So với quan niệm trên, quan niệm này mở hơn, rộng hơn ở việc xem cả xâydựng, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công.Nhưng lại hẹp hơn ở chỗ không coi nhữ
Trang 1TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Câu 1: Anh/chị hãy phân biệt hai khái niệm chính sách xã hội và chính sách
công (2 điểm).
Bài làm 1.1 Sự giống nhau giữa chính sách xã hội và Chính sách công
Chính sách công và chính sách xã hội đều là những chính sách do chủ thểban hành là nhà nước và có đối tượng tác động là những tầng lớp nhân dân trongphạm vi ảnh hưởng của mình
Chính sách xã hội và chính sách công đều có các nguyên nhân tác động dẫnđến hình thành chính sách
Những chính sách này cũng có quá trình ra quyết định, thực thi những chínhsách đó trong hiệu quả và có các đánh giá về hiệu quả chính sách
Những chính sách này khi thực thi đều có những thuận lợi, khó khăn cũngnhư có những thành công và hạn chế nhất định
Hai chính sách này đều có mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ và vai trò đối vớivấn đề mà chính sách đề cập tới
Hai chính sách đều có tác động nhất định đến đời sống kinh tế, văn hóa,chính trị xã hội của đất nước
1.2 Sự khác nhau giữa Chính sách xã hội và Chính sách công
1.2.1 Chính sách công
1.2.1.1 Khái niệm Chính sách công
Trang 2Chính sách công (public policy) được tiếp cận nghiên cứu từ những giác độkhoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giốngnhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, cụ thể như:
Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và khônglàm Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làmphải có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sáchcông Như vậy không phải tất cả những việc mà chính quyền làm hoặc không làmđều là chính sách công Ví dụ: chủ trương cho người lao động nghỉ làm vào cácngày lễ, tết là chính sách công vì đó là việc chính quyền làm và có tác động, ảnhhưởng lâu dài, sâu sắc đến người dân; còn tổ chức thực hiện việc nghỉ lễ, tết thếnào cho hợp lý (làm bù hay nghỉ bù) không phải chính sách công mà là thực hiệnchính sách công (tuy nhiên chính quyền vẫn phải có quyết định về việc này)
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay giántiếp tác động đến cuộc sống của mọi người Từ hướng tiếp cận này, trở lại với ví dụnêu trên ta thấy: cả việc chủ trương nghỉ lễ, tết và thực hiện việc nghỉ lễ, tết đều làchính sách công vì cả hai việc đều tác động, ảnh hưởng đến cuộc sống của mọingười So với quan niệm trên, quan niệm này mở hơn, rộng hơn ở việc xem cả xâydựng, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công.Nhưng lại hẹp hơn ở chỗ không coi những việc chính quyền không làm là chínhsách công (thực tế phát triển ở các nước cho thấy chính quyền không thể và khôngnhất thiết phải làm tất cả mọi việc đối với xã hội);
Khác với hai quan niệm trên, TS Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trênTạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa vềchính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, củachính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sáchkinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước So với các quan niệm trên thì điểm
Trang 3khác căn bản trong cách tiếp cận nhận thức về chính sách công là tính công củachính sách, tính công thể hiện trong quan niệm của TS Đặng Ngọc Lợi là nhànước, chính phủ khác với quan niệm của các học giả Âu Mỹ xem tính công củachính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, tác động củachính sách);
Vì chính sách công bao gồm cả hoạt động thực thi chính sách do vậy phảigắn với chủ thể ban hành và thực hiện chính sách công Ngay cả trên lý thuyết, việcnghiên cứu những vấn đề chung về chính sách công cũng phải bắt đầu từ chínhsách công của các quốc gia cụ thể Từ đó cho thấy chính sách công luôn gắn vớimột (hoặc một số) quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xãhội nhất định Tuy vậy cũng cần thấy rằng phạm vi ảnh hưởng của chính sách côngkhông chỉ bó hẹp trong một hoặc một số quốc gia, nhưng không vì vậy mà có quanniệm chính sách công chung chung không gắn với quốc gia nào cả
Như vậy, có thể phát biểu khái niệm chính sách công như sau:
Chính sách công là một tập hợp các quyết định hành động của Nhà nướcnhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra tròng đòi sống kinh tế - xã hội theo mụctiêu xác định
Chính sách công do Nhà nước đề ra và tổ chức thực thi nên chính sách côngluôn phản ánh bản chất của Nhà nước đó
Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư bản là những Nhà nước của giai cấpbóc lột, của thiểu số thống trị đối với đa số nhân dân lao động, do đó, chính sáchcông của những Nhà nước này phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị Nhữngquyền lợi này đôi khi trùng hợp với quyền lợi của quốc gia và nhân dân ỉao động,nhưng nhiều khi, chúng mâu thuẫn và đối lập lại quyền lợi của người lao động, khi
đó chính sách công không được sự ủng hộ của nhân dân
Trang 4Ớ nước ta, các chính sách công do Nhà nưóc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam để ra Nhà nước ta là Nhà nước của giai cấp công nhân dựa trên nền tảng liênminh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàndân xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh Đảng ta là người đề xướng đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước ta là Nhà nước do Đảnglãnh đạo, là Nhà nước của dãn, do dân và vì dân Vì vậy, các chính sách công củaNhà nước là những bô phân hơp thành, là sư cu thể hoá đường lối phát triển kinh tế
- xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân Tronggiai đoạn hiện nay, các chính sách công của Nhà nước hướng vào việc tạo rơnỉiĩờìg động lực và phát huy sức mạnh nội tại trong dân, kết hợp với việc tận dụngnguồn vốn, môi trường và điều kiện quốc tế để thực hiện thành công sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.2.1.2 Phân loại chính sách công
Dựa trên các tiêu chí khác nhau theo đó chính sách công được phân loạithành các nhóm như:
Trang 5- Theo hiệu quả thực hiện chính sách: chính sách thực chất, chính sách thủtục;
- Theo hình thức thể hiện chính sách: chính sách phân bổ, chính sách táiphân bổ, chính sách điều tiết;
- Theo cách thức thực hiện chính sách: chính sách mang tính cưỡng chế,chính sách mang tính thuyết phục;
- Theo không gian của chính sách: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại.Việc phân loại chính sách có ý nghĩa tương đối, vì một chính sách có thể vừa
ở loại này vừa ở loại khác Ví dụ: chính sách đối nội có thể áp dụng cho cả khu vựccông và khu vực tư của một quốc gia; như vậy chúng thuộc hai nhóm phân loại
Khoa học tổ chức nhà nước nghiên cứu các nội dung liên quan đến tổ chức
và hoạt động của nhà nước, theo đó ngoài cách phân loại chính sách công theo 9nhóm đã nêu trên, có thể phân loại chính sách công với các tiêu chí như:
- Các chính sách về tổ chức bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước
Ví dụ: tổ chức bộ đơn ngành hay bộ đa ngành; không tổ chức Hội đồng nhân dânhuyện, quận, phường;
- Các chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn nhân lực công (chủyếu là cán bộ, công chức, viên chức) Ví dụ: Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 BanChấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ
từ nay đến năm 2020
- Các chính sách liên quan đến tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ,công chức, viên chức Ví dụ: Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghịlần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về “một số vấn đề về cải
Trang 6cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và địnhhướng cải cách đến năm 2020”.
1.2.1.3 Quy trình soạn thảo chính hiện nay ở Việt Nam
Các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức có tính chuyên môn cao liên quan vềchính sách công ở nhiều quốc gia, quốc tế đã có nhiều hoạt động, nhiều đóng góp
về mặt lý thuyết Về thực tiễn, thông qua các dự án khác nhau, các tổ chức nghiêncứu trên đã hỗ trợ các nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam, để nângcao năng lực hoạch định, quản lý, thực thi, đánh giá chính sách công của nướcmình, song tốn kém và hiệu quả hỗ trợ còn hạn chế Lý do là do sự tiếp cận cả về lýthuyết lẫn kỹ thuật, công nghệ hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công cònnhiều hạn chế
Hiện nay, nhiều vấn đề chính sách ở Việt Nam đang được các đại biểu Quốchội mổ xẻ Trong diễn đàn Quốc hội, đã có những ý kiến bàn về vai trò của cácnhóm tư vấn, nghiên cứu độc lập, có đề xuất về việc các đại biểu quốc hội nênđược trao quyền trình các dự án luật Tuy nhiên, theo GS Kenichi Ohno, ViệtNam đang có một quy trình hoạch định chính sách có một không hai Hầu hết chínhsách được xây dựng với sự can dự hạn chế của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉđược phép có ý kiến sau hoặc khi có vấn đề phát sinh Chính sách được xây dựngtrên cơ sở các phân tích và mục tiêu không thực tế, không được giới doanh nghiệpủng hộ Hơn nữa, các chính sách không có sự phối hợp giữa các Bộ, chỉ là bản liệt
kê các chính sách mà thiếu kế hoạch hành động cụ thể Mỗi Bộ ngành có nhiều kếhoạch nhưng lại không xác định được lĩnh vực ưu tiên Vì vậy, Việt Nam nên bắtđầu một quy trình hoạch định chính sách mới, với sự tham gia cả tất cả các bên liênquan, bao gồm: Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng, người nước ngoài, cácnhà tài trợ, các nhà khoa học, chuyên gia Đôi khi, các doanh nghiệp hoặc các nhà
Trang 7khoa học có thể vạch ra một chiến lược trình Chính phủ Chính sách không đơnthuần chỉ là một văn bản hành chính của Nhà nước
Qua nghiên cứu và vận dụng chính sách công ở Việt Nam, có thể thấy:
Nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam cần đặt trong bối cảnh đangtrong quá trình chuyển đổi, vừa xóa cũ, vừa tiếp thu cái mới, tính đan xen giữa cơhội và thách thức như một tất yếu, có thành, có bại, do đó phải có niềm tin, có địnhhướng cơ bản về vấn đề nghiên cứu Đồng thời, cần phải có cách tiếp cận hệ thống,
cơ bản, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, thu hút chuyên gia về chính sách công, hợp tácquốc tế với các trung tâm, các viện nghiên cứu ở các nước về lĩnh vực chính sáchcông, nhất là với các nước phát triển./ …
1.2.1.4 Vai trò của Chính sách công
Vai trò, tác dụng chính sách công được thể hiện như sau: Định hướng chocác hoạt động kinh tế - xã hội; cùng với mục tiêu, các biện pháp chính sách cũng cóvai trò định hướng cho cách thức hành động của các chủ thể trong nền kinh tế - xãhội Chính sách công khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội theo địnhhướng Ví dụ: khuyến khích đầu tư, giảm thuế, vay vốn với lãi suất thấp Trongkinh tế thị trường, chính sách công được sử dụng để phát huy những mặt tích cựccủa thị trường, đồng thời khắc phục những hạn chế do chính thị trường gây ra
Chính sách công đang ngày càng trở thành một công cụ quản lý nhà nướcquan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới Thồng qua một hộ thống các chínhsách công, các Nhà nước đã điều tiết những vấn đề nảy sinh trong đời sống kinh tế
- xã hội của đất nước theo những mục tiêu mong muốn, tạo ra môi trường cho sựphát triển bền vững
Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lý Mọi tổ chức, mọi cấpquản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chiến lược, kế hoạch, chính sách
Trang 8và quyết định quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đónhằm đạt tới mục tiêu mong muốn.
Ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu về các chính sách có tác động đến đờisống kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều người hoặc của toàn quốc gia, đó là cácchính sách công
Chính sách công là những chính sách do Nhà nước đề ra, có phạm vi tácđộng rộng lớn đến đdi sống chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi quốc gia, một địaphương, một ngành, một nhóm người hay một cộng đồng xã hội
Nhà nước ỉà chủ thể chủ yếu ban hành các chính sách công, thông qua đó,Nhà nước thực hiện vai trò quản lý đối với đất nước Các chính sách công là sự tácđộng của Nhà nước lên các lĩnh vực hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của đấtnước Có thể nói, các chính sách công ỉà những bộ phận hợp thành của toàn bộchiến lược phát triển đất nước Vì vậy, khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia,chúng ta phải xem xét tổng thể các chính sách công của quốc gia đó để thấy đượcđịnh hướng phát triển chung của quốc gia
Chính sách công được Nhà nước đề ra như một chương trình hành độngtrong một thời gian lâu dài để giải quyết một vấn để nhất định Do đó, chính sáchthường bao gồm một loạt các quyết định quản lý có quan hệ với nhau cùng tácđộng lên vấn đề đó theo mục tiêu mà Nhà nước đặt ra
1.2.1.5 Các đặc trưng của chính sách công
Các chính sách công có các đặc trưng sau đây:
Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đềnhất định Đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiệnnhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xậ hội Chính
Trang 9một vấn đề cần giải quyết Chẳng hạn, chính sách dan số và kế hoạch hoá gia đìnhđược ban hành khi vấn đề dân số đang trở thành một nguy cơ đối vói sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước.
Việc giải quyết những vấn đề bức xúc nói trên nhằm vào những mục tiều màNhà nước mong muốn đạt được Các mục tiêu có thể là định tính hoặc định lượng,
là mục tiêu lâu dài, có tính chiến lược hay những mục tiêu tmng hạn hoặc ngắn hạnnhằm giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước trong thời gian một vàinăm
Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách
về một vấn đề nào đó, mà còn bao gổm những hành vi thực hiện các dự định nóitrên
Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chínhsách nhằm làm thay đổi và phát triển một lĩnh vực nhất định Song, nếu chính sáchchỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản và được cấp có thẩm quyền thồngqua thì nó vẫn chưa phải là một chính sách
Xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao-gồm những việc Nhà nước địnhlàm và không định làm Điều đó có nghĩa là, không phải mọi mục tiêu của chínhsách công đều dẫn tới hành động, mà nó*có thể là yêu cầu chủ thể không đượchành động Chẳng hạn, chính sách thả nổi giá cả hoặc lãi suất xác định việc Nhànước không can thiệp vào sự lên xuống của giá cả và lãi suất, để cho chúng biếnđộng theo cơ chế thị trường, theo quan hệ cung - cầu trên thị trường
Chính sách công là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia.Việc đề ra và thực thi chính sách công, cũng như việc phân tích và đánh giá chínhsách công là công việc chung của nhiểu người, nhiều tổ chức Bởi vì, chính sáchcông không phải là một quyết định đơn lẻ chỉ có tác động đến một số ít đối tượng,
mà nó là một quá trình giải quyết một vấn đề rộng lớn của xã hội, chẳng hạn vấn đề
Trang 10xoá đói giảm nghèo, vấn đề phòng chống các tệ nạn xã hội Để giải quyết nhữngvấn đề như vậy, cần phải huy động sự tham gia của nhiều người, nhiều tổ chứctrong việc nghiên cứu đề ra chính sách, thực thi chính sách, phãn tích và đánh giáchính sách công.
Điều đáng lưu ý là chính sách công không phải chỉ do các tổ chức công củaNhà nước thực hiện, mà nó là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi tổ chức và mọithành viên có liên quan đến lĩnh vực mà chính sách công đó điều tiết Chính sáchcông được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người hoặc củaquốc gia Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng là một chính sách công đem lại lợiích cho nhóm dân cư này nhiều hơn so với nhóm dãn cư khác, thậm chí có nhómcòn bị thiệt thòi
Ở nước ta, các chính sách công của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của đại
đa số nhân dân lao động, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Chỉ trong một sốtrường hợp, chính sách công động chạm đến lợi ích cục bộ của một số cá nhân,nhưng lợi ích của những cá nhân này ỉại làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của quốcgia hoặc của mọi người khác; khi đó chính sách cồng phải đứng trên lợi ích của đa
số để giải 'quyết vấn đề
Chính sách cồng có phạm vi tác động rộng Chính sách công được ban hànhnhằm điều tiết hoạt động của một hoặc nhiều ngành, một hoặc nhiều lĩnh vực, mộthoặc nhiều địa phương, một cộng đổng dân cư hay một quốc gia Chính sách công
có thể tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để thực hiện vai trò quản lýcủa Nhà nước đối với lĩnh vực đó Có nhũng lĩnh vực chịu tác động của một vàihoặc nhiều chính sách công của Nhà nước
1.2.2 Chính sách xã hội
1.2.2.1 Khái niệm chính sách xã hội
Trang 11Để giải quyết những vấn đề xã hội, trước hết cần có chính sách xã hội Nghịquyết Đại hội VI của Đảng đã xác định “chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộcsống của con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệgia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coinhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Chính sách xãhội lần đầu tiên được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Để hiểu rõ chính sách xã hội là gì, đối tượng và phạm vi của nó như thế nào,trước hết, chúng ta cần phải làm rõ hơn khái niệm chính sách xã hội
Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chính sách xã hội, tùytheo cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu thuộc các môn khoa học xã hội khácnhau
Từ góc độ quản lý, chính sách xã hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa của Nhànước các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc giải quyết các vấn đề
xã hội có liên quan đến con người, nhóm người, hoặc toàn thể cộng đồng dân cư,nhằm trực tiếp tác động vào quan hệ con người, thành viên xã hội, để điều chỉnhquan hệ lợi ích giữa họ, bảo đảm phát triển con người, thiết lập sự công bằng xãhội, trật tự an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội
Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước đề cập và giải quyết các vấn đề
xã hội tức là giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ xã hội, liên quan đến lợiích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là những vấn đề có ý nghĩachính trị cốt lõi của mỗi quốc gia
Chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức, các biện pháp của nhà nước,nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp vớitrình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, góp phần thực hiện mục tiêuchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 12Các quan hệ xã hội và các vấn đề xã hội rất rộng lớn, liên quan đến mọi mặtcủa cuộc sống con người và các cộng đồng dân cư Thuật ngữ chính sách xã hội chỉ
là thuật ngữ chung, bao trùm cho tất cả các chính sách xã hội cụ thể Vì vậy, khi đềcập đến chính sách xã hội là đề cập đến một chính sách xã hội cụ thể như chínhsách giáo dục - đào tạo, chính sách việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội Mặt khác,trong một chính sách xã hội lại bao gồm các chính sách xã hội nhằm giải quyết cáckhía cạnh của các vấn đề lớn Ví dụ, trong chính sách việc làm bao gồm các chínhsách cho vay vốn tạo việc làm, chính sách thị trường lao động, chính sách đưa laođộng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Mỗi chính sách xã hội cụ thể có mục tiêu riêng Tuy nhiên, mục tiêu bao trùmcủa chính sách xã hội là thiết lập sự công bằng, trật tự an toàn xã hội, ổn định, pháttriển và tiến bộ xã hội Về thực chất, hệ thống chính sách xã hội hướng vào nângcao dân trí, dân sinh, dân chủ, đảm bảo cho mọi người sống ấm no, hạnh phúc,nhân ái, bình đẳng và công bằng Có thể nói, chính sách xã hội là chính sách conngười, phát triển con người và vì con người
Chính sách xã hội vĩ mô là chính sách xã hội của nhà nước để giải quyết cácvấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, như giải quyết các vấn đề xã hội có tính chiến lược trênqui mô quốc gia và trên cơ sở chính sách vĩ mô mà định ra các chính sách cụ thể đểgiải quyết các khía cạnh mà chính sách vĩ mô đề cập Chẳng hạn, chính sách phổcập giáo dục là chính sách vĩ mô, từ đây cần phải có các chính sách cụ thể cho từngvùng, từng đối tượng làm thế nào để có thể thực hiện được chương trình phổ cập.Chính sách xã hội vĩ mô phát huy tác dụng trong thời gian dài và là những chỉbáo cơ bản định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Ngoài những chính sách xã hội
cơ bản (vĩ mô), bao giờ nhà nước cũng phải có những chính sách xã hội cấp báchgiải quyết những vấn đề xã hội gay cấn thường xảy ra trong những thời điểm nhấtđịnh
Trang 131.2.2.2 Đặc trưng của chính sách xã hội
Chính sách xã hội có những đặc trưng riêng biệt, có thể khái quát hoá đặctrưng của chính sách xã hội từ góc độ quản lý như sau:
Một là, chính sách xã hội là chính sách đối với con người, nhằm vào con người, lấy con người, các nhóm người trong cộng đồng làm đối tượng tác động để hoàn thiện và phát triển con người một cách toàn diện.
Chính sách xã hội là loại chính sách liên quan đến con người và bao trùm mọimặt cuộc sống con người Vì vậy lấy con người làm trung tâm, coi trọng yếu tố conngười trong sự nghiệp xây dựng đất nước vừa là động lực của sự phát triển xã hội
và tiến bộ xã hội, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng xã hội mới
Hai là, chính sách xã hội mang tính xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc.
Chính sách xã hội có mục tiêu cơ bản là hiệu quả xã hội, góp phần ổn định, pháttriển và tiến bộ xã hội, đảm bảo cho mọi người được sống trong tình nhân ái, bìnhđẳng và công bằng Mọi chính sách xã hội đều phải hướng vào sự công bằng, coicông bằng xã hội là nội dung cơ bản của chính sách xã hội
Ba là, Chính sách xã hội có tính trách nhiệm xã hội cao, quan tâm và tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi để mọi người phát triển
Trong xã hội không ít người rơi vào hoàn cảnh và điều kiện bất lợi, chịu nhiềuthiệt thòi, do đó họ thiếu những điều kiện và cơ hội để phát triển, cần có sự trợ giúpcủa cộng đồng Bởi vậy, chính sách xã hội còn thể hiện trách nhiệm xã hội rất cao,bao giờ cũng quan tâm đến số phận của những con người cụ thể, quan tâm đếnnhững cá nhân sống trong những điều kiện thiệt thòi, khó khăn so với mặt bằngchung của xã hội, hướng vào trợ giúp, tạo điều kiện cho những cá nhân đó phát huynhững khả năng vốn có của mình, để mỗi người tự vươn lên hoà nhập với xã hội,cộng đồng tạo nên một lưới an toàn xã hội
Trang 14Bốn là, chính sách xã hội bao giờ cũng có cơ chế hoạt động, bộ máy nhân sự, chương trình dự án và kinh phí hoạt động riêng
Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng mục tiêu, đối tượng và có hiệu quả,phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách xã hội đi vào cuộcsống Điều đó có nghĩa là chính sách xã hội phải được đầu tư một cách thỏa đáng,trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước có vị trí quyết định; phải có cơ chế và quytrình quản lý và vận hành riêng
Đặc biệt là chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình,
dự án có mục tiêu, hình thành các quỹ xã hội; phát huy vai trò và sức mạnh củacộng đồng, của cơ sở và các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ; phát triển hệthống sự nghiệp hoặc dịch vụ xã hội; tăng cường lực lượng cán sự xã hội
Năm là, Chính sách xã hội còn có đặc trưng rất quan trọng là tính kế thừa lịch sử
Một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sáchmang bản sắc dân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được truyền thống đạo đức,nhân văn sâu sắc của dân tộc ta Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tínhcộng đồng cao, đùm bọc cưu mang lẫn nhau, uống nước nhớ nguồn, lá lành đùm lárách, thương người như thể thương thân
1.2.2.3 Mục tiêu của chính sách xã hội
Mục tiêu cốt lõi của chính sách xã hội là công bằng xã hội, nhằm hướng tới ổnđịnh xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống nhân dân và
sự phát triển bền vững của đất nước
Quan niệm về công bằng xã hội
Trang 15Trong lịch sử của nhân loại, sự tồn tại của con người và xã hội, bao giờ cũnggắn bó chặt chẽ với sự tồn tại những nhu cầu sống của chính nó Nhu cầu của conngười vừa là động lưc mạnh mẽ của lao động sản xuất, vừa là nguyên nhân thúcđẩy những cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của xã hội
Độ chênh nhau giữa những nhu cầu của con người và khả năng thực hiện của
xã hội là mâu thuẫn đòi hỏi phải giải quyết trong mọi xã hội, mọi thời đại Chínhphương thức của việc giải quyết mâu thuẫn này là nguyên nhân đã làm nảy sinh sự
bất công hoặc công bằng trong xã hội Bởi vậy, khái niệm công bằng xã hội cần
phải được hiểu như là phương thức đúng đắn nhất để làm thỏa mãn một cách hợp
lý nhất những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện xã hội nhất định
Công bằng xã hội trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội cũng hoàn toàn xa lạvới chủ nghĩa bình quân tiểu tư sản Bởi lẽ, cái mà chủ nghĩa bình quân mang lạikhông phải là sự thúc đẩy năng lực sản xuất xã hội Nó chỉ là một hình thức sanbằng xã hội, sự chia đều giữa những người tích cực và những người lười biếng,giữa người làm việc với người kém năng lực, giữa người cống hiến nhiều và ngườicống hiến ít
Công bằng xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Ở nước ta, thuật ngữ công bằng được dùng trong tiếng Việt theo nghĩa hẹp hơn
so với trong một số tiếng nước ngoài Thuật ngữ "Justice" trong tiếng Anh và tiếngPháp được hiểu theo nghĩa rộng hơn, là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý
Do đó, khi đề cập đến "social justice", trước hết, người ta nói đến khía cạnh pháp lýcủa nó Vấn đề phân phôi chỉ là một trong những khía cạnh của công bằng xã hội.Ngoài ra, vấn đề tự do cá nhân, quyền con người, vấn đề môi trường, cũng được coi
là những khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội
Trang 16Công bằng xã hội thường được xét ở nhiều phương diện kinh tế, chính trị,pháp quyền, đạo đức Trong phương diện kinh tế, tức là sự phù hợp tương xứnggiữa lao động, đóng góp của cá nhân, nhóm xã hội vào quá trình sản xuất với sựhưởng thụ những kết quả của sản xuất là phương diện cơ bản nhất Khía cạnh chínhtrị, pháp quyền của công bằng xã hội là sự tương xứng giữa công lao, tham gia củanhững người đi chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng vàbảo vệ tổ quốc với sự đánh giá, ghi công, đền đáp của xã hội, hoặc giữa sự thiệt hại
mà cá nhân gây ra cho xã hội với những hình phạt của xã hội đối với họ
1.2.2.4 Chức năng và nhiệm vụ của chính sách xã hội
Chức năng của chính sách xã hội
Thể chế hoá và cụ thể hoá bằng pháp luật những đường lối, chủ trương củaĐảng và nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất vàtinh thần của nhân dân phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh
Chính sách xã hội được tổ chức và hoạt động thông qua hệ thống các biệnpháp, phương pháp và nguyên tắc chung của chủ nghĩa xã hội đồng thời cũng tínhđến sự khác biệt xã hội giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội trong điều kiệnphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyềnlợi và nghĩa vụ công dân: Kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, giữa đờisống vật chất và đời sống tinh thần; đáp ứng nhu cầu trước mắt và chăm lo lợi íchlâu dài; giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng
Điều chỉnh các quan hệ xã hội Đây là chức năng quan trọng nhất của chínhsách xã hội Sự phát triển của các quan hệ xã hội với tư cách là quan hệ của các giai
Trang 17cấp, các tầng lớp, nhóm xã hội góp phần làm cho cơ cấu xã hội ngày càng ổn định
và phát triển bền vững Chính sách xã hội khi tác động vào cơ cấu xã hội nó sẽ điềuchỉnh quan hệ xã hội
Chính sách xã hội tác động vào sự duy trì các giá trị truyền thống, thực hiệnnguyên tắc công bằng, bình đẳng, bác ái và tự do của con người Chính sách xã hộicũng đảm bảo sự thống nhất hài hoà giữa cá nhân và xã hội về các giá trị côngbằng, bình đẳng, quyền lợi và nghĩa vụ công dân
Trên cơ sở chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, giữakhu vực miền núi, trung du, đồng bằng, tạo điều kiện để các dân tộc, vùng miềnphát triển cùng với sự phát triển chung của đất nước
Nhiệm vụ của chính sách xã hội
Để đạt tới sự công bằng, an toàn, tạo điều kiện phát triển con người một cáchtoàn diện, chính sách xã hội thực hiện 5 nhiệm vụ cơ bản như sau:
Một là, tái tạo tiềm năng nhân lực của đất nước thông qua các chính sách về
dân số, gia đình, bảo vệ sức khoẻ, bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi giải trí, khắcphục các tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội
Hai là, góp phần vào việc xây dựng nền tảng vững chắc xã hội với các chính
sách về nhà ở, bảo vệ môi trường sinh thái, sự phát triển văn hóa, giáo dục khoahọc, nghệ thuật, bảo đảm phát triển bền vững của xã hội
Ba là, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo thêm nhiều việc làm
cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, đào tạo lại và đào tạo mới ngườilao động để tiếp thu kỹ thuật, công nghệ hiện đại và không ngừng nâng cao năngsuất lao động
Trang 18Bốn là, tạo điều kiện cho xã hội ngày càng có nhiều khả năng và biết tiêu thụ
những sản phẩm vật chất, tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp với trình
độ phát triển sức sản xuất của đất nước và những chuẩn mực đạo đức pháp lý củachế độ xã hội mới
Năm là, tạo lập, hình thành mô hình lối sống mới theo hướng phát triển toàn
diện của cá nhân kết hợp hài hoà với sự phát triển của công đồng trên cơ sở kế thừanhững giá trị truyền thống đẹp của dân tộc, đồng thời xây dựng những giá trị mớiphù hợp với bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại
1.2.2.5 Vai trò của chính sách xã hội đối với sự ổn định và phát triển của xã hội
Chính sách xã hội bao trùm các mặt của đời sống con người, các nhóm người
và toàn bộ cộng đồng dân cư, vì vậy luôn luôn có vị trí hàng đầu và vai trò quantrọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước Điều đó đã đượckhẳng định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X, XI và các Nghịquyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương bàn về việc giải quyết các vấn đề xãhội
- Chính sách xã hội là một nhân tố ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của xãhội, thông qua việc tạo điều kiện phát triển và khai thác triệt để tiềm lực con người.Điều đó xuất phát trước hết từ vai trò của con người, của nguồn lực con ngườivới sức sáng tạo vô tận đối với sự phát triển xã hội Chính sách xã hội giải quyếtnhững vấn đề xã hội, do đó tạo điều kiện phát triển và khai thác triệt để tiềm lựccon người cho sự phát triển Vai trò này ngày càng to lớn khi đất nước ta đangchuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhân loại đang bước sangthiên niên kỷ của trí tuệ, thời kỳ đòi hỏi hơn bao giờ hết phải phát triển mạnh mẽ trítuệ và khai thác tối đa trí tuệ con người cho sự phát triển
Trang 19Chính sách xã hội là công cụ góp phần điều chỉnh sự khác biệt về cơ cấu xãhội để hướng tới sự công bằng, bình đẳng về vị thế, vai trò và lợi ích kinh tế - chínhtrị - xã hội Chính sách xã hội là công cụ góp phần điều chỉnh sự khác biệt trongsản xuất và tái sản xuất xã hội.
Chính sách xã hội là công cụ góp phần điều chỉnh phân phối và phân phốilại thu nhập xã hội Phân phối và phân phối lại thu nhập là quá trình liên quan đếnsản xuất và trao đổi, tiêu dùng, nó chi phối mạnh mẽ quan hệ lợi ích giữa người vớingười, giữa các nhóm và cộng đồng với nhau
- Chính sách xã hội là cầu nối giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội
- Chính sách xã hội còn là công cụ hữu hiệu để Đảng và Nhà nước ta thực hiện
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩacho sự phát triển đất nước
- Khắc phục và hạn chế các khuyết tật của kinh tế thị trường về phân tầng xãhội và phân hoá giàu nghèo, tạo điều kiện cho những người thiệt thòi có điều kiệnvươn lên hoà nhập với cộng đồng;
- Thực hiện sự công bằng trong phân phối và thu nhập theo nguyên tắc phânphối theo lao động;
- Tạo ra những cơ hội như nhau cho tất cả các tầng lớp dân cư và cá nhân pháthuy tài năng, tham gia lao động, tham gia vào các sự nghiệp giáo dục đào tạo, vănhoá, y tế, thể dục thể thao và các hoạt động chính trị xã hội khác;
- Tạo lập nếp sống lành mạnh, văn minh, duy trì và phát huy bản sắc văn hoádân tộc, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước
Trang 20Câu 2: Trên cơ sở các kinh nghiệm và bài tập làm theo nhóm trên lớp, anh/chị hãy phân tích và đánh giá chính sách xã hội về vấn đề môi trường, phòng
chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay (8 điểm)
Về mặt khoa học, BĐKH là một lĩnh vực liên kết nhiều ngành khoa học khácnhau Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành ba nhóm bài toán lớn: i) Bảnchất, nguyên nhân, cơ chế vật lý của sự BĐKH (Ni); 2) Đánh giá tác động củaBĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải pháp thích ứng (N2); và 3) Giảipháp, chiến lược và kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu BĐKH
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyênnhân tự nhiên và nhân tạo Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do
sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thácquá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinhthái biển, ven bờ và đất liền khác