1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH xã hội so sánh hai khái niệm chính sách xã hội và chính sách công

51 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 73,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau:Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chínhphủ, chính sách của chính quyền địa p

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Câu 1: Anh/chị hãy phân biệt hai khái niệm chính sách xã hội và chính sách

công (2 điểm).

Bài làm:

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng răi trên sách báo, trên các phươngtiện thông tin đại chúng và trong đời sống xă hội Hiểu một cách giản đơn, chínhsách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay nhà quản lư đề ra để giảiquyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của ḿnh

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá tŕnh hành động có mục đíchtheo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quantâm"

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau:Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chínhphủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sáchcủa một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra nhữngchính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hộihay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi

tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, v́ vậy, chúng mang tínhchất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm

"chính sách tư" hầu như không được sử dụng

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhànước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chínhsách công Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập

Trang 2

trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng caohiệu lực và hiệu quả quản lư của Nhà nước

Để giải quyết những vấn đề xã hội, trước hết cần có chính sách xã hội Nghịquyết Đại hội VI của Đảng đã xác định “chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộcsống của con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệgia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coinhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Chính sách xãhội lần đầu tiên được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội ở nước ta

Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được nhà nước sử dụng

để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nângcao chất lượng, hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra Thời gian qua, việchoạch định và tổ chức thực hiện chính sách công ở nước ta đã có nhiều thành tựu tolớn, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong gần 30 năm thựchiện công cuộc đổi mới Tuy nhiên, quy trình hoạch định là thực hiện chính sáchcông cũng còn bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế, một số chính sách có tính khả thithấp, hoặc khi thực thi không đem lại hiệu quả như mong muốn Bên cạnh đó, các ýtưởng đề xuất và dự thảo chính sách chủ yếu do cơ quan nhà nước (các bộ, ngành,

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố) thực hiện, dễ làm nảy sinh tình trạng cục bộ, bảnvị; đề xuất dựa trên mong muốn, mục đích của ngành, địa phương do mình quản lý

mà không tính tới tổng thể chung

Trang 3

1.2 PHÂN BIỆT CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG

để để giúp kinh tế, văn hóa, xã hội và tình hình chung của đất nước ngày càngphát triển

Cả hai chính sách xã hội và chính sách công đều có chủ thể ban hành vànhững đối tượng chịu sự tác động của cả hai chính sách này

Chủ thể của cả hai chính sách thường là Quốc hội, các Bộ, ban ngành phụtrách những lĩnh vực đó

Đối tượng của chính sách giống nhau đó là nhân dân trong đất nước

Cả hai chính sách đều có nguyên nhân ra đời, quá trình thực thi và đánh giákết quả

tùy theo cách tiếp cận của từng nhà

nghiên cứu thuộc các môn khoa học xã

hội khác nhau

Mặc dù đang tồn tại nhiều quanniệm khác nhau về chính sách công(CSC) nhưng có thể hiểu đơn giản:

đó là định hướng hành động đượcnhà nước lựa chọn, phù hợp vớiđường lối chính trị để giải quyếtnhững vấn đề chung của xã hộitrong một thời kỳ nhất định Vớiquan niệm đó, CSC có vai trò to lớntrong hoạt động quản lý xã hội củanhà nước

Trang 4

Từ góc độ quản lý, chính sách xã

hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa của

Nhà nước các đường lối, quan điểm,

chủ trương của Đảng về việc giải quyết

các vấn đề xã hội có liên quan đến con

người, nhóm người, hoặc toàn thể cộng

đồng dân cư, nhằm trực tiếp tác động

vào quan hệ con người, thành viên xã

hội, để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa

họ, bảo đảm phát triển con người, thiết

lập sự công bằng xã hội, trật tự an toàn

xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội

Chính sách công là những quy định

về ứng xử của Nhà nước với nhữnghiện tượng nảy sinh trong đời sốngcộng đồng, được thể hiện dướinhững hình thức khác nhau mộtcách ổn định nhằm đạt được mụctiêu định hướng

Chính sách xã hội là chính sách

của Nhà nước đề cập và giải quyết các

vấn đề xã hội tức là giải quyết các vấn

đề phát sinh từ các quan hệ xã hội, liên

quan đến lợi ích và sự phát triển con

người, cộng đồng dân cư, đó là những

vấn đề có ý nghĩa chính trị cốt lõi của

mỗi quốc gia

Do đó, chính sách xã hội phải dựa

trên các quan điểm, chủ trương của

Đảng, đồng thời các quan điểm, chủ

trương đó được thể chế hoá để tác động

vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết

những vấn đề xã hội, góp phần thực

hiện công bằng xã hội, tiến bộ và phát

triển con người

Việc tổ chức thực thi chính sách(Policy Implementation) là quá trìnhbiến các chính sách thành những kếtquả, trên thực tế là các hoạt động có

tổ chức trong bộ máy nhà nước,nhằm hiện thực hóa những mục tiêu

mà chính sách đã đề ra

Nhiều người hiểu chính sáchcông một cách đơn giản là nhữngchủ trương, chế độ mà Nhà nướcban hành, điều đó đúng nhưng chưa

đủ Nếu không có việc thực thichính sách để đạt được những kếtquả nhất định thì những chủ trương,chế độ chỉ là những khẩu hiệu

Trang 5

Chính sách xã hội là tổng hợp các

phương thức, các biện pháp của nhà

nước, nhằm thoả mãn những nhu cầu

vật chất và tinh thần của nhân dân, phù

hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn

hoá, xã hội, chính trị, góp phần thực

hiện mục tiêu chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước

Các quan hệ xã hội và các vấn đề

xã hội rất rộng lớn, liên quan đến mọi

mặt của cuộc sống con người và các

cộng đồng dân cư Thuật ngữ chính

sách xã hội chỉ là thuật ngữ chung, bao

trùm cho tất cả các chính sách xã hội

cụ thể Vì vậy, khi đề cập đến chính

sách xã hội là đề cập đến một chính

sách xã hội cụ thể như chính sách giáo

dục - đào tạo, chính sách việc làm,

chính sách bảo hiểm xã hội

Mặt khác, trong một chính sách xã

hội lại bao gồm các chính sách xã hội

nhằm giải quyết các khía cạnh của các

vấn đề lớn Ví dụ, trong chính sách

việc làm bao gồm các chính sách cho

vay vốn tạo việc làm, chính sách thị

trường lao động, chính sách đưa lao

động đi làm việc có thời hạn ở nước

ngoài

Trong nền hành chính nhà nước,CSC là bộ phận nền tảng trọng yếucủa thể chế hành chính, là cơ sở vàchi phối các yếu tố cấu thành kháccủa nền hành chính như: bộ máyhành chính; đội ngũ cán bộ - côngchức; tài chính công

Ở Việt Nam, với hoạt động quản

lý, điều hành của Chính phủ trongnền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì CSC

là công cụ tiền đề, không thể thaythế và chi phối các công cụ quản lýkhác như pháp luật, kế hoạch, phâncấp - phân quyền… Điều đó giảithích vì sao trong những năm gầnđây Đảng và Nhà nước ta luôn đặcbiệt quan tâm tới việc nâng cao vaitrò của CSC như là một công cụ hữuhiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước nói riêng và đẩy mạnhchất lượng của sự nghiệp đổi mớinói chung Tuy nhiên, trước yêu cầungày càng cao và phức tạp của quản

lý nhà nước thì hoạt động hoạchđịnh và thực thi CSC ở nước ta đang

ở trong bối cảnh nào và đặt ra

Trang 6

chính sách cụ thể, là sự thể chế hóa,

cụ thể hóa các giải pháp của Nhà

nước trong việc giải quyết các vấn đề

xã hội có liên quan đến từng nhóm

người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở

phù hợp với quan điểm, đường lối của

Đảng nhằm hướng tới công bằng,

tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện

đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định

khác: “Chính sách công là một chuỗi các quyết định của nhà nước được thực thi trên thực tế nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định”.

Đặc

trưng

Chính sách xã hội bao gồm những đặc trưng đó là:

Trên cơ sở nghiên cứu về chính sách công nó có những đặc trưng cơ bản nhất như sau:

Một là, chính sách xã hội là chính

sách đối với con người, nhằm vào con

người, lấy con người, các nhóm người

trong cộng đồng làm đối tượng tác

động để hoàn thiện và phát triển con

người một cách toàn diện

Thứ nhất, chủ thể ban hànhchính sách công là Nhà nước Nếuchủ thể ban hành các "chính sáchtư" có thể là các tổ chức tư nhân,các đoàn thể chính trị – xă hội, cũngnhư các cơ quan trong bộ máy nhànước để điều tiết hoạt động trong

Trang 7

phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơquan riêng biệt đó th́ chủ thể banhành chính sách công chỉ có thể làcác cơ quan trong bộ máy nhà nước.Vấn đề ở đây là các cơ quan trong

bộ máy nhà nước vừa là chủ thể banhành chính sách công, vừa là chủthể ban hành "chính sách tư" Sựkhác biệt là ở chỗ các "chính sáchtư" do các cơ quan nhà nước banhành là những chính sách chỉ nhằmgiải quyết những vấn đề thuộc vềnội bộ cơ quan đó, không có hiệulực thi hành bên ngoài phạm vi cơquan

Chính sách công do Nhànước ban hành nên có thể coi chínhsách công là chính sách của Nhànước Nhà nước ở đây được hiểu là

cơ quan có thẩm quyền trong bộmáy nhà nước, bao gồm Quốc hội,các bộ, chính quyền địa phương cáccấp

Ở nước ta, trên sách báo,chúng ta thường gặp cụm từ "chínhsách của Đảng và Nhà nước", v́ vậy

có ư kiến cho rằng, Đảng cũng làchủ thể ban hành chính sách công

Trang 8

Điều này có thể giải thích bằng thực

tế đặc thù của nước ta ở Việt Nam,Đảng Cộng sản là lực lượng chínhtrị duy nhất lănh đạo Nhà nước,lănh đạo xă hội Đảng lănh đạo Nhànước thông qua việc vạch ra cươnglĩnh, chiến lược, các định hướngchính sách – đó chính là những căn

cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hànhcác chính sách công Như vậy, vềthực chất, các chính sách công là doNhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩaViệt Nam (chủ yếu là Chính phủ đềra) Các chính sách này là sự cụ thểhóa đường lối, chiến lược và cácđịnh hướng chính sách của ĐảngCộng sản Việt Nam, nhằm phục vụlợi ích của nhân dân ta

Hai là, chính sách xã hội mang tính

xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc

Thứ hai, các quyết định này

là những quyết định hành động, cónghĩa là chúng bao gồm cả nhữnghành vi thực tiễn Chính sách côngkhông chỉ thể hiện dự định của nhàhoạch định chính sách về một vấn

đề nào đó, mà c ̣n bao gồm nhữnghành vi thực hiện các dự định nóitrên

Chính sách công trước hết thể

Trang 9

hiện dự định của các nhà hoạch địnhchính sách nhằm làm thay đổi hoặcduy tŕ một hiện trạng nào đó Song,nếu chính sách chỉ là những dựđịnh, dù được ghi thành văn bản th́

nó vẫn chưa phải là một chính sách.Chính sách công c ̣n phải bao gồmcác hành vi thực hiện những dựđịnh nói trên và đưa lại những kếtquả thực tế Nhiều người thườnghiểu chính sách công một cách đơngiản là những chủ trương của Nhànước ban hành, điều đó đúng nhưngchưa đủ Nếu không có việc thực thichính sách để đạt được những kếtquả nhất định th́ những chủ trương

đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi

Ba là, Chính sách xã hội có tính

trách nhiệm xã hội cao, quan tâm và

tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi để mọi

người phát triển

Thứ ba, chính sách công tậptrung giải quyết một vấn đề đangđặt ra trong đời sống kinh tế – xăhội theo những mục tiêu xác định.Chính sách công là một quá tŕnhhành động nhằm giải quyết một vấn

đề nhất định Khác với các loại công

cụ quản lư khác như chiến lược, kếhoạch của Nhà nước là nhữngchương tŕnh hành động tổng quát

Trang 10

bao quát một hoặc nhiều lĩnh vựckinh tế – xă hội, đặc điểm của chínhsách công là chúng được đề ra vàđược thực hiện nhằm giải quyết mộthoặc một số vấn đề liên quan lẫnnhau đang đặt ra trong đời sống xăhội Chính sách công chỉ xuất hiệntrước khi đó đă tồn tại hoặc có nguy

cơ chắc chắn xuất hiện một vấn đềcần giải quyết Vấn đề chính sáchđược hiểu là một mâu thuẫn hoặcmột nhu cầu thay đổi hiện trạngxuất hiện trong đời sống kinh tế –

xă hội đ ̣i hỏi Nhà nước sử dụngquyền lực công để giải quyết Cóthể nói, vấn đề chính sách là hạtnhân xuyên suốt toàn bộ quy tŕnhchính sách (bao gồm các giai đoạnhoạch định, thực thi và đánh giáchính sách) Việc giải quyết nhữngvấn đề nói trên nhằm vào nhữngmục tiêu mà Nhà nước mong muốnđạt được

Bốn là, chính sách xã hội bao giờ

cũng có cơ chế hoạt động, bộ máy nhân

sự, chương trình dự án và kinh phí hoạt

động riêng

Thứ tư, chính sách công gồmnhiều quyết định có liên quan lẫnnhau Trước hết, chúng ta khôngnên đồng nhất khái niệm quyết định

ở đây với các quyết định hành

Trang 11

chính, càng không thể coi đó chỉ lànhững văn bản quy phạm pháp luậtcủa Nhà nước Khái niệm quyếtđịnh ở đây có ư nghĩa rộng hơn, nó

có thể được coi như một sự lựa chọnhành động của Nhà nước Các quyếtđịnh này có thể bao gồm cả luật, cácquyết định dưới luật, thậm chí cảnhững ư tưởng của các nhà lănh đạothể hiện trong lời nói và hành độngcủa họ Song, chính sách khôngđồng nghĩa với một đạo luật riêngbiệt hay một văn bản nào đó Chínhsách là một chuỗi hay một loạt cácquyết định cùng hướng vào việc giảiquyết một vấn đề chính sách, domột hay nhiều cấp khác nhau trong

bộ máy nhà nước ban hành và thựcthi trong một thời gian dài Mộtchính sách có thể được thể chế hóathành các văn bản pháp luật để tạocăn cứ pháp lư cho việc thực thi,song nó c ̣n bao gồm những phương

án hành động không mang tính bắtbuộc, mà có tính định hướng, kíchthích phát triển

Trên thực tế, một chính sáchthực sự của Nhà nước được kết nối

Trang 12

lại từ vô số các quyết định và cáchành động riêng biệt Chẳng hạn,chính sách cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước ở nước ta bắtnguồn từ những nỗ lực cải cách cácdoanh nghiệp nhà nước, nó đượcchính thức đề cập đến trong Quyếtđịnh 217/HĐBT (14/11/1987) vàđược tiếp nối bằng một loạt cácquyết định của Nhà nước và cáccấp, các ngành về vấn đề này Nghịđịnh 44/CP của Chính phủ ngày29/6/1998 và việc thực thi Nghịđịnh đó đă mở ra một chặng đườngmới của chính sách cổ phần hóa ởnước ta Chúng ta có thể thấy,chính sách này sẽ c ̣n tiếp diễn lâudài trong tương lai Từ những phântích trên, thuật ngữ chính sách cóthể hiểu như sau: "Chính sách công

là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗicác quyết định hoạt động của nhànước nhằm giải quyết một vấn đềchung đang đặt ra trong đời sốngkinh tế – xă hội theo mục tiêu xácđịnh"

Năm là, Chính sách xã hội còn có

đặc trưng rất quan trọng là tính kế thừa

Chính sách công gồm nhiềuquyết định có liên quan lẫn nhau

Trang 13

lịch sử Các quyết định chính sách là quyết

định hành động, có nghĩa là chúngbao gồm cả những hành vi thực tiễn

bao trùm của chính sách xã hội là thiết

lập sự công bằng, trật tự an toàn xã hội,

ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội Về

thực chất, hệ thống chính sách xã hội

hướng vào nâng cao dân trí, dân sinh,

dân chủ, đảm bảo cho mọi người sống

ấm no, hạnh phúc, nhân ái, bình đẳng

và công bằng Có thể nói, chính sách

xã hội là chính sách con người, phát

triển con người và vì con người

Chính sách xã hội vĩ mô là chínhsách xã hội của nhà nước để giải quyết

các vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, như giải

quyết các vấn đề xã hội có tính chiến

lược trên qui mô quốc gia và trên cơ sở

từng đối tượng làm thế nào để có thể

thực hiện được chương trình phổ cập

Chính sách công tập trung giảiquyết một vấn đề đang đặt ra trongđời sống kinh tế - xã hội theo cácmục tiêu xác định

Các chính sách là các chươngtŕnh hành động riêng biệt; việc ápdụng các chính sách không có nghĩa

là tất cả những ai đồng t́nh vớichính sách sẽ có cùng một mục đíchnhư nhau Trên thực tế, một sốchính sách ra đời không phải v́ sựnhất trí về mục tiêu, mà bởi v́ nhiềunhóm người khác nhau đồng t́nh vớichính sách đó với nhiều nguyên dokhác nhau (tuy nhiên, theo chúngtôi, dù các nhóm khác nhau cónhững mục tiêu khác nhau, songbản thân mỗi chính sách vẫn phản

Trang 14

Chính sách xã hội vĩ mô phát huytác dụng trong thời gian dài và là

những chỉ báo cơ bản định hướng xã

hội chủ nghĩa ở nước ta Ngoài những

chính sách xã hội cơ bản (vĩ mô), bao

giờ nhà nước cũng phải có những chính

sách xã hội cấp bách giải quyết những

vấn đề xã hội gay cấn thường xảy ra

trong những thời điểm nhất định

Mục tiêu cốt lõi của chính sách xãhội là công bằng xã hội, nhằm hướng

tới ổn định xã hội, không ngừng nâng

cao chất lượng mọi mặt của đời sống

nhân dân và sự phát triển bền vững của

đất nước

ánh những mục tiêu nhất định củaChính phủ)

Chính sách công được nhà nước

đề ra nhằm phục vụ lợi ích chungcủa cộng đồng hoặc của quốc gia.Chính sách công bao gồm nhữngviệc nhà nước lựa chọn làm vàkhông làm

Chức

năng

Thể chế hoá và cụ thể hoá bằngpháp luật những đường lối, chủ trương

của Đảng và nhà nước, các tổ chức

chính trị xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu

vật chất và tinh thần của nhân dân phù

hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước, góp phần thực hiện

mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ và văn minh

Chính sách xã hội được tổ chức vàhoạt động thông qua hệ thống các biện

pháp, phương pháp và nguyên tắc

Chức năng của chính sách công baogồm các chức năng sau :

Chức năng định hướng : Chính sáchcông định hướng hành vi của xã hội

và sự phát triển của sự vật hay sựviệc theo mong muốn của chủ thểhoạch định chính sách

Chức năng điều khiển, kiểm soat :

Nó tạo ra các tác dụng hạn chế hoặcthúc đẩy đối với hành vi của xã hộihay sự phát triển của sự vật, sự việc.Chức năng điều tiết : Nhằm điều tiết

Trang 15

chung của chủ nghĩa xã hội đồng thời

cũng tính đến sự khác biệt xã hội giữa

các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội

trong điều kiện phát triển nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần theo định

hướng xã hội chủ nghĩa

Phát huy nhân tố con người trên

cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về

quyền lợi và nghĩa vụ công dân: Kết

hợp tốt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ

xã hội, giữa đời sống vật chất và đời

sống tinh thần; đáp ứng nhu cầu trước

mắt và chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá

nhân, tập thể và cộng đồng

Điều chỉnh các quan hệ xã hội

Đây là chức năng quan trọng nhất của

chính sách xã hội Sự phát triển của các

quan hệ xã hội với tư cách là quan hệ

duy trì các giá trị truyền thống, thực

hiện nguyên tắc công bằng, bình đẳng,

bác ái và tự do của con người Chính

các mối quan hệ phức tạp để đảmbảo hài hòa lợi ích

Chức năng biểu tượng : Chính sách

có ý nghĩa tượng trưng, không tạo

ra kết quả vật chất

Trang 16

sách xã hội cũng đảm bảo sự thống

nhất hài hoà giữa cá nhân và xã hội về

các giá trị công bằng, bình đẳng, quyền

lợi và nghĩa vụ công dân

Trên cơ sở chính sách bình đẳng,đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc,

giữa khu vực miền núi, trung du, đồng

bằng, tạo điều kiện để các dân tộc,

vùng miền phát triển cùng với sự phát

triển chung của đất nước

Nhiệm

vụ

Để đạt tới sự công bằng, an toàn,tạo điều kiện phát triển con người một

cách toàn diện, chính sách xã hội thực

hiện 5 nhiệm vụ cơ bản như sau:

Một là, tái tạo tiềm năng nhân lực

của đất nước thông qua các chính sách

về dân số, gia đình, bảo vệ sức khoẻ,

bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi giải

trường sinh thái, sự phát triển văn hóa,

giáo dục khoa học, nghệ thuật, bảo đảm

phát triển bền vững của xã hội

Ba là, nâng cao dân trí, đào tạo

Chính sách công có nhiệm vụ sau :

Thứ nhất : Góp phần giúp Nhà nướcgiải quyết một cách tốt nhất nhữngvấn đề vướng mắc thực tiễn đangđặt ra

Thứ hai : Chính sách công thực thinhững chính sách trong thực tiễn đểkiểm nghiệm tính đúng đắn của cácnghị quyết, chỉ thị

Thứ ba : Chính sách công có nhiệm

Trang 17

nhân tài cho đất nước, tạo thêm nhiều

việc làm cho các tầng lớp nhân dân,

đặc biệt là thanh niên, đào tạo lại và

đào tạo mới người lao động để tiếp thu

kỹ thuật, công nghệ hiện đại và không

ngừng nâng cao năng suất lao động

Bốn là, tạo điều kiện cho xã hội

ngày càng có nhiều khả năng và biết

tiêu thụ những sản phẩm vật chất, tinh

thần một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù

hợp với trình độ phát triển sức sản xuất

của đất nước và những chuẩn mực đạo

đức pháp lý của chế độ xã hội mới

Năm là, tạo lập, hình thành mô

hình lối sống mới theo hướng phát triển

toàn diện của cá nhân kết hợp hài hoà

với sự phát triển của công đồng trên cơ

sở kế thừa những giá trị truyền thống

đẹp của dân tộc, đồng thời xây dựng

những giá trị mới phù hợp với bản sắc

dân tộc và yêu cầu của thời đại

vụ giúp cho Nhà nước nhận thứcđược những vấn đề mà mình đangcòn cần phải chú trọng

Thứ tư : Chính sách công góp phầnlàm cho xã hội ngày một tốt hơn,kinh tế phát triển nhanh hơn

Vai

trò

Chính sách xã hội bao trùm cácmặt của đời sống con người, các nhóm

người và toàn bộ cộng đồng dân cư, vì

vậy luôn luôn có vị trí hàng đầu và vai

trò quan trọng trong hệ thống chính

sách kinh tế - xã hội của Nhà nước

Điều đó đã được khẳng định trong các

Để thực hiện mục tiêu phát triển,Nhà nước dùng chính sách làm công

cụ chủ yếu để giải quyết những vấn

đề công nhằm thúc đẩy các quátrình kinh tế – xã hội theo địnhhướng Vai trò, tác dụng chính sáchcông được thể hiện như sau: Định

Trang 18

Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII,

IX, X, XI và các Nghị quyết Hội nghị

Ban chấp hành Trung ương bàn về việc

giải quyết các vấn đề xã hội

- Chính sách xã hội là một nhân tố

ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của

xã hội, thông qua việc tạo điều kiện

phát triển và khai thác triệt để tiềm lực

con người

Điều đó xuất phát trước hết từ vai

trò của con người, của nguồn lực con

người với sức sáng tạo vô tận đối với

sự phát triển xã hội Chính sách xã hội

giải quyết những vấn đề xã hội, do đó

tạo điều kiện phát triển và khai thác

triệt để tiềm lực con người cho sự phát

triển Vai trò này ngày càng to lớn khi

đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhân

loại đang bước sang thiên niên kỷ của

trí tuệ, thời kỳ đòi hỏi hơn bao giờ hết

phải phát triển mạnh mẽ trí tuệ và khai

thác tối đa trí tuệ con người cho sự phát

triển

- Chính sách xã hội là công cụ góp

phần điều chỉnh sự khác biệt về cơ cấu

xã hội để hướng tới sự công bằng, bình

đẳng về vị thế, vai trò và lợi ích kinh tế

hướng cho các hoạt động kinh tế –

xã hội; cùng với mục tiêu, các biệnpháp chính sách cũng có vai tròđịnh hướng cho cách thức hànhđộng của các chủ thể trong nền kinh

tế – xã hội Chính sách công khuyếnkhích, hỗ trợ các hoạt động kinh tế– xã hội theo định hướng Ví dụ:khuyến khích đầu tư, giảm thuế, vayvốn với lãi suất thấp… Trong kinh

tế thị trường, chính sách công được

sử dụng để phát huy những mặt tíchcực của thị trường, đồng thời khắcphục những hạn chế do chính thịtrường gây ra Ngoài ra Nhà nước

có thể dùng chính sách công để tạolập các cân đối trong phát triển;kiểm soát các nguồn lực trong xãhội; tạo lập môi trường thuận lợicho các hoạt động kinh tế – xã hội;tăng cường sự phối hợp hoạt độnggiữa các cấp chính quyền vì mụctiêu phát triển

Trang 19

- chính trị - xã hội.

Hiện nay bất kỳ một quốc gia nàocũng có cơ cấu xã hội phức tạp vớinhiều nhóm xã hội mà vị thế, vai trò,lợi ích giữa các nhóm xã hội đôi khimâu thuẫn nhau Sự tác động nhiều mặtcủa kinh tế cũng làm nảy sinh các vấn

đề xã hội, cơ cấu xã hội không còn phùhợp và đặt ra nhiều vấn đề mà đòi hỏimọi người phải quan tâm giải quyết

Để đảm bảo xã hội phát triển trong sự

ổn định nhất thiết phải có chính sách xãhội hợp lý và giải quyết thỏa đáng cácmối quan hệ xã hội trên nhiều khíacạnh và lĩnh vực khác nhau như: quan

hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội,quan hệ giữa các dân tộc trong cơ cấu

xã hội – dân tộc đến hiện tượng diễntiến xã hội: sự xuất hiện, phát triển hay

sự suy thoái của mỗi nhóm, tầng lớpngười trong xã hội, sự mất cân đối vềphân bổ dân cư, sự biến chuyển về vaitrò, vị trí của con người, nhóm cũngnhư các quan hệ giữa các giai tầng, sựvận động và biến đổi của các loại hìnhnghề nghiệp, với vấn đề lao động vàviệc làm của nguồn lao động Chính vìvậy, chính sách xã hội có ảnh hưởng

Trang 20

trực tiếp như một công cụ để khắc phụcnhững phân hóa, mâu thuẫn và khácbiệt xã hội, để điều tiết các quan hệ xãhội nhằm phát huy khả năng của toàn

xã hội vào những mục tiêu chung

- Chính sách xã hội là công cụ gópphần điều chỉnh sự khác biệt trong sảnxuất và tái sản xuất xã hội

Một chính sách xã hội hợp lý cóảnh hưởng tích cực đến sự phát triển xãhội phải luôn luôn phù hợp với điềukiện kinh tế của quốc gia vào thời điểm

đó, đảm bảo sự thống nhất giữa các cơ

sở xã hội với chính sách kinh tế tạođiều kiện để thực hiện tốt việc kết hợpgiữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xãhội

- Chính sách xã hội là công cụ gópphần điều chỉnh phân phối và phânphối lại thu nhập xã hội

Phân phối và phân phối lại thunhập là quá trình liên quan đến sảnxuất và trao đổi, tiêu dùng, nó chi phốimạnh mẽ quan hệ lợi ích giữa ngườivới người, giữa các nhóm và cộng đồngvới nhau

- Chính sách xã hội là cầu nối giữatăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội

Trang 21

Tăng trưởng kinh tế là một cơ sở

để tạo ra sự tiến bộ xã hội Tuy nhiên,

sự tăng trưởng, phát triển kinh tế không

tự động trực tiếp dẫn đến sự tiến bộ xãhội Sự tăng trưởng kinh tế phải quacác chính sách xã hội mới tạo ra sự tiến

bộ xã hội Việc công bố chỉ số pháttriển con người, biểu hiện của sự tiến

bộ xã hội của các nước thông qua tổchức phát triển Liên hợp quốc đãchứng minh điều đó Nhờ có các chínhsách xã hội tốt nên các chỉ số phát triểncon người về y tế chăm sóc sức khoẻ

và chỉ số về trình độ giáo dục quốc dâncủa nước ta đạt cao, khiến chỉ số HDIcủa nước ta đạt vị trí trung bình trênthế giới

- Chính sách xã hội còn là công cụhữu hiệu để Đảng và Nhà nước ta thựchiện cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa cho sự phát triển đất nước.Nếu xét trên phương diện kinh tế,

từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tếthị trường có điều tiết thì các phươngpháp và hình thức tổ chức kinh tế củanước ta có nhiều nét tương đồng như ở

Trang 22

các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới.Tuy nhiên sự khác nhau cơ bản ở đây

là tính chất xã hội, đặc trưng xã hội xãhội chủ nghĩa của sự phát triển nước ta

mà mục tiêu là dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng dân chủ và văn minh.Chính sách xã hội của nước ta là công

cụ chủ yếu để thực hiện ngày một tốthơn sự công bằng xã hội và tiến bộ xãhội Vai trò này được thể hiện trên cácmặt:

- Khắc phục và hạn chế các khuyếttật của kinh tế thị trường về phân tầng

xã hội và phân hoá giàu nghèo, tạo điềukiện cho những người thiệt thòi có điềukiện vươn lên hoà nhập với cộng đồng;

- Thực hiện sự công bằng trongphân phối và thu nhập theo nguyên tắcphân phối theo lao động;

- Tạo ra những cơ hội như nhaucho tất cả các tầng lớp dân cư và cánhân phát huy tài năng, tham gia laođộng

Trang 23

Câu 2: Trên cơ sở các kinh nghiệm và bài tập làm theo nhóm trên lớp, anh/chị hãy phân tích và đánh giá chính sách xã hội về vấn đề môi trường, phòng

chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay (8 điểm)

Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hộicủa nước Việt Nam hiện nay như là vấn đề đói nghèo, vấn đề an sinh xã hội, vấn đềgiáo dục, vấn đề văn hóa, phát triển

Vai trò của các chính sách xã hội thể hiện ở mục đích mà những chính sách nàyhướng đến Những chính sách này được đưa ra đã góp phần giải quyết ngay nhữngvấn đề mà Nhà nước ta còn đang thực hiện và giải quyết chưa đúng cũng như chưa

có những định hướng nguồn lực và chương trình hành động trước đó

Chính sách xã hội có vai trò lớn vì một khi nó được ban hành nó có ảnh hưởnglớn đến các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều vùng và tác động một cáchtích cực đến nhiều khu vực nhân dân trên cả nước

Trang 24

Chính sách xã hội quan trọng vì nó luôn luôn là những chính sách được sinh

ra để giải quyết những vấn đề còn vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn, nó luôn lànhững chính sách khá hiệu quả, đặc biệt đối với nhân dân vùng sâu vùng xa

Tầm quan trọng của chính sách xã hội được thể hiện ở việc chính sách xã hộigóp phần đảm bảo đời sống cho nhân dân cả nước đặc biệt là những vùng mà nhândân còn khó khăn

Nó quan trọng vì chính sách xã hội góp phần đảm bảo cho an ninh chính trị xãhội của nước ta được đảm bảo do người dân sẽ luôn tin tưởng vào chủ trương vàchính sách của nhà nước

Nó quan trọng hơn nữa vì nhờ có nó mà các vấn đề được giải quyết nhanhchóng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay

Đối với chính sách biến đổi khí hậu, đây cũng là một chính sách quan trọng và

có vị trí đứng đầu trong các chính sách mà nước ta cần quan tâm vì vấn đề biến đổikhí hậu càng ngày càng có ảnh hưởng to lớn hơn đến mọi mặt đời sống xã hội.Chính sách về biến đổi khí hậu có vai trò đặc biệt vì:

Nó giúp Việt Nam nhận thức rõ hơn về ảnh hưởng của môi trường, của biến đổikhí hậu đối với Việt Nam

Nó giúp cho chúng Việt Nam nhận thấy chính Việt Nam là quốc gia bị tác độngnhiều nhất về vấn đề biến đổi khí hậu

Nó quan trọng vì nó sẽ góp phần giúp Việt Nam có những bước đi nhằm giảiquyết các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu trong nước một cách hiệu quả.Đặc biệt nó sẽ đánh giá và có các biện pháp nhằm hạn chế những tác động củabiến đổi khí hậu đối với Việt Nam

Chính sách này có tầm quan trọng vì:

Trang 25

Chính sách này cho thấy Việt Nam quan tâm đến biến đổi khí hậu cũng nhưViệt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế về hạn chếbiến đổi khí hậu.

Nó quan trọng vì nó giải quyết ngay lúc này vấn đề biến đổi khí hậu với nhữngtác động rất xấu tới đất nước

Mặt khác nó sẽ là những gì mà Việt Nam có thể làm để tự bảo vệ mình trướcnhững thay đổi không ngừng của khí hậu

2 Thực trạng vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu ở Việt Nam

2.1 Thực trạng về môi trường tại Việt Nam hiện nay

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay làtình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt củacon người gây ra

Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hộibền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn

đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ làđòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là tráchnhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội

Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên pháttriển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tếvới bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo

vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành,nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngàycàng nghiêm trọng Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sảnxuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tạicác đô thị lớn Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm

Ngày đăng: 11/03/2022, 14:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w