1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan cao hoc tư TƯỞNG của LÊNIN về các THÀNH PHẦN KINH tế TRONG CHÍNH SÁCH KINH tế mới và QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC vận DỤNG ở VIỆT NAM

20 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI VÀ QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM A. MỞ ĐẦU Trong học thuyết tích luỹ tư bản gắn liền với sản xuất mở rộng, mặt khác nó gắn liền với quá trình thay đổi cơ cấu hữu cơ (CV) dẫn đến quy mô sản xuất mở rộng mang lại thất nghiệp cao. Vì quá trình tích tụ và tập trung tư bản tái sản xuất mở rộng ngày càng tăng và nó trở thành một tất yếu kinh tế, vì đây là sự đòi hỏi khách quan của quy luật kinh tế chủ nghĩa tư bản, quá trình cách mạng ấy đòi hỏi các nhà tư bản phát triển ứng dụng khoa học công nghệ để thu thêm lợi nhuận siêu ngạch trong quá trình kinh doanh, khách quan của cạnh tranh dẫn đến quy mô sản xuất tăng lên một cách nhanh chóng quá trình cạnh tranh một cách gay gắt. Đưa đến quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra một cách mạnh mẽ hơn làm cho quá trình cạnh tranh tiếp tục mạnh mẽ hơn. Để nghiên cứu vấn đề này, có nhiều nhà khoa học đi nghiên cứu, nhưng mỗi người lại có những hướng tiếp cận và đưa ra những học thuyết riêng của mình về vai trò điều thiết của nhà nước vào phát triển kinh tế như: Thô mas Mus, A.Smith, Ricảdo.

Trang 1

TIỂU LUẬN

TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI VÀ QUÁ TRÌNH NHẬN

THỨC VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong học thuyết tích luỹ tư bản gắn liền với sản xuất mở rộng, mặt khác nó gắn liền với quá trình thay đổi cơ cấu hữu cơ (C/V) dẫn đến quy mô sản xuất mở rộng mang lại thất nghiệp cao Vì quá trình tích tụ và tập trung

tư bản tái sản xuất mở rộng ngày càng tăng và nó trở thành một tất yếu kinh

tế, vì đây là sự đòi hỏi khách quan của quy luật kinh tế chủ nghĩa tư bản, quá trình cách mạng ấy đòi hỏi các nhà tư bản phát triển ứng dụng khoa học công nghệ để thu thêm lợi nhuận siêu ngạch trong quá trình kinh doanh, khách quan của cạnh tranh dẫn đến quy mô sản xuất tăng lên một cách nhanh chóng quá trình cạnh tranh một cách gay gắt Đưa đến quá trình tích

tụ và tập trung tư bản diễn ra một cách mạnh mẽ hơn làm cho quá trình cạnh tranh tiếp tục mạnh mẽ hơn

Để nghiên cứu vấn đề này, có nhiều nhà khoa học đi nghiên cứu, nhưng mỗi người lại có những hướng tiếp cận và đưa ra những học thuyết riêng của mình về vai trò điều thiết của nhà nước vào phát triển kinh tế như: Thô mas Mus, A.Smith, Ricảdo

Trang 3

B NỘI DUNG

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI Ở CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC.

Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ NÀY ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.

Với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

và sự xuất hiện của lý thuyết Keynes về vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế , lần đầu tiên chủ nghĩa tự do cũ mất vị trí thống trị Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa(1929-1933) càng chứng minh

sự sụp đổ của học thuyết tự do kinh tế Hơn nữa những thành tựu quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa càng chứng tỏ vai trò điều tiết của nhà nước Điều đó tác động mạnh

mẽ tới tự do kinh tế Trước tình hình đó các nhà kinh tế tư sản phải sửa đổi lại hệ thống lý thuyết tự do kinh tế cho phù hợp với tình hình mới Từ đó chủ nghĩa tự do mới ra đời

Trong lịch sự loại người, tư tưởng tự do kinh tế xuất hiện khá sớm Cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nhiều nhà kinh tế đã ca ngợi cơ chế thị trưòng, phê phán sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế Đó là nhà kinh tế tư sản cổ điển như F.Quesney, W.petty, A.Smith, D.ricardo Chủ nghĩa tự do cũ phát triển mạnh từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về trước

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đức thua trận, nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề Các nhà kinh tế học ở Cộng hoà Liên bang Đức cho rằng, về lý thuyết cũng như thực tiễn đều chứng minh sự điều tiết độc tài phát xít dựa trên cơ sở lý thuyết chủ nghĩa tư bản có điều tiết không mang lại hiệu quả Họ phê phán mô hình kinh tế chỉ huy, kinh tế kế hoạch hoá tập trung và ủng hộ mạnh mẽ tư tưởng tự do: “sức mạnh tự do”, “kinh tế thị trường tự do”, “kinh tế thị trường xã hội “ Các đại biểu của chủ nghĩa tự

Trang 4

do mới ở Cộng hoá Liên bang Đức như: W.Euskens, W Ropke, Armack …

đã đưa ra nhiều tư tưởng kinh tế nhằm khôi phục lại chủ nghiưa tự do Trong

đó lý thuyết về nền kinh tế thị trường xã hội của Armack là nổi bật hơn cả

Nền kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời phòng tránh được các khuyết tật lơn của thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp, bảo vệ và giúp đỡ các tầng lớp xã hội thiếu đói, gặp khó khăn, nghèo khổ, che chắn cho họ, có cuộc sống an toàn và xứng đáng, phù hợp với trình độ phát triển chung của một xã hội hiện đại Như vậy, nền kinh tế thị trường xã hội vừa tạo dung và duy trì một nền kinh tế thị trường , vừa thực hiện công bằng xã hội Các quy định về kinh tế và chính trị của nhà nước phải nhằm phục vụ lợi ích của cá nhân và gia đình họ, do vậy nó phải được hoạch định trên cơ sở chú ý đến nhu cầu và nguyện vọng cá nhân

Nền kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời phòng tránh được các khuyết tật lơn của thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp, bảo vệ và giúp đỡ các tầng lớp xã hội thiếu đói, gặp khó khăn, nghèo khổ, che chắn cho họ, có cuộc sống an toàn và xứng đáng, phù hợp với trình độ phát triển chung của một xã hội hiện đại Như vậy, nền kinh tế thị trường xã hội vừa tạo dung và duy trì một nền kinh tế thị trường , vừa thực hiện công bằng xã hội Các quy định về kinh tế và chính trị của nhà nước phải nhằm phục vụ lợi ích của cá nhân và gia đình họ, do vậy nó phải được hoạch định trên cơ sở chú ý đến nhu cầu và nguyện vọng cá nhân

Nền kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kết hợp tự

do cá nhân với công bằng xã hội Nguồn gốc triết học và lý luận của nền kinh tế thị trường xã hội đã có từ lâu Nó bắt đầu được thực thi trên thực tế ở Công hoà Liên bang Đức từ năm 1948

Trang 5

Nền kinh tế thị trường xã hội không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa truyền thống của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cũng không phải

là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung kiểu chủ nghĩa xã hội hoặc kinh tế chỉ huy ( như Liên xô, Đông Âu hay Trung quốc trước đây)

Nền kinh tế thị trường xã hội không phải nền kinh tế thị trường hiện đại của trào lưu tự do mới vì trào lưu này quá coi nhẹ vai trò của nhà nước

và vấn đề xã hội và cũng không đồng nhất với chủ nghĩa tự do của trường phái Freigurg ở Tây Đức Trường phái này theo quan điểm tự do có trật tự,

nó tích cực ủng hộ một nhà nước mạnh, có thể tổ chức và duy trì hệ thống cạnh tranh trên quy mô lớn thông qua các biện pháp kinh tế và chính trị Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm phát huy tính tích cực, ưu điểm của nền kinh tế thị trường đồng thời nhằm ngăn ngừa, hạn chế,khắc phục những mặt khuyết tật của nó Nhà nước quản lý kinh tế thị trường bằng kế hoạch, pháp luật, chính sách và các công cụ khác Kế hoạch phải dựa vào thị trường, lấy thị trường làm căn cứ đối tượng Kế hoạch mang tính chất định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô Sự quản lý của Nhà nước nhằm kết hợp tính định hướng và cân đối của kế hoạch với tính năng động, nhạy cảm của thị trường Đối với chúng ta, kinh tế thị trường không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội

Về chế độ phân phối: cả hai nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều có nhiều hình thức phân phối Song chúng khác nhau là ở chổ, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phân chủ yêú theo tư bản, phục vụ lợi ích tối đa của các nhà tư bản Còn ở Việt Nam có nhiều hình thức phân phối nhưng phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội

Trang 6

Về chính sách xã hội: xã hội chúng ta là xã hội vì con người; đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội “con người vừa là muc tiêu vừa là động lực của sự phát triển” Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết tốt những vấn đề xã hội Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bởi vì phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững chắc Bền vững về mặt xã hội là đảm bảo vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được ổn định xã hội, không có những xáo trộn, xung đột, rối loạn, ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực cho sự phát triển Trong sự phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội gắn chặt với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hoà nhập vào nhau, không được xem thường yếu tố nào Mục tiêu phát triển kinh tế phải bao gồm cả mục tiêu giải quyết những vấn đề xã hội như: Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo thoả mãn nhu cầu cơ bản của nhân dân, công bằng xã hội Ngược lại mục tiêu phát triển xã hội cũng nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế Đó cũng

là sự khác nhau cơ bản về phát triển giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản

Phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện công bằng xã hội Xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Nhưng thực hiện vấn đề công bằng xã hội còn đang là vấn đề khó khăn phức tạp do hậu qủa của cuộc chién tranh, do nền kinh tế kém phát triển, do thực hiện cơ chế thị trường đưa tới sự phân hoá giàu nghèo Vì vậy giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội lại tạo ra đông lực để phát triển kinh tế như cương lĩnh của Đảng đã chỉ rõ:” Chính sách xã hội

Trang 7

đúng đắn, vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”

Các tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường xã hội Nền kinh tế thị trường xã hội biểu hiện 6 tiêu chuẩn cụ thể sau:

Thứ nhất, tuyệt đối đảm bảo quyền tự do cá nhân Về kinh tế , tự do cá nhân là cơ sở để tạo lập nên những đơn vị kinh tế hoạt động tự do và thị trường hoạt động trôi chảy

Thứ hai, bảo đảm công bằng xã hội Nền kinh tế thị trường vốn chứa đựng sự bất bình đẳng, bất công và nó luôn táI sản xuất mở rộng sự bất bình đẳng đó Do vậy công bằng xã hội chỉ có thể đạt được thông qua các chính sách xã hội của nhà nứoc

Thứ ba, chính sách kinh doanh theo chu kỳ Nền kinh tế thị trường tự bản thân nó không thể cân đối hợp lý và ổn định được và thường dẫn tới khủng hoảng có chu kỳ Do vậy, nhà nước phải có chính sách khắc phục hậu quả xấu, chống khủng hoảng, điều chỉnh mất cân đối

Thứ tư, chính sách tăng trường kinh tế và xã hội Nhà nước phải tạo ra khuôn khổ pháp luật cần thiết để cho các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, đồng thời phải xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội đồng bộ, hoàn chỉnh và khuyến khích, kích tích các sáng chế phát minh công nghệ hiện đại giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất

Thứ năm, chính sách cơ cấu Đây là tiêu chuẩn đặc trưng cho nền kinh

tế thị trường xã hội, là hạt nhân trong chính sách tăng trường Nhà nước cần

có chính sách cơ cấu năng động, linh hoạt, chuyển dịch theo yêu cầu của cuộc cánh mạng khoa học công nghệ và những yêu cầu về chính trị kinh tế v.v…Trong nhiều chính sách thì chính sách cơ cấu phát triển chiều sâu của ngành, vùng, chính sách, đào tạo bồi dưỡng vốn con người được coi là quan trọng nhất

Trang 8

Thứ sáu, bảo đảm tính phù hợp với cạnh tranh trên thị trường Những chính sách của nhà nước nêu trên không chỉ mang lại sự công bằng xã hội,

sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định, phát triển và một cơ cấu hợp lý mà còn ngăn ngừa được sự phá vỡ hay hạn chế các hoạt động cạnh tranh quá mức trên thị trường

Sáu tiêu chuẩn trên đây bổ sung cho nhau, kết hợp với nhau tạo nên đặc trưng của nền kinh tế thị trường xã hội

Chức năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường xã hội Cạnh tranh

có hiệu quả là một yếu tố trung tâm của nền kinh tế thị trường xã hội Cần phải tôn trọng quyền tự do của các cá nhân, các doanh nghiệp Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp đều có cơ hội thành công và gặp những rủi ro, bất trắc.Trong nền kinh tế thị trường xã hội cạnh tranh có những chức năng sau đây:

Thứ nhất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiểu quả mọi nguồn lực, kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động

Thứ hai, tạo ra nhiều hàng hoá và chất lượng ngày càng cao, giá thành ngày càng hạ, mẫu mã chủng loại ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Thứ ba, cạnh tranh đã tạo ra tính linh hoạt của sự điều chỉnh các hoạt động kinh tế Cho phép duy trì sự di chuyển liên tục các nguồn tài nguyên đến nơi sử dụng có hiệu quả hơn

Thứ tư, canh tranh góp phần kiểm soạt được sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị

Thứ năm, cạnh tranh có hiệu quả tạo ra quyền tự do lựa chọn và hành động của cá nhân

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường xã hội luôn luôn tồn tại những nguy cơ làm hạn chế cạnh tranh Đó là:

Trang 9

Một là, nguy cơ do nhà nước gây ra Hoạt động của nhà nước với tư cách là người quản lý xã hội có thể làm suy yếu cạnh tranh Thông qua các chính sách đặc biệt là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ hoặc thông qua những quy định của nhà nước, có thể làm hạn chế canh tranh Ngoài ra, khi nhà nước với tư cách là một chủ thể kinh tế có sức mạnh trên thị trường hoặc là người độc quyền kinh doanh trên lĩnh vực thương mại thì nó có thể hạn chế hoặc bóp méo sự cạnh tranh

Hai là, những nguy cơ do tư nhân gây ra Sự hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân đã làm hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và chiều ngang Hạn chế theo chiều ngang đó là việc thoả thuận giữa các đối thủ cạnh tranh hình thành nên các tổ chức độc quyền với nhiều hình thức khác nhau nhằm thoả thuận bí mật với nhau về một vấn đề kinh tế nào đó, loại bỏ cạnh trah của đối thủ khác Hạn chế theo chiều dọc, đó là những thoả thuận của người sản xuất và người tiêu dùng, do đó mà loại bỏ cạnh tranh ở khâu bán

lẻ Bên cạnh đó, việc hình thành một số doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường, nắm được những vị trí nhất định làm cho họ không bắt buộc hoặc ít phải cạnh tranh Ngoài ra, sự tẩy chay, cấm vận việc phân biệt đối xử không công bằng đối với bạn hàng cũng dẫn tới sự đe doạ đối với cạnh tranh Cuối cùng là do sự tập trung hoá bằng cách hợp nhất các đối thủ cạnh tranh với nhau cũng là nguyên nhân đưa đến sự thủ tiêu cạnh tranh giữa họ với nhau

Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường xã hội Nền kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hoà Liên bang Đức được xây dựng trên cơ sở sáng kiến cá nhân và sự cạnh tranh có hiệu quả Nhà nước chỉ can thiệp ở những nơi cạnh tranh không có hiệu quả và những nơi cần phải duy trì, bảo vệ, định hướng cho các hoạt động cạnh tranh có hiểu quả Nhà nước can thiệp vào kinh tế dựa trên hai nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc phù hợp với thị trường

Trang 10

Nguyên tắc hỗ trợ: là nguyên tắc giữ vai trò chỉ đạo khi xêm xét vấn

đề là nhà nước có can thiệp hay không và can thiệp đến mức độ nào vào nền kinh tế Đồng thời bạo vệ và khuyến khích các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường

Hỗ trợ cho cạnh tranh có hiệu quả và phát huy được vai trò sáng kiến

cá nhân, nhà nước phải tạo ra được hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh, xây dựng được kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội cần thiết nhằm mở đường cho các doanh nghiệp hoạt động Nhà nước thực hiện nguyên tắc này thông qua các công cụ và các chính sách như: kế hoạch, pháp luật, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, duy trì sở hữu tư nhân, an ninh và công bằng

xã hội

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc phù hợp với thị trường Đây là nguyên tắc làm cơ sở để nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo các mục tiêu kinh tế xã hội Nhà nước sử dụng các chính sách cơ bản như: chính sách

sử dụng nhân lực, chính sách tăng trưởng, chính sách chống chu kỳ, chính sách thương mại, chính sách đối với ngành và lãnh thổ

Yếu tố trong nền kinh tế thị trường xã hội Trong nền kinh tế thị trường xã hội, các yếu tố xã hội chiếm một vị trí quan trọng Những yếu tố

xã hội mà nhà nước hướng tới, đó là: nâng cao mức sống của nhóm nhân cư

có thu nhập thấp nhất; bảo vệ và giúp đỡ tất cả các thành viên trong xã hội chống lại những khó khăn về kinh tế và đau khổ về mặt xã hội do những rủi

ro của cuộc sống gây ra

Để thực hiện được các mục tiêu xã hội trên đây, trước hết nhà nước phải đảm bảo ổn định và tăng trưởng kinh tế, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, thực hiện một số chính sách như: chính sách phân phối thu nhập, chính sách

Ngày đăng: 11/03/2022, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w