trường học [94] Tác giả, khẳng định việc giáo dục quốc phòng

là tất yếu khách quan, nhằm bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giáccách mạng, kiến thức chính trị, huấn luyện những kỹ năng quân sự - quốcphòng cần thiết cho học sinh trong các trường giúp học sinh thực hiện “ước

mơ trở thành những phi công anh dũng, những thủy thủ can đảm, những nhàchế tạo máy bay và động cơ, những nhân viên điện đài khéo léo, nhà sáng chếcác công trình vô tuyến điện độc đáo” [94, tr.7], để góp phần to lớn củng cốkhả năng phòng thủ đất nước Theo ông mỗi người dân Xô-viết yêu nước, bất

kỳ ở cương vị nào cũng cần được chuẩn bị kỹ về kiến thức quân sự - quốcphòng Tác giả đã nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác giáo dục quốc phòng

Trang 11

đối với thế hệ trẻ trong thời bình và có ý nghĩa to lớn trong thực hiện nhiệm

vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ Quốc phòng(2007), “Đại cương giáo dục quốc phòng toàn dân của Trung Quốc”, (theo Tạpchí Dân binh Trung Quốc, 12/2006) [147] Tác giả đã chỉ rõ: Cùng với đường lốikiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, các công tác khác đều phục tùng vàphục vụ trung tâm ấy Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc đã chú trọngquan tâm quốc phòng bảo vệ đất nước Thường xuyên nâng cao chất lượng giáodục quốc phòng cho mọi tầng lớp nhân dân, thường xuyên đổi mới về nội dung,phương pháp, mở rộng đối tượng đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, nhân viên công táctrong cơ quan Nhà nước, học sinh, sinh viên, dân binh trong ngạch dự bị và cácđối tượng khác, trang bị cho họ những kiến thức quân sự cần thiết, lý luận vềquốc phòng, an ninh, giáo dục lòng yêu nước, tự tôn, tự hào dân tộc, yêu chế độ;nhận thức đầy đủ, đúng những thách thức, nguy cơ của cách mạng; đối tượng, đốitác trong tình hình mới hội nhập quốc tế, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủđoạn chống phá của các thế lực thù địch Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm thựchiện nghĩa vụ công dân bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ thành quảcách mạng, nhân dân, bảo vệ Đảng Cộng sản, bảo vệ chế độ XHCN

Tác giả Văn Đức (2009), “Cải cách giáo dục quốc phòng của một số nước châuÁ” [36], bài viết đã khẳng định Trung Quốc luôn luôn coi trọng công tác giáo dụcquốc phòng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.Thường xuyên nâng cao chất lượng GDQP cho toàn dân, chú trọng đội ngũ cán bộ,đảng viên, thanh niên, sinh viên Kiện toàn hệ thống tổ chức, đổi mới chương trình,nội dung, phương pháp, hình thức GDQP, thực hiện nhiều biện pháp liên quan trựctiếp tới cải cách GDQP từ Trung ương xuống địa phương, nhằm phát huy sức mạnhtổng hợp của đất nước nâng cao ý thức trách nhiệm trong xây dựng nền QPTD gắnvới thế trận an ninh nhân dân vững chắc; nhằm đập tan mọi âm mưu thủ đoạnchống phá cách mạng của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN

Trang 12

U Đôm Xay Mường Khột (2009), Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh ở địa bàn Trung Lào [76] Tác giả đã luận giải làm

rõ vị trí, vai trò, đặc điểm của LLVT địa phương trong KVPT tỉnh ở địa bàn

Trung Lào; làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung xây dựng LLVT địa phương; cácquan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước Lào về xây dựng LLVT địa phương

và xây dựng KVPT; phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất

5 giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng LLVT địa phương

trong KVPT tỉnh ở địa bàn Trung Lào.

Thong Phăn Cha Lơn Phôn (2011), Nghiên cứu xây dựng và hoạt động của bộ đội địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh Bắc Lào [102] Tác giả đã luận giải làm rõ được vị trí, vai trò của lực lượng bộ đội địa phương trong KVPT

tỉnh Bắc Lào; nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và hoạt động của bộ đội địaphương; đặc điểm chi phối và các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nướcLào về xây dựng và hoạt động của bộ đội địa phương Cùng với đó, từ phân tích,đánh giá chính xác những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và các yếu tố tácđộng, tác giả đã đề xuất được 5 giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng xây dựng

bộ đội địa phương trong KVPT tỉnh Bắc Lào.

Sỉ Phon Kẹo Sa May (2013), Xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [83] Tác giả đã phân tích, luận giải làm rõ vị

trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng tiềm lực quốc phòng đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào; làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung và cácquan điểm, chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về xây dựng tiềm lựcquốc phòng trong tình hình mới

Các công trình trên đã khẳng định vị trí vai trò của quốc phòng là lĩnhvực hệ trọng của mỗi quốc gia; vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhànước đối với quốc phòng là tất yếu khách quan trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Các công trình trên đã để lại nhiều kinh nghiệm quý trongthực hiện công tác quân sự, quốc phòng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về công tác quốc phòng ở Việt Nam

1.1.2.1.Các nghiên công trình nghiên cứu chung về công tác quốc phòng

Trang 13

Tổng cục Chính trị (2005), Đảng lãnh đạo công tác quân sự - quốc phòng địa phương trong thời kỳ mới [144] đã trình bày vị trí, vai trò của công

tác quân sự, quốc phòng địa phương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phân tích làm rõ các quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam

về lãnh đạo công tác quốc phòng - quân sự địa phương; đánh giá thực trạng sựlãnh đạo của Đảng và các tỉnh ủy, thành ủy ở các địa phương đối với công tácquốc phòng - quân sự địa phương cả về nội dung, phương thức, cơ chế lãnhđạo công tác quốc phòng địa phương; đề xuất những giải pháp để thực hiệntốt vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng - quân sự địaphương trong thời kỳ mới Khẳng định Đảng lãnh đạo công tác quân sự -quốc phòng địa phương là tất yếu khách quan là nhân tố quyết định thắng lợicủa công tác quân sự - quốc phòng địa phương, trình bày nội dung cơ chếĐảng lãnh đạo công tác quân sự - quốc phòng địa phương khẳng định rõ:Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành,cơ quan ban ngành, đoàn thể chính trị

xã hội của đại phương (nòng cốt là quân sự) làm tham mưu trong quá trìnhthực hiện đã được Đảng bổ sung: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, các

cơ quan, ban ngành, làm tham mưu theo chức năng; cơ quan quân sự, công angắn bó chặt chẽ làm trung tâm hiệp đồng; cùng các đoàn thể quần chúng tổchức thực hiện; chỉ huy trưởng quân sự tỉnh, (thành), chỉ huy thống nhất cáclực lượng vũ trang ở địa phương khi có chiến sự, chiến tranh Đồng thời, đánhgiá về ưu điểm lãnh đạo của Đảng, của các tỉnh ủy, thành ủy đối với công tácquốc phòng địa phương và phân tích nguyên nhân của thành công và tồn tại,những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác quốc phòng - quân sự địaphương, đề xuất những giải pháp đối với Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạocông tác quốc phòng địa phương trong thời kỳ mới

Học viện Chính trị quân sự (2006), Đổi mới giáo dục quốc phòng trong

hệ thống giáo dục quốc gia [65] Cuốn sách đã khẳng định có vị trí, vai trò đặc

biệt quan trọng của giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia và sự

Trang 14

nghiệp xây dựng, củng cố nền QPTD và bảo vệ Tổ quốc XHCN Trong quátrình lãnh đạo cách mạng Đảng phát triển tư duy lý luận về quốc phòng và giáodục quốc phòng đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử; trong thời kỳ đổimới trước sự đòi hỏi của thực tiễn để làm sáng tỏ sâu sắc thêm tư duy của Đảng

về bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tăng cường giáo dụccho toàn dân Tư duy mới về quốc phòng và giáo dục quốc phòng là tất yếukhách quan và yêu cầu đổi mới toàn diện, đồng bộ thống nhất từ nhận thức đếnhành độn; từ nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đến đánh giá kếtquả; từ cơ chế tổ chức quản lý đến người dạy, người học, điều kiện đảm bảo vàchế độ chính sách Đồng thời, đã nêu lên những thành tựu những kinh nghiệmđổi mới giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc gia và nêu những giải pháp cơbản nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng trong thời gian tới

Nguyễn Văn Lượng (2013), Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trong những năm đầu thời kỳ đổi mới ở Việt Nam [80] Tác giả trình bày sự phát triển tư duy

về quốc phòng Việt Nam trong những năm đầu thời kỳ đổi mới; trình bày quá

trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996 Đánhgiá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra một số bài học kinh nghiệm của quátrình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996 Đó

là phải thường xuyên bám sát và nắm chắc diễn biến tình hình, kịp thời đổimới tư duy quốc phòng; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninhvới nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thường xuyên chăm lo xây dựngLLVT, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có chất lượng tổng hợp và sứcchiến đấu cao; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, không ngừng hoàn thiện cơchế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng

Lê Chiêm (2016), Đổi mới quân sự, quốc phòng yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

[29] Công tác quân sự - quốc phòng bảo vệ Tổ quốc luôn giữ vị trí vai tròhết sức quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc, là nhiệm vụ trọng yếu,thường xuyên quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đảng tập

Trang 15

trung đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; sức mạnh vàphương thức bảo vệ Tổ quốc; Xây dựng và củng cố QP, AN kết hợp chặtchẽ giữa QP, AN với kinh tế và đối ngoại trong điều kiện mới; đổi mới vềđối ngoại quân sự - quốc phòng; về chấn chỉnh tổ chức biên chế các đơn vị,tăng cường sức mạnh của lực lượng vũ trang điều chỉnh lại thế bố trí chiếnlược; đồng thời đề xuất một số nội dung nhiệm vụ cần thực hiện trong thờigian tới để không ngừng củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới

Nguyễn Thiện Minh (2016), Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh sinh viên là nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng nguồn lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [93] Tác giả trình bày vị trí, vai

trò của giáo dục quốc phòng và an ninh là một bộ phận của giáo dục quốc dân, làmột nội dung quan trọng trong củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thếtrận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân

Vũ Văn Khanh (2017), Một số vấn đề về quân sự, quốc phòng trong quá trình hội nhập quốc tế [74] Tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của

công tác quân sự, quốc phòng; các vấn đề an ninh thế giới, khu vực và tácđộng đến Việt Nam, hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng; đưa ra một

số giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân; ra sứcđấu tranh bảo vệ đường lối, xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội giáodục đào tạo của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước Đấu tranh bảo vệđường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách QP, AN của Đảng và Nhànước; đấu tranh chống “phi chính trị hoá” Quân đội và Công an, chống chia rẽnội bộ lực lượng vũ trang; xử lý mềm dẻo những bất đồng, tranh chấp giữa cácnước láng giềng, trong khu vực và quốc tế, không để nước ngoài tạo cớ canthiệp, đẩy lùi nguy cơ chiến tranhLuôn quán triệt tư tưởng “Dĩ bất biến, ứngvạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế và đối ngoại

Các công trình đã khẳng định Đảng lãnh đạo quốc phòng là tất yếukhách quan là nhân tố quyết định thắng lợi của công tác quân sự - quốc

Trang 16

phòng, đồng thời đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp chỉ đạo của Đảng đốivới công tác quốc phòng cả về nội dung, phương thức, cơ chế lãnh đạo côngtác quốc phòng trong thời kỳ mới

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về công tác quốc phòng địa phương

ở một số địa phương

Võ Thanh Tòng (2005), “Thành phố Cần Thơ kết hợp chặt chẽ pháttriển kinh tế với củng cố QP, AN” [143] Tác giả đã trình bày quá trình lãnhđạo, chỉ đạo các ngành, các cấp chú trọng gắn kết chặt chẽ việc phát triển kinh tế -

xã hội với đầu tư xây dựng tiềm lực QP, AN trong các dự án chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong tổng thể chung của khu vực đồngbằng sông Cửu Long và cả nước “xây dựng các cụm QP, AN, bố trí các thế trận

QP, AN phù hợp với phát triển kinh tế Từng bước điều chỉnh, củng cố hình thànhcác tuyến phòng thủ nội thành, ngoại thành Tập trung xây dựng xã, phường vữngmạnh, an toàn làm chủ, xây dựng các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương khuvực phòng thủ then chốt” [143, tr 41]

Hứa Thanh Giang (2006), “Bắc Kạn xây dựng khu vực phòng thủ vững

chắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc” [56] Tác giả khái quát chủ trương của

Đảng bộ Tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với củng cố QP, AN trong đóxây dựng khu vực phòng thủ và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyêntrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được Đảng bộ nhân dân Tỉnh quántriệt nhất trí cao về nhận thức, quan điểm, coi đó là nhiệm vụ quan trọng cấpthiết trong thời kỳ mới, đồng thời tác giả đã trình bày kết quả đạt được và nhữnghạn chế, nguyên nhân và rút ra mấy vấn đề trong xây dựng khu vực phòng thủ

đó là: Xây dựng về chính trị tư tưởng, xây dựng về kinh tế, văn hoá, xã hội, xâydựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận phòng thủ Tỉnh đã cùng Quân khu

1 và Bộ Quốc phòng xác định các khu vực địa hình có giá trị cho quốc phòng,quân sự như các hang động, các địa hình quan trọng, nhiều hang hầm được quyhoạch và quản lý theo quy định nhằm phục vụ nhu cầu thời chiến

Trang 17

Trịnh Duy Huỳnh (2007), “Lực lượng vũ trang Thái Bình phấn đấulàm tốt vai trò nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương”[72] Tác giả nêu vị trí và tầm quan trọng của CTQPĐP và quá trình lãnh đạo chỉđạo công tác quân sự, quốc phòng địa phương tỉnh đã đạt nhiều thành tích đángtrân trọng: “Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân Tỉnh, cùng phối hợp, giúp đỡ có hiệu quả của các cấp các ngành,các địa phương, lực lượng vũ trang tỉnh Thái Bình đã triển khai tích cực, chủđộng, toàn diện đối với nhiệm vụ quân sự - quốc phòng đạt được nhiều kết quảquan trọng” [72, tr 70] Đồng thời, tác giả đúc rút những kinh nghiệm bước đầu

đó là: Chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền và phối hợp chặt chẽ với cácban, ngành chức năng địa phương thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng.Tích cực xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, góp phần bảo đảm an ninh, giữvững ổn định chính trị trên địa bàn Chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền

và triển khai thực hiện có hiệu quả việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăngcường tiềm lực hậu cần nhân dân, hậu cần địa phương Lực lượng vũ trang phốihợp với các cơ quan chức năng địa phương thực hiện tốt chính sách thương binh,liệt sĩ, góp phần thực hiện chính sách xã hội

Thào Xuân Sùng (2008), “Sơn La tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ

xây dựng Tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc” [113] Tác giả nhấn mạnh vị

trí của tỉnh Sơn La trong thế trận phòng thủ chung của Quân khu 2 và cả nước,đồng thời nêu lên những thành tựu nổi bật của Đảng bộ, chính quyền, nhân dâncác dân tộc và lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La đã đoàn kết, sáng tạo, phát huy tinhthần tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xãhội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc,từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhândân các dân tộc trong Tỉnh “Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo củacác cấp uỷ, chính quyền xây dựng khu vực phòng thủ Tỉnh vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức” [113, tr 33], phát huy nội lực, nắm bắt thời cơ đẩynhanh phát triển kinh tế với quốc phòng tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất, kỷ

Trang 18

thuật cho khu vực phòng thủ Từng bước hoàn thiện, vận hành tốt cơ chế lãnhđạo QP, AN xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, coi trọng nâng cao chấtlượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang địa phương

trong thực hiện công tác quân sự, quốc phòng địa phương.

Nguyễn Đức Hải (2009), “Quảng Nam thực hiện tốt công tác QP, AN

trong quá trình phát triển” [60] Tác giả đã nêu được những thành tựu nổi

bật của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Tỉnh phát triển toàn diện, Quảng Namchú trọng thức hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự gắn với an ninh,không ngừng tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao chấtlượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu của LLVT, góp phần giữ vững

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, bảo vệ chủ quyền biêngiới, biển, đảo của Tổ quốc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế -

xã hội Đồng thời, tác giả cũng nêu ra những hạn chế trong thực hiện côngtác quốc phòng, an ninh của Tỉnh: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảngviên ở cơ sở chưa đầy đủ, nên còn nặng về lợi ích kinh tế, xem nhẹ lợi íchquốc phòng, an ninh, coi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ riêngcủa LLVT Việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận quốcphòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân chưa thực vững chắc; chất lượngphối hợp hoạt động giữa Quân đội và Công an ở một số địa phương cònchưa cao…các hành động vi phạm pháp luật vẫn xảy ra, nhất là trình trạngvượt biên, truyền đạo trái pháp luật, buôn lậu, gian lận thương mại có chiềuhướng gia tăng, diễn biến phức tạp” [60, tr 34] Đồng thời, tác giả đề xuấtmột số biện pháp và đúc rút một số bài học bổ ích cả về lý luận và thực tiễntrong công tác quốc phòng - quân sự, nhất là cho công tác lãnh đạo, chỉđạo, điều hành; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiệncông tác quân sự - quốc phòng trong thời gian tới

Nguyễn Văn Vượng (2009), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác quốc phòng, quân sự ở Thái Nguyên” [190] Tác giả đã làm nổi bật những

thành tựu trong quá trình lãnh đạo đối với công tác quốc phòng, quân sự địa

Trang 19

phương: “Phát huy tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về công tácquốc phòng, quân sự địa phương của các lực lượng quân sự, công an…đồng thời,tham gia tích cực có hiệu quả việc xây dựng cơ sở chính trị làm tốt công tác dân vậnnhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao của Tỉnh” [190, tr 25], đồng thời,tác giả đã đề xuất một số giải pháp làm luận cứ khoa học cho lãnh đạo Tỉnh: Ràsoát, bổ sung hoàn chỉnh các văn kiện động viên quốc phòng, động viên côngnghiệp; quy hoạch, quản lý chặt chẽ, sử dụng các hang động tự nhiên, các điểm cao

có giá trị về quốc phòng; quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sáchcủa trên, kết hợp với huy động nguồn ngân sách của trên, kết hợp với huy độngnguồn ngân sách địa phương bảo đảm kịp thời cho nhiệm vụ quốc phòng, quân sự,nhất là trong đầu tư xây dựng các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, các côngtrình phòng thủ quan trọng của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện

Nguyễn Thanh Bình (2011), “Đảng bộ Hà Tĩnh lãnh đạo thực hiện nhiệm

vụ quân sự, quốc phòng địa phương” [18], Tác giả nêu rõ vị trí, vai trò của

công tác quốc phòng, quân sự địa phương là nội dung quan trọng được Đảng

bộ Hà Tĩnh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo góp phần giữ vững ổn định chínhtrị, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy kinh tế - xã hội.Tỉnh luôn đề cao vaitrò tham mưu của cơ quan quân sự các cấp trong dự báo tình hình, đề xuất cácbiện pháp, giải quyết những phát sinh ở cơ sở, nhất là tuyến biên giới, venbiển và các khu vực trọng yếu Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy chínhquyền địa phương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đảm bảocho mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường sức mạnhcủa nền quốc phòng toàn dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốcphòng địa phương trong thời bình và sẵn sàng chuyển thành sức mạnh củathế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Đinh Văn Truy (2014), “Hải Dương tập trung xây dựng lực lượng vũtrang địa phương vững mạnh” [148] Tác giả đã trình bày vị trí của xây dựng lựclượng vũ trang Tỉnh vững mạnh là nội dung nòng cốt trong thực hiện công tác

Trang 20

quân sự, quốc phòng địa phương là nội dung quan trọng hàng đầu Do đó, cùngvới xây dựng vững mạnh về chính trị, “Tỉnh coi lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lựclượng vũ trang Tỉnh có cơ cấu, số lượng hợp lý, chất lượng cao” [148, tr 90],song song với tập trung xây dựng lực lượng, ổn định biên chế, Tỉnh chỉ đạocác cơ quan quân sự địa phương chú trong nâng cao chất lượng huấn luyệndiễn tập, coi đây là biện pháp then chốt, khâu đột phá, nhằm nâng cao trình

độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trangtỉnh Đồng thời tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân về công tác xâydựng Đảng trong lực lượng dân quân tự vệ, về tổ chức diễn tập chiến đấu trị

an ở các cấp… Qua đó, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trangTỉnh và năng lực lãnh đạo điều hành của cấp uỷ, chính quyền trong xử lý cáctình huống về quốc phòng, an ninh Thường xuyên quan tâm tốt công tácchính sách hậu phương quân đội, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho lựclượng vũ trang của tỉnh theo quy định, góp phần quan trọng vào xây dựng lựclượng vũ trang của tỉnh Hải Dương vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầutrong thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong gia đoạn mới

Nguyễn Quốc Tuấn (2015), “Đảng bộ Quân sự thành phố Hải Phònglãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng” [150] Tác giả nhấnmạnh Hải Phòng có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh là cửangõ giao thông, cảng biển lớn của đất nước, đây là điểm thuận lợi để mở rộngquan hệ hợp tác phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới.Nhưng, cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, antoàn xã hội Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của Tỉnh về quốc phòng, anninh và phát triển kinh tế - xã hội Đảng bộ quân sự thành phố Hải Phòng đã

đề ra nhiều chủ trương giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt nhiệm vụquân sự, quốc phòng trên địa bàn, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trườngthuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội tương xứng với tiềm năng,lợi thế của thành phố Hải Phòng Đồng thời, tác giả nêu ra những thành tựu

Trang 21

của Đảng bộ Tỉnh lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng trong thời gianvừa qua “Đảng uỷ Quân sự thành phố Hải Phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạocác đơn vị tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng

và an ninh cho các đối tượng Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, nhằmnâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ chiến sĩ và các tầng lớp nhândân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc”[150, tr.34] Đảng uỷ Quân sự thành phố tập trung lãnh đạo lực lượng vũtrang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo thực sự là lựclượng chính trị tin cậy tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhândân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; tiếp tục triển khai xâydựng thành phố, các quận, huyện thành khu vực phòng thủ có chiều sâuvững chắc; Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng chủ động tham mưucho cấp uỷ chính quyền địa phương nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả,nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; nhất là các đảo, venbiển và các khu vực trọng yếu không để xảy ra các “điểm nóng” góp phầntạo môi trường thuận lợi để thành phố Hải Phòng phát huy thế mạnh, đẩynhanh phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập

Các công trình đã phân tích phân tích đặc điểm, lợi thế của của các địaphương trong xây dựng khu vực phòng thủ, chỉ rõ vị trí của công tác quân sự,quốc phòng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội, nêu lên nhữngchủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ các tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ quân

sự, quốc phòng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quốc phòng tỉnh Đồng Nai

Nguyễn Khắc Thanh (2005), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng khu công nghiệp trong những năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 2005 [139] Tác giả

nhấn mạnh xây dựng khu công nghiệp gắn với khu vực phòng thủ của địa phương,kết hợp phát triển kinh tế - xã hội góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ

Trang 22

quân sự, quốc phòng địa phương Đồng thời, nêu rõ vị trí chiến lược của Đồng Nai

về QP, AN Đồng Nai đã và đang làm tốt công tác vận động quần chúng, bảođảm an sinh xã hội; kết hợp tốt giữa xây dựng các khu công nghiệp với bảo đảm

QP, AN; giữa phát triển lao động với xây dựng, củng cố lực lượng tự vệ, xâydựng, củng cố các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, trong từng nhà máy,doanh nghiệp…, nhằm phát huy lợi thế về địa kinh tế - chính trị trongKVPT, sẽ góp phần to lớn vào giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội, củng cố quốc phòng, an ninh trong KVPT Tỉnh Tuy nhiên, sự phát triểnnhanh của của các khu công nghiệp, thường chiếm những vị trí đắc địa vềquốc phòng, an ninh, lại thường bố trí gần với nơi đóng quân của các đơn vịquân đội; mặt khác, do đặc thù là tỉnh công nghiệp, lực lượng lao động luônbiến động, nhất là các khu công nghiệp trên địa bàn… Điều đó cũng lànhững trở ngại lớn trong xây dựng khu vực phòng thủ và xây dựng lực lượng

vũ trang địa phương Những đặc điểm này tác động theo hai chiều thuận lợi

và khó khăn đến công tác quân sự, quốc phòng địa phương của Tỉnh Đồngthời, là cơ sở đề ra các chủ trương lãnh đạo chỉ đạo công tác quân sự, quốcphòng địa phương đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Nguyễn Thanh Long (2006), “Công tác quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai trong

tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [79] Tác giả đã khẳng định vị thế của

Đồng Nai trong phát triển kinh tế - xã hội và QP, AN đối với khu vực Đông Nam

Bộ nói riêng và cả nước nói chung Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự,quốc phòng của Tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự Tỉnh “Đã tập trung nâng cao chấtlượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu chocác lực lượng vũ trang của Tỉnh, trước hết là chất lượng chính trị, đảm bảo cho lựclượng vũ trang thực sự là nòng cốt trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân,chỗ dựa tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, đủ sức hoàn thành nhiệm

vụ thường xuyên và đột xuất [73, tr 62]

Lê Bình (2011), “Kinh nghiệm diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Đồng Nai”,[16] Tác giả đã trình bày vị trí, ý nghĩa của cuộc diễn tập KVPT và nội dung diễn

Trang 23

tập KVPT tỉnh Đồng Nai là cuộc diễn tập điểm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của BộQuốc phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 để rút kinh nghiệm chỉ đạo các địa phươngkhác trong cả nước Vì vậy, nội dung đưa vào trong cuộc diễn tập này tương đốitoàn diện, bao gồm: Chuyển LLVT vào các trạng thái sẵn sàng chiến đấu; chuyểnđịa phương từ thời bình sang thời chiến; tổ chức chuẩn bị và thực hành tác chiếnkhu vực phòng thủ Cụ thể, trong giai đoạn chuẩn bị tác chiến, tập trung vào huấnluyện các nội dung: cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, điều hành các lực lượng củaKVPT chuyển địa phương vào tình trạng khẩn cấp; chống bạo loạn; chuyển toàn

bộ nền kinh tế địa phương từ thời bình sang thời chiến và tổ chức sản xuất phục

vụ quốc phòng, dân sinh thời chiến phù hợp với đặc điểm của một tỉnh có nềncông nghiệp phát triển, có nhiều yếu tố phức tạp về xã hội

Nguyễn Thị Thành (2011), “Công tác quốc phòng, quân sự địa phương ở

huyện Trảng Bom” [140] Tác giả đã khái quát vị trí chiến lược của huyện Trảng

Bom có vai trò quan trọng trong thế phòng thủ trên hướng Đông Bắc của tỉnhĐồng Nai và khu vực miền Đông Nam Bộ Trong những năm 2005 - 2015, Đảng

bộ, chính quyền và nhân dân huyện Trảng Bom đã quán triệt sâu sắc quan điểm,chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiệnnghiêm túc, có hiệu quả công tác quốc phòng - quân sự địa phương, xây dựngKVPT theo hướng “cơ bản, liên hoàn, vững chắc”; gắn kết chặt chẽ việc củng cố,xây dựng thế trận QPTD với thế trận an ninh nhân dân Huyện ủy, Ủy ban nhândân huyện luôn quan tâm chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng; huấn luyện, diễntập sẵn sàng chiến đấu và công tác phòng chống các loại tội phạm trên địa bàn.Đặc biệt, công tác giáo dục quốc phòng, giáo dục pháp luật được triển khai thựchiện nghiêm túc từ huyện đến cơ sở Góp phần giữ vững tình hình an ninh chínhtrị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện; các hoạt động tôn giáo của đồng bào

có đạo bảo đảm đúng pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và hướng dẫncủa các giáo hội, góp phần tạo thuận lợi cho huyện thực hiện thắng lợi các mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra

Trang 24

Nguyễn Văn Tú (2012), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác tư tưởng từ năm 1996 đến năm 2006 [149] Tác giả nêu rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa

yêu cầu khách quan lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai,phân tích quá trình vận dụng, cụ thể hoá đường lối của Đảng trong lãnh đạo,chỉ đạo công tác tư tưởng; luận giải qua mười năm thực hiện đường lối đổi mớidưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, công tác tư tưởng đã đạt được một

số kết quả đáng kể, góp phần thúc đẩy đổi mới tư duy, từng bước hình thànhnhững quan điểm, những nguyên tắc chỉ đạo tích cực mở rộng thông tin nhiềuchiều có định hướng trong xã hội, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhândân nhận thức tốt hơn các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, trong đó

có nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của tỉnh; lòng tin của quần chúng nhân dân đốivới Đảng, với CNXH được củng cố, các phong trào hành động cách mạng thựchiện nghị quyết của Đảng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng có hiệu quả cao, từngbước giảm dần tâm trạng hoài nghi giao động trong quần chúng nhân dân Côngtác tư tưởng đã góp phần vào lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, QP, ANxây dựng Đồng Nai giàu đẹp, văn minh, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH,HĐH của cả nước Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm vànguyên nhân của lãnh đạo công tác tư tưởng Từ đó, rút ra một số kinh nghiệmtrong quá trình lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai

Nguyễn Văn Nam (2015),“Kết quả và kinh nghiệm diễn tập khu vực

phòng thủ tỉnh Đồng Nai” [95] Tác giả nêu rõ vị trí vai trò và tầm quan trọng

của Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị, “ Về tiếp tục hoàn thiện cơ chếlãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế

độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam” Đây là chủtrương lớn, có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng Quân đội,tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Trong quá trình triển khai thực hiệnNghị quyết 51, Tỉnh chú trọng gắn kết chặt chẽ với các nghị quyết, chỉ thị củacấp trên, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị và Cục Chính trị Quân khu 7, cóchủ trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụcủa địa phương Đảng ủy Quân sự Tỉnh đã ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo

Trang 25

triển khai thực hiện Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trungương), Nghị quyết 11-NQ/ĐUQK của Đảng ủy Quân khu 7, Thông tri 04 củaTỉnh ủy Đồng Nai; đồng thời, xây dựng kế hoạch, lộ trình, bước đi phù hợp,

với phương châm: Tích cực, chủ động, đồng bộ và vững chắc

Nguyễn Văn Hoà (2017), Nâng cao chất lượng xây dựng “thế trận lòng

dân” trong khu vực phòng thủ tỉnh Đồng Nai đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc

[62] Tác giả làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng “thế trận lòng dân”trong KVPT tỉnh Đồng Nai đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Nêu đặc điểm

và thực trạng xây dựng “thế trận lòng dân” trong KVPT Tỉnh Đồng Naihiện nay Những nhân tố tác động, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượngxây dựng “thế trận lòng dân” trong KVPT tỉnh Đồng Nai đáp ứng yêu cầu bảo

vệ Tổ quốc trong tình hình mới Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy

đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội về xây dựngnền quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” trong KVPT tỉnh Xây dựng hệthống chính trị cơ sở vững mạnh làm nòng cốt để xây dựng “thế trận lòng dân”trong KVPT Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước,xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy dân chủ cơ sở, khôngngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đổi mới nội dung,phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia xây dựng nền quốcphòng toàn dân trong KVPT Kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vớicủng cố quốc phòng, an ninh; giữa củng cố quốc phòng , an ninh với phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội trong KVTP Tỉnh Không ngừng chăm lo gìn giữ vàphát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong KVPT Trong quá trình thực hiệnkhông ngừng bổ sung, hoàn thiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xâydựng “thế trận lòng dân” trong KVPT tỉnh Đồng Nai đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổquốc

Nguyễn Ngọc Sáng (2017), “Công tác dân vận của lực lượng vũ trangtỉnh Đồng Nai góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh”

Trang 26

[112] Tác giải đã khái quát chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về côngtác dân vận trong thời kỳ mới, vai trò của LLVT tỉnh Đồng Nai trong thựchiện công tác dân vận tại địa phương “Từ những chủ trương đúng đắn hìnhthức biện pháp phù hợp đã tạo ra những phong trào mang lại hiệu quả quả tolớn” [112, tr 52] Thông qua các mô hình hoạt động lực lượng vũ trang Tỉnh

đã rút ra một số kinh nghiệm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhậnthức về công tác dân vận, tạo sự đồng thuận giữa cấp uỷ, chính quyền, nhândân địa phương và đơn vị xây dựng điạ bàn an toàn, góp phần xây dựng tốtcác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, QP, AN ở địa phương trong điều kiệnmới Phát huy tốt vai trò lãnh đạo của cấp uỷ các cấp, cán bộ chủ trì, vai tròtham mưu của các ban, ngành, đoàn thể xã hội, lực lượng vũ trang trong thựchiện công tác dân vận Tích cực bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, nghiệp

vụ công tác dân vận, phương pháp tác phong công tác cho cán bộ chyên trách,mỗi cán bộ dân vận phải thực sự là là một “điển hình dân vận khéo” Thườngxuyên sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác dân vận…

Các công trình trên đã khẳng định vị thế của Đồng Nai và sự cần thiếtphải tăng cường CTQPĐP trong phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó,Đảng bộ tỉnh Đồng Nai tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quân sự, quốcphòng toàn diện, tập trung có trọng tâm, trọng điểm sát với điều kiện cụ thểcủa địa phương, đảm bảo ngày càng vững mạnh, có chiều sâu Chú trọng xâydựng LLVT địa phương vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, trình

độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao, xứng đáng là lực lượngnòng cốt trong xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dângiữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Tỉnh

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Trang 27

Về mặt tư liệu: Các công trình nghiên cứu về công tác quốc phòng đã

được công bố rất đa dạng, phong phú về thể loại, bao gồm sách chuyên luận,chuyên khảo các bài báo khoa học, đề tài khoa học và kỷ yếu hội thảo khoa họcliên quan đến quốc phòng và CTQPĐP, tiếp cận nhiều góc độ khác nhau, phạm

vi không gian, thời gian khác nhau Các công trình đã cung cấp những thông tinkhoa học nhất định về những nhận định, đánh giá và số liệu cụ thể, vềCTQPĐP được khái quát từ thực tiễn Đó là những tư liệu quý có thể sử dụngtham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận án

Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, qua khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án cho thấy: Các công trình được tiếp

cận về nội dung, thời gian, không gian, nghiên cứu liên quan đề tài với nhiềucách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau; như tiếp cận và nghiên cứudưới góc độ và phương pháp chuyên ngành quân sự, xây dựng Đảng và Chínhquyền Nhà nước, xã hội học Nhìn chung, cách tiếp cận, trình bày của hệ thốngcác công trình đó rất phong phú, đa dạng sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu khác nhau như phương pháp lôgic, lịch sử, phương pháp phân tích, tổnghợp, so sánh… có thể tham khảo về cách tiếp cận, các phương pháp nghiên cứuhợp với đề tài luận án chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Về nội dung nghiên cứu

Một là, một số công trình nghiên cứu có liên quan đã làm rõ khái niệm,

vị trí, vai trò của CTQPĐP đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố,xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD, thế trận an ninh nhân dân trên cả nước,các vùng và mỗi địa phương Sự phát triển về nhận thức trong xã hội về sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng trong thời kỳ đổi mới, nhữngnhân tố tác động ảnh hưởng thực hiện công tác quốc phòng trong xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về nộihàm, phạm vi nghiên cứu, về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốcphòng Ở một số công trình đã đi sâu làm rõ vai trò của cấp uỷ địa phươngtrực tiếp lãnh đạo công tác quốc phòng Đây là nguồn tư liệu quý, cung cấpcho người đọc những vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn và có cách nhìn toàn

Trang 28

diện, hệ thống trong nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tácquốc phòng địa phương từ năm 2005 đến năm 2015

Hai là, một số công trình nghiên cứu về nội dung của CTQPĐP ở một

số địa phương, đánh giá thành tựu, hạn chế, công tác quốc phòng và chỉ ranguyên nhân của những thành tựu, hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm thực hiệnCTQPĐP để vận dụng vào trong giai đoạn mới Trên cơ sở đề xuất phương hướng,nhiệm vụ và nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ CTQPĐP

Ba là, một số công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác quốc phòng và CTQPĐP, đã đề cập đến chủ trương và sự chỉ đạo củaĐảng về công tác quốc phòng trên phạm vi cả nước và một số vùng miền, địaphương trong các thời gian cụ thể khác nhau

Bốn là, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quốc

phòng và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai đã cung cấp chonghiên cứu sinh những tư liệu lịch sử, những nhận xét, đánh giá ban đầu vềtình hình thực hiện công tác quốc phòng của tỉnh Đồng Nai, kết quả nghiêncứu của các công trình liên quan đến đề tài, có thể kế thừa, phát triển đưavào các nội dung của luận án

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, đầy đủtoàn diện có tính hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh ĐồngNai về công tác quốc phòng địa phương từ năm 2005 đến năm 2015 Vì thế, vấn

đề Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương từ năm

2005 đến năm 2015 đang là “khoảng trống” về khoa học cần được nghiên cứu

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Một là, những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương từ năm 2005 đến năm 2015

Vấn đề này, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những yếu tố tácđộng đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về CTQPĐP như tình hìnhthế giới, trong nước, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai Vịtrí chiến lược thế trận quốc phòng của tỉnh Đồng Nai; lịch sử truyền thốngcủa tỉnh Đồng Nai Thực trạng CTQPĐP ở Đồng Nai trước năm 2005 Chủ

Trang 29

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về CTQPĐP trong thời kỳ mới.Qua đó, làm rõ thuận lợi, khó khăn tác động đến sự lãnh đạo về CTQPĐPcủa Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2005 - 2015)

Hai là, chủ trương và sự chỉ đạo công tác quốc phòng địa phương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015

Đây là nội dung quan trọng của luận án, trên cơ sở các văn kiện củaĐảng bộ tỉnh, chính quyền, cơ quan ban ngành, cơ quan quân sự của tỉnh ĐồngNai (2005 - 2015), nghiên cứu sinh khái quát chủ trương của Đảng bộ tỉnh ĐồngNai về CTQPĐP bao gồm hệ thống phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ giải phápđồng thời, luận án làm rõ sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về CTQPĐP tập trungnhững vấn đề cơ bản sau: (1) Công tác giáo dục quốc phòng, an ninh (2) Xâydựng lực lượng bộ đội địa phương, Dân quân tự vệ và Dự bị động viên (3) Xâydựng tiềm lực quốc phòng trong khu vực phòng thủ Tỉnh

Chủ trương, sự chỉ đạo CTQPĐP, luận án trình bày qua 2 giai đoạn (2005 2010) và (2010 - 2015); luận án phân tích so sánh làm rõ sự phát triển trong lãnhđạo CTQPĐP giai đoạn 2010 - 2015 so với giai đoạn 2005 - 2010; đồng thời sosánh với các địa phương khác có điều kiện hoàn cảnh tương tự tỉnh Đồng Nai

-Ba là, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương (2005 - 2015)

Trên cơ sở thu thập các nguồn sử liệu, trong hệ thống văn kiện và cácbáo cáo hằng năm, nhiệm kỳ về công tác quốc phòng của Tỉnh, luận án tậptrung đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong hoạch định chủ trương, sự chỉđạo và kết quả trong thực tiễn CTQPĐP của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm

2005 đến năm 2015 và chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó

Bốn là, kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương (2005 - 2015)

Đây là nội dung quan trọng của luận án Đòi hỏi nghiên cứu sinh phải

nỗ lực tư duy, có cách nhìn toàn diện mới rút ra được những kinh nghiệm cótính thuyết phục, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học làm tài liệutham khảo cho việc nghiên cứu, hoàn thiện chủ trương, chính sách và sự chỉ

Trang 30

đạo nâng cao hiệu quả CTQPĐP ở tỉnh Đồng Nai nói riêng, các địa phươngkhác nói chung trong thời gian tới.

Trang 31

Kết luận chương 1

Quốc phòng là lĩnh vực hệ trọng, trực tiếp liên quan đến vận mệnh củaquốc gia Nghiên cứu về quốc phòng và công tác quốc phòng địa phương hiệnnay là rất cần thiết cả lý luận và thực tiễn Đây là vấn đề được các cơ quan, tổchức, cá nhân và các nhà khoa học trong nước và một số nước trên thế giớiquan tâm nghiên cứu ở nhiều phạm vi, góc độ khác nhau, biểu hiện ở tínhphong phú của các công trình đã được nghiên cứu sinh khảo cứu trong tổngquan Các công trình đã được công bố liên quan đến đề tài luận án đã đềcập nhiều nội dung quan trọng, làm rõ vị trí, vai trò của của quốc phòng vàcông tác quốc phòng địa phương đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; các côngtrình khoa học nghiên cứu đã làm rõ tính tất yếu khác quan về Đảng lãnh đạo

sự nghiệp quốc phòng và cấp ủy địa phương lãnh đạo công tác quốc phòngđịa phươngtrong điều kiện Đảng cầm quyền; đồng thời chỉ ra thực trạngquốc phòng và công tác quốc phòng địa phương, bước đầu đánh giá, nhận xétkết quả một số thành công đạt được và đúc rút kinh nghiệm, đề xuất phươnghướng, giải pháp thực hiện tốt vai trò lãnh đạo quốc phòng và công tác quốcphòng địa phương trong thời kỳ mới Đã có một số công trình nghiên cứu sựlãnh đạo của Đảng về công tác quốc phòng trên phạm vi cả nước và ở một số địaphương trên phương diện khoa học Lịch sử Đảng Đây là những vấn đề luận án

có thể kế thừa, phát triển Đồng thời, chỉ ra những vấn đề chưa được nghiêncứu chỉ ra những “khoảng trống” về khoa học liên quan đến đề tài luận án

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, hệthống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về công tác quốc phòng địaphương từ năm 2005 đến năm 2015, nghiên cứu sinh chọn đề tài trên làm luận

án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng không trùng lặp với các công trình khoahọc đã công bố, luận án đã được bảo vệ trong và ngoài nước

Trang 32

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI

VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG ĐỊA PHƯƠNG (2005 - 2010) 2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về công tác quốc phòng địa phương

2.1.1 Những yếu tố tác động tới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về công tác quốc phòng địa phương

2.1.1.1 Tình hình thế giới, khu vực, trong nước, chủ trương của Đảng

và Đảng bộ Quân khu 7 về công tác quốc phòng, an ninh

Tình hình thế giới: Mặc dù, tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, nhưng

xu hướng phát triển cơ bản của cục diện quốc tế trong những năm đầu thế kỷ XXI

là hoà bình, hợp tác và phát triển; kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi và phát triển,nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường Toàn cầu hoá kinh tế là một xuthế khách quan, tạo ra cơ hội phát triển, hội nhập quốc tế, hợp tác về quân sự gópcủng cố quốc phòng, nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, đem lạikhó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam Cạnh tranh kinh tế, thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên,năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ… giữa các nước ngày càng gay gắt.Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn

Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôngiáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng

bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiênnhiên diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Các mâu thuẫn lớncủa thời đại vẫn rất gay gắt Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốcgia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết như: Khoảng cách chênh lệchgiữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; môi trường tự nhiên bịhuỷ hoại; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếmnguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên; khí hậu diễn biến ngày càng xấu kèmtheo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn có thể bùng phát trên tất cảcác nước, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng

Trang 33

Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương xu thế hoà bình, hợp tác và

phát triển, tiếp tục gia tăng, là một trong những khu vực có nền kinh tế phát triểnnăng động nhất thế giới; là nơi giao thoa lợi ích chiến lược giữa các cường quốc

Sự cạnh tranh ảnh hưởng địa - chiến lược và nguồn tài nguyên của các nước lớn

ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong những năm 2005 - 2010 diễn ra rấtquyết liệt Sự can dự của các nước lớn ở khu vực mang tính toàn diện, bao gồmtất cả các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, quân sự Tranh chấp biển, đảo về biên giới,lãnh thổ, tài nguyên giữa các nước diễn ra phức tạp; gây bất ổn về kinh tế, chínhtrị, xã hội ở một số nước

Tình hình trong nước: Trong 5 năm (2001 - 2005) toàn Đảng, toàn dân,

toàn quân ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng đạt được những thành tựu rất quan trọng, kinh tế có tốc độ tăngtrưởng khá cao, Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăngcường làm cho thế và lực Việt Nam ngày càng lớn mạnh Quan hệ hợp tácquốc tế có bước phát triển mới, mở rộng, chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, giữ vững môi trường hoà bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho pháttriển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh hơn Tuy nhiên giai đoạn (2005 -2010)Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn, đan xen nhau, tácđộng tổng hợp và diễn biến phức tạp Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sovới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái

về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng Các thếlực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật

đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tự do tôn giáo lôi kéo tậphợp lực lượng, kích động bạo loạn; hỗ trợ cho bọn phản động ở nước ngoài,bọn cơ hội chính trị, hòng thành lập tổ chức chính trị đối lập ở trong nước;tình hình tranh chấp Biển Đông diễn ra phức tạp; hoạt động truyền đạo tráiphép, di dịch dân cư tự do vẫn xảy ra trên một số địa bàn, thiên tai dịch bệnhdiễn ra liên tiếp và gây thiệt hại nặng nề Tình hình trên đã tác động trực tiếpđến nhiệm vụ QP, AN

Trang 34

Chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh

Mục tiêu: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác

định: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ anninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hoá và an ninh xã hội; duytrì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước,ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch,không để bị động, bất ngờ [45, tr 108 - 109]

Nhiệm vụ, giải pháp

Về công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng “công tác giáo dục, bồi dưỡngkiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ công chức và cho toàn dân, có nộidung phù hợp với từng đối tượng và đưa vào chương trình chính khóa trong cácnhà trường theo cấp học, bậc học” [45, tr 109] Thực hiện Chỉ thị số 12/CT-TW

ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị, Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Giáo dục QP, AN cho cán bộ các cấp, các ngành, đảng viên và quầnchúng, từng đối tượng nhất là thế hệ trẻ để có nhận thức đúng đắn và đầy đủ vềnhiệm vụ xây dựng, củng cố nền QPTD gắn với nền an ninh nhân dân, trên cơ

sở đó, thấy rõ trách nhiệm của mỗi người, mỗi tổ chức trong việc thực hiệnnhiệm vụ QP, AN; kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoàbình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch [4, tr 2 - 3]

Giáo dục QP, AN nhằm góp phần đào tạo con người phát triển toàndiện, hiểu biết một số nội dung cơ bản về QP, AN; truyền thống đấu tranhchống ngoại xâm của dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân vềbảo vệ Tổ quốc; nâng cao lòng yêu nước, yêu CNXH; có ý thức cảnh giáctrước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; có kiến thức cơ bản vềđường lối QP, AN và công tác quản lý nhà nước về QP, AN; có kỹ năngquân sự, an ninh cần thiết để tham gia vào sự nghiệp xây dựng, củng cốnền QPTD, an ninh nhân dân, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Trang 35

[4, tr 2 - 3] Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với nhiệm

vụ giáo dục QP, AN; công tác giáo dục QP, AN phải đặt dưới sự lãnh đạotrực tiếp của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền và vaitrò tham mưu của các ban, ngành trong đó lực lượng vũ trang làm nòngcốt Thường xuyên tiến hành giáo dục các quan điểm, đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng nền QPTD chocán bộ các cấp, các ngành và thế hệ trẻ, “chú trọng giáo dục thống nhấtnhận thức về đối tượng và đối tác” [45, tr 109]

Về xây dựng lực lượng vũ trang: Xây dựng Quân đội nhân dân và Công

an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Nâng caochất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượngchính trị trong sạch, vững mạnh tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng,Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến Đổi mới tổ chức, nộidung, phương pháp huấn luyện, đào tạo đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang

bị, phương tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới [45, tr 110 - 111] “Xây dựng

và tổ chức hoạt động của khu vực phòng thủ bằng sức mạnh tổng hợp, do toàndân tham gia, các lượng vũ trang địa phương (Bộ đội địa phương, Bộ đội biênphòng, Công an, Dân quân tự vệ, Dự bị động viên) làm nòng cốt thực hiệnnhiệm vụ quốc phòng, an ninh” [6, tr 4]

Về xây dựng tiềm lực quốc phòng; Tăng cường sức mạnh QP, AN trên

cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước Xây dựng thế trận QPTD kết hợpchặt chẽ thế trận an ninh nhân dân Đẩy mạnh xây dựng các KVPT Tỉnh,thành phố [45 tr 110]; “Tập trung xây dựng tiềm lực về chính trị, tư tưởng,kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sinh, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh

và đối ngoại của khu vực phòng thủ” [6, tr 5]

Xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp đoàn kết, thống nhất, cónăng lực lãnh đạo, tổ chức điều hành xây dựng và chỉ đạo hoạt động KVPT;phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lựcthù địch; xây dựng các tổ chức quần chúng ở từng địa phương vững mạnh hoạt

Trang 36

động đúng chức năng, có hiệu quả Coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảngviên kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, tiền phong gươngmẫu, có lối sống văn minh, lành mạnh Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở,phát huy quyền làm chủ của nhân dân Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, làm thất bạimọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, xâydựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh trong KVPT Đẩy mạnh đấu tranhphòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ,đảng viên với quần chúng; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền,xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc

Phát triển các ngành kinh tế gắn với tạo nguồn nhiên liệu cho côngnghiệp quốc phòng, sẵn sàng chuyển sang phục vụ yêu cầu QP, AN khi cầnthiết Nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở công nghiệp quốc phòng ở địaphương, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, “lưỡng dụng” vừa phục vụquốc phòng vừa phục vụ dân sinh

Đảm bảo cho các nhu cầu của QP, AN, bao gồm cả về nhu cầu về nhân lực,

vũ khí, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, tài chính vật chất; bảo đảm năng lực sảnxuất của nền kinh tế trong KVPT cho nhu cầu quốc phòng đầu năm chiến tranh

Có kế hoạch chuyển hoạt động của địa phương sang các trạng thái quốc phòng và

kế hoạch huy động các nguồn lực của nền kinh tế trong KVPT bảo đảm cho hoạtđộng tác chiến, bảo đảm an ninh và hoạt động xã hội

Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 7 về công tác quốc phòng, an ninh Phương hướng: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 7 lần thứ

VII nhiệm kỳ 2005 - 2010 xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấucủa các cấp ủy, tổ chức đảng, huy động sử dụng tốt mọi nguồn lực xây dựng nềnquốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; xâydựng lực lượng vũ trang Quân khu có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đápứng được yêu cầu, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, không để bất ngờ trong

mọi tình huống [37, tr 27]

Trang 37

Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiếnthức quốc phòng, an ninh cho cán bộ công chức và toàn dân, nâng cao nhậnthức và ý thức trách nhiệm của các cấp, các tầng lớp nhân dân đối với nhiệm

vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu trong nhiệm kỳ các đối tượng đều được bồidưỡng kiến thức quốc phòng theo quy định [37, tr 28]

Xây dựng LLVT Quân khu 7, bảo đảm quân số theo quyết định của

Bộ quốc phòng, nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức chiến chiến đấu củaLLVT quân khu vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm nềntảng; Tập trung xây dựng nền nếp chính quy; Nâng cao chất lượng huấnluyện về kỹ, chiến thuật, [37, tr 32 - 35]

Tập trung xây dựng tiềm lực và thế trận KVPT, xây dựng thế trận hậucần; phát huy sức mạnh tổng hợp, bảo đảm huy động sức mạnh của quânkhu đáp ứng mọi nhu cầu quốc phòng, an ninh, nhất là khi có tình huốngchiến tranh [37, tr 38] Chủ trương của Đảng và Đảng bộ Quân khu 7 vềcông tác quân sự, quốc phòng là cơ sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh Đồng Naiquán triệt, vận dụng vào thực tế địa phương đề ra chủ trương và sự chỉ đạothực hiện CTQPĐP của Tỉnh trong những năm 2005 - 2010

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng tronglãnh đạo công tác quốc phòng địa phương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trước năm 2005

Về địa lý: Đồng Nai nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Bộ, có vị trí tọa

độ địa lý 10,300- 110034’57’’độ vĩ bắc và 106045’30’’- 107035’ kinh độ đông.cách Thủ đô Hà Nội 1693 km; Phía Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh -trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật lớn hàng đầu cả nước; phía ĐôngNam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Tây vàTây Bắc, giáp Bình Dương, Bình Phước; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận Tỉnh

có diện tích tự nhiên 5.906km2 bằng 1,78% diện tích của cả nước và 19,4% diệntích của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Toàn Tỉnh có có 11 đơn vị hànhchính trực thuộc, gồm Thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh (nay là thành

Trang 38

phố Long Khánh) và các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất,Trảng Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Long Thành và Nhơn Trạch, với 171 xã,phường, thị trấn (136 xã, 29 phường và 6 thị trấn, 963 ấp, khu phố), Trong đóthành phố Biên Hoà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của toàn Tỉnh.

Về cơ cấu dân số, dân tộc, tôn giáo: Đồng Nai là vùng đất có lịch sử

khai phá và phát triển lâu đời, cộng đồng dân cư hiện có 32 dân tộc sinhsống, trong đó dân tộc Kinh chiếm trên 93%, còn lại là dân tộc Hoa và cácdân tộc ít người khác sinh sống tập trung ở các huyện Tân Phú, Định Quán,Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Trảng Bom, Vĩnh Cửu và thị xã Long Khánh (nay làthành phố Long Khánh) Dân số toàn tỉnh năm 2005 có 2.910.000 người,trong đó dân số tạm trú 500.000 nhân khẩu, sống ở đô thị có 860.773 ngườichiếm 33,43% Mật độ dân cư bình quân 435 người/km2, trong 5 năm 2005

- 2010, dân số của tỉnh tăng lên 3 triệu 655 người, tốc độ tăng dân số bìnhquân 1,27%/năm Đồng Nai cũng là Tỉnh có lực lượng quần chúng theo cáctôn giáo khác nhau đông nhất nước, với tổng số tín đồ trên 1,4 triệu người,chiếm trên 60% dân số, toàn Tỉnh có 13 tôn giáo chính với trên 60% dân sốtoàn Tỉnh (Công giáo, Phật giáo, Đạo Cao đài, Tin lành, Hồi giáo, Phậtgiáo Hòa Hảo, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa,Minh Sư Đạo, Bàlamôn, Minh Lý Đạo, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương), trong đónhiều nhất là Công giáo có 797.702 người (chiếm hơn 35% dân số toànTỉnh) Phân bố rộng khắp 11/11 huyện, thị xã, thành phố, 171/171 xã,phường, thị trấn thuộc địa bàn Tỉnh

Về kinh tế, văn hóa xã hội: Tính đến năm 2010, tỉnh Đồng Nai đã

thành lập 32 khu công nghiệp và đã được Chính phủ phê duyệt, trong đó 27khu công nghiệp đi vào hoạt động, thu hút trên 1.000 dự án đầu tư, tổng vốnđầu tư trên 14,5 tỷ USD, giải quyết việc làm cho hơn 410.000 lao động Tínhđến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 29,6 triệu đồng tương đương1.629 USD [43, tr.13] Tổng thu ngân sách từ 2005 - 2010 đạt trên 61 ngàn tỷđồng tăng bình quân 12,5 % /năm, bằng 67,3% mức bình quân chung của

Trang 39

vùng Đông Nam Bộ và cao hơn gấp 1,3 lần bình quân cả nước Năm 2010,qui mô GDP của Tỉnh đạt 75.899 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,6% và đứng thứ3/6 địa phương ở Đông Nam Bộ [43, tr 15 - 14].

Đồng Nai có truyền thống đấu tranh kiên cường, mưu trí sáng tạo, tự lực,

tự cường, chống áp bức, bóc lột và sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giảiphóng dân tộc Nhà máy cưa BFI được xây dựng năm 1907 và hoạt động từ năm

1912, đây là nơi các đảng viên Cộng sản hoạt động tuyên truyền yêu nước, cóphong trào đấu tranh của công nhân khá sớm và chi bộ đảng ra đời từ nhữngnăm 1943 - 1944 Đội ngũ công nhân BFI là lực lượng nòng cốt giành chínhquyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cung cấp sức người, sức củatrong kháng chiến Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thành phố BiênHòa, Đồng Nai là nơi đầu tiên xây dựng trường huấn luyện du kích ở miềnĐông, cùng với Chiến khu Đ, tạo thành một hệ thống căn cứ liên hoàn chốngthực dân Pháp, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ĐồngNai trở thành một căn cứ quân sự lớn là nơi che chở quân và dân ta và ghinhiều chiến công vang dội Chiến thắng sân bay Biên Hòa, Bình Giã, Tổngkho Long Bình, chiến thắng Rừng Sác… Đặc biệt, chiến thắng Xuân Lộc, giảiphóng thị xã Long Khánh, quân dân Đồng Nai đã góp phần quan trọng cùnglực lượng chủ lực đập tan tuyến phòng thủ của Mỹ ở hướng Đông Nam SàiGòn, tạo điều kiện cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước

Đồng Nai có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn và du lịch thiên nhiên kháphong phú Trên địa bàn Tỉnh đến nay còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa, toànTỉnh có 47 di tích được xếp hạng, có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm dulịch nổi tiếng: Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch BửuLong, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, chiến khu Đ, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thácGiang Điền, khu du lịch Long Châu Viên, khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấpquốc gia núi Chứa Chan … Đây là cơ sở, điều kiện thuận lợi để phát triển tốt ngành

du lịch, dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và QP, AN

Trang 40

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai nêu trên đã tác động tớilĩnh vực quốc phòng địa phương như sau:

Thuận lợi: Đồng Nai có nhiều tiềm năng lợi thế xây dựng nền QPTD,toàn diện, trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộitrên địa bàn tỉnh đến năm 2005 cơ bản ổn định, QP, AN luôn được giữ vững,kinh tế hằng năm tăng trưởng cao; văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sốngNhân dân ngày càng được nâng cao

Khó khăn: các thế lực phản động, cơ hội lợi dụng vấn đề “tôn giáo, dânchủ, nhân quyền” ráo riết cấu kết tập hợp lực lượng, tăng cường chống phá, nhất

là thời điểm diễn ra Đại hội X của Đảng, Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, tìnhhình khiếu kiện, đình công, tai nạn giao thông và các tệ nạn xã hội vẫn còn xảy ra.Điều kiện khí hậu thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp; giá cả một số mặt hàngthiết yếu luôn biến động Tình trạng công nhân đình lãn công xảy ra khá phổ

biến, đã xảy ra 774 vụ/449.823 lượt công nhân tham gia Nguyên nhân: Đòi

tăng lương, cải thiện chế độ làm việc và các khoản phụ cấp khác Xảy ranhiều nhất ở các công ty có vốn Hàn Quốc, Trung Quốc…

Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơichưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào Trong khi đó, các thế lực thù địch,phản động luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, trình độ dân tríthấp của đồng bào và những sai sót của chính quyền các cấp, các ngành trongthực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước để kích động tưtưởng ly khai, tự trị, phá hoại truyền thống đoàn kết, thống nhất của cộng đồngcác dân tộc, gây mất ổn định chính trị, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc ít người, đồng bào có đạo, vùng trình độ dân trí thấp, kinh tế còn gặpnhiều khó khăn Những đặc điểm trên luôn tác động đến an ninh, chính trị - trật

tự an toàn xã hội trên địa bàn và việc triển khai thực hiện CTQPĐP của Tỉnh

Thực trạng lãnh đạo công tác quốc phòng địa phương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trước năm 2005

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân,UBND tỉnh Đồng Nai đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng toàn dân,

Ngày đăng: 11/03/2022, 15:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w