1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao hoc quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – thực trạng và giải pháp hoàn thiện

39 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 60,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một khâu quan trọng trong việc quan tâm đến phát triển giáodục là quản lý giáo dục mà trước hết phải là quản lý nhà nước về giáo dục.Bởi lẽ, chỉ có thông qua quản lý nhà nước về giáo dục

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Giáo dục – đào tạo có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế– xã hội ở mỗi một quốc gia Lí luận cũng như thực tiễn ở nhiều nước pháttriển đã chỉ rõ rằng: Phát triển một nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là biệnpháp hàng đầu để xây dựng và phát triển một đất nước theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Đặc biệt, đối với những nước chậm phát triển,những nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam Nghị quyết Hộinghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu: “Thực sựcoi giáo dục - đào tạo cùng khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định tăngtrưởng kinh tế vàphát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư chophát triển”

Một mặt giáo dục - đào tạo là hoạt động mang tính xã hội rộng lớn - đặcbiệt kể từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương xã hội hóa giáo dục – có liênquan trực tiếp đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọithành phần kinh tế – xã hội; Mặt khác, nó là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sựphát triển của mỗi quốc gia Như vậy, giáo dục - đào tạo ở bất kỳ quốc gianào cũng phải đi trước một bước, phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho

sự phát triển Một khâu quan trọng trong việc quan tâm đến phát triển giáodục là quản lý giáo dục mà trước hết phải là quản lý nhà nước về giáo dục.Bởi lẽ, chỉ có thông qua quản lý nhà nước về giáo dục mới thực hiện được cácchủ trương, chính sách của quốc gia, mới xây dựng được quy hoạch chiếnlược phát triển, mới thực hiện được các mục tiêu giáo dục…

Như vậy, quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo có thể coi là khâu thenchốt để thực hiện thắng lợi mọi hoạt động giáo dục Tuy nhiên, chúng ta cũngphải thấy rằng: Để quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo có hiệu lực, hiệuquả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đường lối, chủ trương, chính sáchpháp luật của Đảng và Nhà nước, trình độ, tư duy và nhận thức của đội ngũcán bộ làm công tác quản lý giáo dục, về sựtiến bộ của khoa học và côngnghệ… Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 do Thủtướng Chính

Trang 2

phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt nhận định rằng:quản lýlà một khâu yếu và là nguyên nhân của những yếu kém khác tronggiáo dục nước ta Để tìm ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về giáo

dục - đào tạo, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm tiểu luận của mình.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Những vấn đề về giáo dục và đào tạo luôn là những vấn đề rất đượcngười dân, những nhà khoa học quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiêncứu về vấn đề giáo dục và đào tạo Những công trình này đã góp phần rất lớnvào công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục, cũng như đưa ra những ýkiến đóng góp, những nội dung rất thiết thực cho việc quản lý và phát triểngiáo dục ở nước ta

Tuy đa có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, nhưng đối với em,

là một sinh viên Lào sang học tập tại Việt Nam nên em mong muốn mình cóthể làm rõ vấn đề này, đặc biệt là vấn đề quản lý của Nhà nước trong công tácgiáo dục và đào tạo

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Làm sáng tỏ các nội dung liên quan tới vấn đề quản lý Nhà nước về giáodục và đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua

Khẳng định vị trí và vai trò hết sức quan trọng của nhà nước đối vớicông tác quản lý giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong những giai đoạn vừaqua và trong những năm tới

Từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quảtrong công tác quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam tronggiai đoạn tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiểu luận tập trung vào nghiên cứu vấn đề : Quản lý của nhà nước đốivới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của tiểu luận Tiểu luận được thực hiện trên cơ

sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, các đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng về giáo dục và đào tạo Để giải quyết những vấn

đề cơ bản đã được đặt ra ở trên, em đã sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng của Triết học Mác - Lê Nin và những phương pháp khác như: phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương phápthống kê, phương pháp so sánh nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiêncứu của tiểu luận

6 Đóng góp của tiểu luận

Tiểu luận được thực hiện nhằm giúp cho cá nhân em có thể hiểu đượcvai trò hết sức quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý giáo dục, đào tạotrong sự phát triển của xã hội

Hơn thế nữa tiểu luận này góp một phần nhỏ vào việc làm rõ những mặt

đã làm được và hạn chế trong công tác quản lý của Nhà nước về vấn đề giáodục và đào tạo trong giai đoạn vừa qua

Ngoài ra tiểu luận này cũng có thể là một tài liệu tham khảo để nhữngngười có mong muốn tìm hiểu về vấn đề về vai trò của Nhà nước trong quản

lý giáo dục và đào tạo

7 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa tiểu luận được chia thành ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về giáo dục - đào tạo và quản lý nhànước về giáo dục - đào tạo;

Trang 4

Chương 2: Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay; Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

về giáo dục - đào tạo

\

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

1.1 Giáo dục - đào tạo và vai trò của giáo dục - đào tạo

1.1.1 Quan niệm về giáo dục và đào tạo

1.1.1.1 Quan niệm về giáo dục

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự pháttriển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dầndần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra

Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích,nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sảnxuất, nó được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội nhữngkinh nghiệm lịch sử – xã hội của loài người

Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loàingười Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chứcnăng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạnphát triển của xã hội

1.1.1.2 Quan niệm về đào tạo

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đólĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, v.v một cách có hệthống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhậnmột sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển

xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người

1.1.2 Vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển của xã hội

Giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển nền sảnxuất vật chất của xã hội Trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cáchmạng khoa học kiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự

Trang 6

nhiên là chính sang cuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng caonăng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộcsống con người, hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hoángày càng tăng Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sảnxuất hàng hoá và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc

tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệmới

Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm chocác quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triểnphải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hoá sựcạnh tranh và hợp tác toàn cầu “Kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin” đangdần dần hình thành trên cơ sở phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất,dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia với mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào

sự chuẩn bị của hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển khoa học – côngnghệ Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo củacon người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải quamột quá trình chuẩn bị và đào tạo công phu, bền bỉ, có hệ thống

Vì vậy, giáo dục - đào tạo hiện nay được đánh giá không phải là yếu tốphi sản xuất, tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành củanền sản xuất xã hội Không thể phát triển được lực lượng sản xuất nếu khôngđầu tư cho giáo dục - đào tạo , đầu tư vào nhân tố con người, nhân tố quyếtđịnh của lực lượng sản xuất Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất lànhmạnh nếu không nâng cao giác ngộ lý tưởng chính trị, nâng cao trình độ họcvấn, trình độ tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội cho đội ngũ lao động và quản

lý lao động Vì vậy, đầu tư cho giáo dục - đào tạo và là đầu tư cơ bản để pháttriển kinh tế - xã hội, đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa nềnsản xuất xã hội và hiện đại hóa dân tộc

Tóm lại: giáo dục - đào tạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triểncủa mỗi quốc gia được thể hiện ở 3 nội dung đó là:

Trang 7

Một là, giáo dục - đào tạo là động lực, là đòn bẩy mọi sự phát triển của

xã hội, của đất nước;

Hai là, giáo dục - đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước;

Ba là, giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi

của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1.1.3 Quan điểm, phương hướng, chính sách và mục tiêu của Đảng

và Nhà nước về giáo dục - đào tạo

Thứ nhất, quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc

về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng

to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, trong đó có tư tưởng về giáo dục

-bộ phận quan trọng trong vấn đề xây dựng nhân tố con người

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm về vai tròcủa giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người giữ vị trí hết sức quantrọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với con người, coicon người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thành công; con ngườivừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng Đó cũng là cơ sởkhoa học, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta trong nhận thức và hoạtđộng xây dựng nền giáo dục Việt Nam Có thể khái quát quan điểm của HồChí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người trênmột số nội dung sau:

*“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”

Theo Hồ Chí Minh, dốt nát là nguyên nhân cơ bản của yếu hèn và sailầm Dốt thì dại, dại thì hèn Hồ Chí Minh coi dốt nát là một trong ba loại giặccần phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm) Chính vì vậy, sau khiđất nước vừa giành được độc lập, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chínhphủ lâm thời (03-9-1945), Hồ Chí Minh đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chínhquyền mới, trong đó có 2 nhiệm vụ về giáo dục, đó là “cần mở một chiến dịch

Trang 8

để chống nạn mù chữ” và “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thựchiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”

Người chỉ rõ: Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này

là nâng cao dân trí, bởi không một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựngmột chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hóa,dân trí, đạo đức, tinh thần xã hội thấp kém Chưa đầy một tuần sau ngày độclập, ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục đã được Người ký và ban hành: Sắclệnh 17-SL, thành lập Nha Bình dân học vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọilàng phải có lớp học bình dân, và Sắc lệnh 20-SL, cưỡng bách học chữ Quốcngữ không mất tiền Một nền giáo dục mới - nền giáo dục của nước Việt Namđộc lập được Người nêu rõ trong Thư gửi các học sinh: “Ngày nay, các emđược cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của mộtnước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người côngdân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toànnhững năng lực sẵn có của các em… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹphay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với cáccường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công họctập của các em”

Hồ Chí Minh chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục hướng vào cácgiá trị dân tộc, hiện đại và nhân văn, một nền giáo dục phục vụ Tổ quốc, phục

vụ nhân dân Theo chỉ đạo của Người, Bộ Giáo dục đã đề ra mục đích,phương pháp và tổ chức của nền giáo dục mới:

- Khẳng định mục đích cao cả của nền giáo dục mới là: Tôn trọng nhânphẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoànthể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại

- Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, hìnhthức, chú trọng phần thực học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếmmột địa vị quan trọng, hết sức đề cao tinh thần khoa học, nhằm giúp học sinh

Trang 9

có lối nhận thức khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích và tổng hợp,tinh thần sáng tạo và óc thực tế.

- Về tổ chức, nền giáo dục mới là một nền giáo dục duy nhất chung chotoàn thể nhân dân Việt Nam

Cũng ngay trong năm 1945, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo mở các khóa huấnluyện cán bộ bình dân học vụ Khóa huấn luyện đầu tiên được mang tên HồChí Minh Đồng thời, Người ký Sắc lệnh thành lập Ban Đại học văn khoa,Sắc lệnh thành lập Hội đồng cố vấn học chính,… từng bước định hình nềngiáo dục mới, với một hệ thống quan điểm hiện đại, đó là:

- Dân chủ hóa về mục tiêu phát triển;

- Dân tộc và đại chúng hóa về tổ chức đào tạo;

- Nhân văn hóa về nội dung đào tạo;

- Khoa học hóa về phương pháp đào tạo;

- Xã hội hóa về quản lý đào tạo

Không chỉ quan tâm hoàn thiện thể chế và bộ máy của nền giáo dục mới,

Hồ Chí Minh còn khởi động cho toàn dân thấm nhuần tư tưởng “dân mạnh thìnước giàu”, “dân cường thì nước thịnh”, và Người kêu gọi mọi người phảilàm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái, xứng đáng vớinước Việt Nam độc lập Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhiều trường họccho thanh thiếu niên, cho đồng bào các dân tộc, cho phụ nữ, phụ lão,… đãkhai giảng, cả nước sôi nổi với phong trào bình dân học vụ, diệt “giặc dốt”

Từ một nước 95% dân số mù chữ, nhiều làng xã đã xóa nạn mù chữ, nhiều

“chiến sĩ diệt dốt” đã được vinh danh

* “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục - sự nghiệp “trồng người” là mộtchiến lược vừa cơ bản, lâu dài, vừa là quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhànước ta Điều này cũng đúng với tuyên bố đưa ra năm 1994 của Tổ chức Giáodục, Khoa học, và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO): Không có một sự

Trang 10

tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnhvực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặckhông đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quảthì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sựphá sản.

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự hìnhthành nhân cách con người Một mặt, giáo dục là sự tác động có mục đích, có

hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ, nó phác thảo trước mô hình nhân cáchcần đạt đến Mặt khác, giáo dục truyền lại những thành tựu của nền văn minh

xã hội theo con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Nhân cách con người đượchoàn thiện bởi một nền giáo dục xã hội và tự giáo dục toàn diện sẽ trở thànhnhững người vừa “hồng”, vừa “chuyên”; vừa có phẩm chất, vừa có năng lực;những công dân tốt, những cán bộ tốt, sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xâydựng một nước Việt Nam mới

Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi con người đều có cái thiện và ác ở tronglòng, ta phải làm thế nào cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoamùa Xuân Thông qua giáo dục thì cái thiện trong mỗi con người sẽ ngàycàng nhiều thêm và cái ác sẽ mất dần đi Tuy vậy, Hồ Chí Minh không coigiáo dục là yếu tố vạn năng, là tất cả, mà chỉ là phần chủ đạo, phần nhiều.Người viết:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền

Hiền dữ đâu phải là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Để có những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, Hồ Chí Minh thườngxuyên quan tâm việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện và khẳng định:Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đức dục, trí dục,thể dục, mỹ dục, nhằm đào tạo ra những con người có tri thức, có lý tưởng, cóđạo đức, có sức khỏe, có thẩm mỹ Người nói: “Trong việc giáo dục và học

Trang 11

tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủnghĩa, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, lao động và sản xuất”

Trong hoàn cảnh đất nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược,vừa có chiến tranh, vừa có hòa bình, Hồ Chí Minh càng coi trọng vai trò củagiáo dục Người nói: “không có giáo dục, không có cán bộ, thì cũng khôngnói gì đến kinh tế, văn hóa” (5) Văn hóa, giáo dục là một mặt trận quan trọngtrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiệnthống nhất nước nhà Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển sảnxuất, phát triển khoa học kỹ thuật và giáo dục - đào tạo gắn bó chặt chẽ vớinhau Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất Muốn tănggia sản xuất thì phải có kỹ thuật cải tiến Muốn sử dụng kỹ thuật tốt thì phải

có văn hóa Người nhấn mạnh, nước nhà đang khôi phục kinh tế, phát triểnvăn hóa, mà muốn khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa cần phải đào tạo cán

bộ, cán bộ phải có văn hóa làm gốc Bởi muốn xây dựng chủ nghĩa xã hộiphải có học thức, “chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loàingười đến hạnh phúc vô tận” Con người được giáo dục toàn diện sẽ trở thànhnhững con người mới - chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần thực hiệnthắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh

Đối với người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh càng nhấn mạnh đến tầmquan trọng của giáo dục, bởi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việcthành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay cán bộ kém Nội dung giáo dụccho cán bộ bao gồm: Giáo dục lý luận chính trị; giáo dục văn hóa, chuyênmôn nghiệp vụ; giáo dục phong cách, đạo dức cách mạng

Giáo dục lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng vì nó trang bị chongười học lập trường giai cấp vô sản vững chắc, tin tưởng vào sự nghiệp cáchmạng của Đảng và dân tộc, và định hướng cho hành động của con người HồChí Minh nói: Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi; “Khônghọc lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc

Trang 12

đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xarời cách mạng” (6).

Giáo dục văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ là rất cần thiết Nếu khônghọc tập văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không thể tiếp thu khoa học kỹthuật và chuyên môn nghiệp vụ Nếu chỉ học văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ

mà không học chính trị, thì như một mắt sáng một mắt mờ

Giáo dục phong cách, đạo đức cách mạng là yêu cầu đầu tiên của ngườicán bộ, bởi có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy, mới hoàn thànhđược nhiệm vụ cách mạng vẻ vang

Ngày nay, nhân loại đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nềnkinh tế tri thức, một xã hội thông tin Thế giới đang trong cuộc chạy đua vềtốc độ trong hệ thống kinh tế - xã hội Vì vậy, người ta nói, muốn biết tươnglai một dân tộc ra sao hãy nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang làm giáo dụcnhư thế nào? Trong nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vàocác nhân tố truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có

ý nghĩa quyết định là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao, làchất xám của các chuyên gia Việt Nam muốn “sánh vai với các cường quốcnăm châu”, trước tiên phải làm tốt chiến lược “trồng người” theo tư tưởng HồChí Minh Chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lựcsẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể đi tắt, đón đầu, phát huy thếmạnh của con người Việt Nam (yêu nước, ham học, thông minh, sáng tạo,…)

để xây dựng và phát triển đất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò củagiáo dục trong việc phát huy nhân tố con người là kim chỉ nam để Đảng vàNhà nước ta xây dựng đường lối giáo dục và đào tạo trong tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Thứ hai, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã xác định,cùng với khoa học công nghệ, “giáo dục là tương lai của dân tộc”, là “quốcsách hàng đầu”, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

Trang 13

xã hội và là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươnlên trình độ tiên tiến của thế giới Giáo dục là tương lai của dân tộc, tức làtương lai của con người, của mọi người, trên quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lê-nin “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự docủa tất cả mọi người” Hồ Chí Minh nói: “Muốn xã hội chủ nghĩa phải cóngười xã hội chủ nghĩa, muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xãhội chủ nghĩa” Trước hết ở đây là đào tạo, rèn luyện, xây dựng con người, làchiến lược “trồng người”, đồng thời phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, tư tưởng,văn hóa - những tiền đề không thể thiếu được của con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta một lầnnữa khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục làđầu tư cho phát triển”, “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong nhữngđộng lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điềukiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Sự nghiệp giáo dục của nước ta qua hơn hai mươi năm đổi mới đã thuđược những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện sứ mệnhnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, đến nay,giáo dục nước ta vẫn chưa thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu”, động lựcquan trọng nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít hạn chế, yếu kém, nhất

là về chất lượng giáo dục và công tác quản lý Để có thể cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng lần thứ sáu, khóa XI (tháng 10-2012) chủ trương “đổimới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”, nhằm đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế./

Trong đó quan điểm của Đảng được thể hiện trong các nội dung chính đólà:

Trang 14

1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Ðảng,Nhà nước và của toàn dân Ðầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưutiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2- Ðổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn

đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nộidung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới

từ sự lãnh đạo của Ðảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị củacác cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội

và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quátrình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân

tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấnchỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Ðổi mới phải bảo đảm tính hệthống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giảipháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phùhợp

3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiếnthức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôivới hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dụcgia đình và giáo dục xã hội

4 Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế

-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quyluật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo sốlượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu sốlượng

5- Ðổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữacác bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa,hiện đại hóa giáo dục và đào tạo

Trang 15

6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thịtrường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đàotạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữacác vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùngđặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng

xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục

và đào tạo

7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo,đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để pháttriển đất nước

Thứ ba, mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo

* Mục tiêu tổng quát

Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục,đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vànhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàndiện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêugia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản

lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội họctập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dânchủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm

2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

* Mục tiêu cụ thể

Ðối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểubiết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt chotrẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vàonăm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễnhọc phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non

Trang 16

Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiệncủa từng địa phương và cơ sở giáo dục

Ðối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hìnhthành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tinhọc, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Pháttriển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thànhviệc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảođảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thôngnền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung họcphổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổthông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáodục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020

Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độgiáo dục trung học phổ thông và tương đương

Ðối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức,

kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghềnghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theohướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật côngnghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế

Ðối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồidưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức,sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơcấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lựcquốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực vàquốc tế Ða dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển côngnghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hộinhập quốc tế

Trang 17

Ðối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ởvùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nângcao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộcsống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảmxóa mù chữ bền vững Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên vàcác hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học vàgiáo dục từ xa

Ðối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người ViệtNam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt

và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương,đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước

1.2 Quan niệm về quản lý nhà nước đối với giáo dục - đào tạo

1.2.1 Quản lý

Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhânhướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan

1.2.2 Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động tổ chức mang tính quyền lực - pháp lýcủa các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi đượcnhà nước trao quyền tới ý thức, hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan,tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động, phát triển nhằm đạt được mụctiêu nhất định của quản lý nhà nước và xã hội Mục tiêu của quản lý nhà nướcphải phù hợp với mục tiêu phát triển của xã hội Đây chính là ý nghĩa, giá trịcủa quản lý nhà nước

1.2.3 Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo

Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo là sự tác động có tổ chức và điềuchỉnh bằng quyền lực nhà nước, trên cơ sở pháp luật đối với các hoạt độnggiáo dục - đào tạo, do các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến

Trang 18

hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước uỷ quyền nhằm pháttriển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì trật tự, kỉ cương, thoả mãn nhucầu giáo dục - đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạocủa nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

1.2.4 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáodục) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên tắc giáo dục để đạt tớimục tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước

1.3 Hệ thống các cơ quan quản lý và nội dung quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo

1.3.1 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo

Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước bao gồm có: Chính phủ, Bộ Giáo dục

và Đào tạo, Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, và ủy ban nhân dân các cấp.Trong đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục; Bộ Giáo dục vàĐào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáodục; Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiệnquản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền và Ủy ban nhân dân các cấpthực hiện quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo theo phân cấp được giao

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đã được cụ thể hóa tại Điều 99Luật Giáo dục được ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 bao gồm 12 nộidung chính

Nội dung quản lýnhà nước về giáo dục bao gồm:

1 Xây dựng vàchỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chínhsách phát triển giáo dục;

2 Ban hành và tổchức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáodục; ban hành điều lệ nhà trường;ban hành quy định về tổ chức và hoạt độngcủa cơ sở giáo dục khác;

Trang 19

3 Quy định mụctiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhàgiáo; tiêu chuẩn cơ sở vậtchất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản,

in và phát hành sáchgiáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng,chứng chỉ;

4 Tổ chức, quảnlý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chấtlượng giáo dục;

5 Thực hiệncông tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáodục;

6 Tổ chức bộmáy quản lý giáo dục;

7 Tổ chức, chỉđạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục;

8 Huy động, quảnlý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáodục;

9 Tổ chức, quảnlý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệtrong lĩnh vực giáo dục;

10 Tổ chức, quảnlý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

11 Quy định việctặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công laođối với sự nghiệp giáo dục;

12 Thanh tra,kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo vàxử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

1.3.3 Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo

Phân cấp quản lý giáo dục là “quá trình thiết kế lại hệ thống và các quytrình trách nhiệm, quyền hạn và tính tự chịu trách nhiệm trong hệ thống giáodục Việc thiết kế lại hệ thống và quy trình này có nghĩa là: xác định lại vàphân công lại các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cấp (trungương, tỉnh , huyện, trường) cũng như quy trình quan hệ trong công việc giữacác cấp khác nhau, giữa các cơ quan có liên quan thuộc khu vực nhà nước vàphi nhà nước”

Ngày đăng: 11/03/2022, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như ất (2002), “Liên Bang Nga hiện đại hoá giáo dục”, Báo Giáo dục và Thời đại chủ nhật, (số 48 và 49 lần lượt ra ngày 1.12.2002, ngày 8.12.2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên Bang Nga hiện đại hoá giáo dục
Tác giả: Nguyễn Như ất
Năm: 2002
2. Nguyễn Như ất (2005), “tìm hiểu kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Liên Bang Nga”, Quản lý Nhà nước về Giáo dục – Lý luận và thực tiễn, 3. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1992), Nghị quyết lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tìm hiểu kinh nghiệm quản lý nhà nước vềgiáo dục của Liên Bang Nga
Tác giả: Nguyễn Như ất (2005), “tìm hiểu kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Liên Bang Nga”, Quản lý Nhà nước về Giáo dục – Lý luận và thực tiễn, 3. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1992
8. Đặng Quốc Bảo trả lời phỏng vấn phóng viên Vietnamnet (2007), “Về quản lý giáo dục”, http://www2.Vietnamnet.vn ngày 21/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vềquản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo trả lời phỏng vấn phóng viên Vietnamnet
Năm: 2007
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1996), Nghị quyết lần thứ II, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Đặng Quốc Bảo (2001), kinh tế học giáo dục: Một số vấn đề lý luận và những ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
6. Đặng Quốc Bảo (2003), phát triển nhà trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đặng Quốc Bảo (2004), giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp, Nhàxuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Đào tạo bồi dưỡng (1989), tài liệu bồi dưỡng hiệu trưởng mẫu giáo, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Trung tâm thông tin quản lý (2001), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Ngành Giáo dục – Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tài liệu nhiệm vụ năm học 2005 – 2006, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1998), Đại Cương về quản lý, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
14. Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộluật Lao động; Luật Giáo dục về dạy nghề và Nghị định số 166/2004/NĐ-CP ngày 16/9/2004 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục Khác
15. Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.16. Jacques Delors (2002), học tập, một của cải nội sinh, do Nguyễn Đức Thắng dịch, Vũ Văn Tảo hiệu đính, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
17. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (1987), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Khác
18. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Khác
19. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, A Khác
20. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
21. Phạm Văn Đồng (1999), Về vấn đề Giáo dục - Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w