1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm_Sự mất cân bằng giới tính ở việt nam hiện nay

25 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm 3Đề tài: Dân số Chủ đề : Sự mất cân bằng giới tính ở Việt Nam hiện nay Phần 1: Giới thiệu chung về vấn đề chính sách Trong các vấn đề về dân số hiện nay ở nước ta,mất cân bằng giớ

Trang 1

Nhóm 3

Đề tài: Dân số Chủ đề : Sự mất cân bằng giới tính ở Việt Nam hiện nay

Phần 1:

Giới thiệu chung về vấn đề chính sách

Trong các vấn đề về dân số hiện nay ở nước ta,mất cân bằng giới tínhkhi sinh là vấn đề dân số xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷXXI và ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội Trong mấy năm gần đâymất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra với tốc độ nhanh, ngàycàng lan rộng và đã đến mức nghiêm trọng Mất cân bằng giới tính khi sinhkhông chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cá nhân, gia đình, các dòngtộc mà còn trở thành tai họa đối với dân tộc và sự phát triển bền vững củađất nước.Tỉ số giới tính khi sinh được tính bắng số trẻ em trai sinh ra so với

số trẻ em gái sinh ra trong một thời gian nhất định, thường được tính trongvòng 1 năm.Tỉ số này trong khoảng 103 đến 106 trẻ em trai so với 100 trẻ

em gái được coi là mức cân bằng, nhưng hiện nay ở nước ta tỉ số này đã nằmngoài khoảng trên, tức là mất cân bằng giới tính khi sinh

Trên thế giới, tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) bắt đầu gia tăng ởmột số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, từ cuối nhữngnăm 1970, cùng với sự xuất hiện của siêu âm và kỹ thuật chọc ối, giúp chocác cặp vợ chồng biết được giới tính của thai nhi

Ở Việt Nam, theo kết quả Tổng điều tra dân số, Điều tra biến độngDS-KHHGĐ, “TSGTKS năm 1999 ở mức 107 Trong những năm từ 2001-

2005, TSGTKS biến động lên xuống (2001 là 109; năm 2002 là 107; 2003 là

Trang 2

104; 2004 là 108; 2005 là 106) Nhưng từ năm 2006, với mức TSGTKS là

109,8 - vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trở nên “nóng” và thực sự thu

hút sự chú ý của các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội.Trong những năm gần đây TSGTKS vẫn tiếp tục tăng cao (năm 2009TSGTKS là 110,5; năm 2010 là 111,2; năm 2011 là 111,9 năm 2012 là112,3) Như vậy, từ năm 2006 đến 2008 bình quân mỗi năm tăng 1,15 điểm

%; từ năm 2009 đến 2012, mỗi năm tăng bình quân khoảng 0,6 điểm %”

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra ở cả nông thôn lẫnthành thị, nhiều vùng miền Nhiều nơi có TSGTKS cao liên tục qua các năm

và qua nhiều cuộc điều tra của bộ y tế cũng nhưng tổng cục thống kê, tổngcục dân số kế hoạch hoá gia đình.Mất cân bằng GTKS xảy ra ở cả khu vựcnông thôn và thành thị và có sự khác biệt về TSGTKS giữa hai khu vực này(nông thôn 111,1 và thành thị 114,2) Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tựsinh của phụ nữ 15-49 tuổi, số liệu cho thấy, khu vực thành thị có sự lựachọn giới tính khi sinh ngay ở lần sinh đầu, trong khi đó việc lựa chọn giớitính khi sinh của khu vực nông thôn chỉ xuất hiện ở lần sinh thứ hai trở đi

Tỷ số giới tính khi sinh của lần sinh thứ ba trở lên khá cao (khoảng 120 bétrai/100 bé gái) đối với cả khu vực thành thị và nông thôn,

Năm 2009 xem xét ở cấp vùng lại có sự khác nhau giữa một số vùng:Đồng bằng Sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ & Duyên hải miền Trung cóTSGTKS ở nông thôn cao hơn thành thị khoảng 5 điểm phần trăm; trong khi

ở các vùng còn lại TSGTKS ở thành thị lại cao hơn nông thôn

Cũng trong năm 2009 có 45 tỉnh, thành phố xẩy ra mất cân bằng giớitính khi sinh (tăng thêm 9 tỉnh), trong đó có 35 tỉnh từ 110 trở lên (tăng thêm

7 tỉnh); có 10 tỉnh TSGTKS từ 115 trở lên; thậm chí có 2 tỉnh Hải Dương vàHưng Yên vượt trên mức 120 TSGTKS cao ở những tỉnh xung quanh Hà

Trang 3

Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong đó cao nhất là các tỉnh thuộckhu vực Đồng bằng Sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, BắcGiang, Nam Định,… Đây là những địa phương thuộc vùng kinh tế năngđộng, tư tưởng nho giáo khá năng nề, sự ưa thích con trai mãnh liệt và ngườidân có điều kiện tiếp cận khá dễ dàng các dịch vụ chọn lọc trước sinh.

Bên cạnh đó,TSGTKS cao ở những gia đình có kinh tế khá giả, nhữngphụ nữ có trình độ học vấn caoNhững gia đình có kinh tế khá giả, những phụ

nữ có trình độ học vấn cao, có mức sinh thấp hơn một cách rõ rệt so với cácđối tượng khác Những phụ nữ có trình độ học vấn cao biết chủ động sửdụng các biện pháp tránh thai và chủ động điều chỉnh số con mong muốn;những phụ nữ này thường lại có điều kiện kinh tế tốt hơn để có thể chi trảdịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh và họ thỏa mãn được cả 2 mục tiêu:quy mô gia đình nhỏ và có con trai Điều này cho thấy để giảm sự mất cânbằng giới tính khi sinh diễn ra ngày càng phức tạp và khó kiểm soát hơntrước rất nhiều

Tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay ở nước ta chủ yếu do cácnguyên nhân sau:

Nhóm nguyên nhân cơ bản:

Việt Nam là một quốc gia châu Á có nền văn hoá truyền thống, trong

đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo.Một trong những giá trị của Nhogiáo là mô hình gia đình truyền thống, trong đó việc nối dõi tông đường, thờphụng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ là những giá trị nền tảng Trong nền vănhoá đó, tâm lý ưa thích con trai trở lên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợchồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ, quan niệm có con trai mới được xem là đã

có con - “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, không có con trai là tuyệt tự Khi

Trang 4

cha mẹ chết, con trai được đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu trai mớiđược bê bát hương ông, bà; con trai mới được vào nơi thờ tự, đóng góp giỗ tổ tiên.Hơn nữa khi đã cao tuổi, người già vì thế sẽ cảm thấy lo lắng cho tương lai vàbất an khi về già nếu không có con trai.

Do nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình: ở nhiều vùng nông thôn,các công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm -Ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ đều đòi hỏisức lao động cơ bắp của nam giới Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinhthần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình

Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, và trởthành một phần của nền văn hoá truyền thống Việt Nam Ưa chuộng con traichính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở ViệtNam

1.2 Nhóm nguyên nhân phụ trợ

Những chuẩn mực xã hội mới như gia đình qui mô nhỏ cũng tạo áplực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con Điều này dường nhưxung đột với giá trị văn hoá truyền thống là phải có con trai bằng mọi giá.Chính sự xung đột này đã tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng: vừa mongmuốn có ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai Đây là động lựckhiến các cặp vợ chồng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tínhtrước sinh.Ngoài ra, những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đếnbất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ

nữ chủ động tìm kiếm các dịch vụ lựa giới tính trước sinh

1.3 Nguyên nhân trực tiếp

Trang 5

Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn

giới tính trước sinh như: Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai và trong lúc thụ thai hoặc sau khi đã có thai để chẩn đoán giới tính thai nhi, kết hợp

với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là thai trai thì để lại, nếu là thai gái thì bỏđi) Điều này làm cho tỉ lệ mất cân bằng giới tính giữa nam và nữ tăng cao

Thực tế cho thấy, việc mong muốn con trai của các cặp vợ chồng dùlớn đến đâu cũng chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của bên y tế.Cụthể là khả năng tiếp cận dịch vụ chẩn đoán giới tính trước sinh của các cặp

vợ chồng Nhờ đó mà họ có thể biết được mình đang mang thai là trai haygái nếu là thai bé gái thi sẽ tiến hành phá thai

Những năm trở lại đây, hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân

ở Việt Nam ngày càng tốt hơn Trang thiết bị hiện đại, đội ngũ hành nghề y,dược trong và ngoài công lập có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ngày càngcao Sự phát triển này một mặt góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chămsóc sức khoẻ cho người dân, mặt khác cũng làm nảy sinh tình trạng lạmdụng các kỹ thuật như siêu âm, phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính, tácđộng tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Theo tổng cục thống kê và tổng cục dân số kế hoạc hoá gia đình :

“Kết quả Điều tra biến động dân số năm 2010 cho thấy 75,2% phụ nữ 15-49tuổi, sinh con trong 24 tháng trước điều tra có biết giới tính thai nhi trước khisinh Trong đó có 99% biết qua siêu âm; 83% biết khi tuổi thai từ 15-28 tuần”

Ỏ Việt Nam, Pháp lệnh Dân số đã có quy định nghiêm cấm lựa chọngiới tính thai nhi dưới mọi hình thức, tuy nhiên, việc thực hiện các quy địnhnày chưa nghiêm

Trang 6

Hiện nay, công tác tuyên truyền và đội ngũ cán bộ được đào tạo bàibản có trình độ chuyên môn và tuyên truyền dân số kế hoạch hoá gia đìnhcòn kém Các hoạt động tuyên truyền hướng dẫn người dân về mất cân bằnggiới tính khi sinh chưa đi sâu được vào đời sống xã hội.

Phần 2:

Các bộ - ban – ngành – tổ chức chính trị xã hội có liên quan và chịu trách nhiệm phối hợp trực tiếp thực hiện

+ Cơ quan chịu trách nhiệm ban hành chính sách :

- Ủy Ban thường vụ Quốc Hội ban hành Pháp lệnh Dân số, trong đó qui định

rõ tại khoản 2, Điều 7 "Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhidưới mọi hình thức (tư vấn, chẩn đoán giới tính của thai nhi, phá thai )"

- Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết hướng dẫn thực hiện một

số điều của Pháp lệnh của UBTVQH: Quy định về Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi Theo đó, mọi hành vi như phổ biến các biện pháptạo giới tính, chẩn đoán giới tính thai nhi bằng xét nghiệm máu, siêu âm, hoặc loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính đều bị coi là vi phạm pháp luật và bị

Trang 7

thực hiện Pháp lệnh Dân số nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi; các côngvăn về theo dõi, kiểm tra về giới tính khi sinh….

- Sở Y tế ban hành các văn bản Nghiêm cấm loại bỏ thai nhi vì lý do lựachọn giới tính bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các loại hóachất, thuốc và các biện pháp khác Các văn bản được gửi đến các bệnh việnthành phố và Trung tâm y tế các Quận, Huyện, quy định quản lý các hoạtđộng về chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi Theo đó, Sở Y tếi yêu cầu các

cơ sở khám chữa bệnh công lập và tư nhân nghiêm cấm chẩn đoán để lựachọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp như bắt mạch, xét nghiệm máu,gene, nước ối, tế bào, siêu âm

+ Cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp thực hiện :

- Cục Thống kê xác định tỷ số giới tính khi sinh hàng năm của địa phương,theo dõi và dự báo tình hình

- Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Giám đốc cácbệnh viện chuyên khoa Phụ sản, bệnh viện đa khoa, Hiệu trưởng các trườngĐại học Y và Y Dược trực thuộc Bộ Y tế và các Bộ, ngành:

1 Tiếp tục phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện những quy định vềnghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, loại bỏ thai nhi vì

lý do lựa chọn giới tính theo quy định của Pháp lệnh Dân số, Nghịđịnh của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và các quy địnhcông văn Bộ Y tế về theo dõi, kiểm tra về giới tính khi sinh

2 Đối với các cơ sở đã được Bộ Y tế cho phép thực hiện kỹ thuật thụtinh trong ống nghiệm, các cơ sở có trung tâm chẩn đoán trước sinhhoặc có thăm dò chẩn đoán trước sinh cần tăng cường kiểm tra việctriển khai thực hiện các kỹ thuật cao trong chẩn đoán trước sinh, tuyệt

Trang 8

đối không được lạm dụng chỉ định và kỹ thuật chẩn đoán di truyền đểlựa chọn giới tính.

3 Các cơ sở đã được Bộ Y tế cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trongống nghiệm nếu có triển khai kỹ thuật chẩn đoán di truyền trướcchuyển phôi (PGD) phải báo cáo, xin phép Bộ Y tế Chỉ có các cơ sởđược Bộ Y tế chỉ định mới được phép tiến hành phân tích mẫu tế bàophôi

4 Tất cả các kết quả nhiễm sắc đồ không được công bố giới tính củaphôi, thai mà chỉ được kết luận có hay không có bất thường về sốlượng và cấu trúc nhiễm sắc thể

- Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ emtheo dõi, chỉ đạo phối hợp với một số cơ quan và địa phương triển khainhiều hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên đề liên quan đến các quy địnhcủa pháp luật về nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính thai nhi như: Thanh tra,kiểm tra công tác khám, chữa bệnh và quản lý thai nghén; thanh tra, kiểm traviệc xuất bản, phát hành, kinh doanh sách và lưu truyền trang thông tin điện

tử có nội dung phổ biến phương pháp tại giới tính thai nhi

- Bộ Công An phối hợp cùng Các Sở y tế từ trung ương đến địa phươngthành lập các đoàn kiếm tra, thanh tra kịp thời phát hiện các tổ chức saiphạm, làm trái pháp luật,quy định để kịp thời xử phạt – ngăn chặn

+ Các cơ quan liên quan tác động gián tiếp tới hoạt động chính sách:

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, bộ tài chính, bộ kếhoạch – đầu tư, đài tiếng nói Việt Nam, chính quyền địa phương cùng các cơquan ban ngành khác phân công phối hợp để thực hiện chính sách cũng nhưgiúp cho chính sách hoàn thiện và hiệu quả hơn

Trang 9

Phần 3 : Mục Tiêu Chính Sách (Trần Khánh Phúc và Phạm Thanh Long)

Mục tiêu: Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt tập

trung vào các tỉnh, thành phố và nông thôn có tình trạng mất cân bằngnghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỷ số này trở lại mức

105 - 106 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái khoảng năm 2025

+ Chỉ tiêu 1: Tỷ số giới tính khi sinh dưới mức 113 trẻ sơ sinh trai/100trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và dưới mức 115/100 vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 2: Giảm số ca nạo phá thai đối với phụ nữ đang trong độtuổi sinh đẻ từ mức 300000ca vào năm 2013 xuống còn 150000 ca vào năm2020

Phần 4 : Các Phương Án Chính Sách

1 – Phương Án Chính Sách và Các Giải Pháp :

Phương án chính sách 1 Tăng cường phổ biến,

giáo dục chính sách, pháp luật về dân số, sứckhỏe sinh sản Truyền thông thay đổi hành vi

Tỷ số giới tính khi sinh dưới mức 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và dưới mức 115/100 vào

Trang 10

toàn diện để giải quyết

sự phân biệt đối xử về giới thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, xã hội dân sự, cán bộ y tế, lãnhđạo cộng đồng và các nhóm đối tượng khác

năm 2020

Giải pháp 1 Tuyên truyền, phổ biến

phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hình thức : tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhânbản các loại sách, báo, tài liệu…

Nâng cao dân chí về những vấn đề về sức khỏe sinh sản và giới tính

Giải pháp 2 Đào tạo và nâng cao

trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Đội ngũ cán bộ về công tác dân số và sức khỏe sinh sản có trình độ chuyên môn cao

Giải pháp 3 Tập trung vận động

giáo dục ở những vùngnông thôn,vùng có tỷ sốgiới tính khi sinh cao

Nâng cao trình độ hiểu biết cho người dân và xóa bỏ các hủ tục lạc hậu không còn phù hợp.Phương án chính sách 2 Xây dựng, hoàn thiện

hệ thống chính sách vềdân số, sức khỏe sinhsản Điều quan trọng là

Giảm số ca nạo phá thai đối với phụ nữ đang trong độ tuổi sinh

đẻ từ mức 300000ca

Trang 11

phải củng cố hệ thốngthu thập dữ liệu để đảmbảo độ chính xác trongviệc thu thập và báo cáo

tỷ số giới tính khi sinh

từ cấp làng xã tới cấptrung ương

vào năm 2013 xuống còn 150000 ca vào năm 2020

Giải pháp 1 Phạt hành chính đối với

những hành vi lựa chọn giới tính khi mang thai

Giảm tỷ lệ nạo phá thai

vì lí do lựa chọn giới tính

Giải pháp 2 Tăng cường công tác

kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách về dân số của các tổ chức

và cá nhân

Nâng cao việc nhận thức về thực hiện pháp luật,chính sách về dân số

Giải pháp 3

Tập trung thúc đẩy hơn nữa vai trò của phụ nữ

và trẻ em gái trong xã hội, nâng cao địa vị của

họ và nhận thức về quyền của họ

Thưởng tiền và tuyên dương những gia đình sinh con gái một bề

2 - Các hoạt động và kết quả dự kiến:

2.1 Phương án chính sách 1:

Trang 12

Giải pháp Hoạt động Chi phí Lợi ích Nhóm giải pháp số 1: Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ

về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Đào tạo thêm cán bộ về

công tác dân số

Đào tạo 5 khóa học vềcông tác dân số cho học viên – khoảng 30 học viên trên khóa đàotạo

Tổ chức các kháo học bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,công tác dân số

150 học viên được đào tạo bài bản về công tác dân số

Kiểm tra thường xuyên

chuyên môn của đội

ngũ các bộ chăm sóc

sức khỏe sinh sản

Tổ chức kiểm tra định

kỳ 2 lần/năm 2020)

(2015-Tổ chức các kì thi sát hạch chuyên môn, kiểm tra kiến thức về công tác dân số của các cán bộ làm công tác dân số

Qua 10 cuộc kiểm tra sẽ sàng lọc được những cán bộ không đủ năng lực

Nhóm giải pháp số 2: Tập trung vận động giáo dục ở những vùng có tỷ số giới tính

khi sinh cao

Tăng cường đưa cán bộ

về vùng có tỉ lệ mất

cân bằng giới tính cao

Từ năm 2015-2020 đưa thêm 10 cán bộ/vùng/năm

- Có kế hoạch phân bổ, luân chuyển cán bộ dân số về các vùng, địa bàn

Sẽ có 50 cán bộ/vùng trong vòng 5 năm tới

Ngày đăng: 11/03/2022, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w