tài liệu BÀI TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ Mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Lịch sử công nghiệp hóa thế giới được khởi phát từ thành phố Manchester, nước Anh. Đến nay, công nghiệp hóa đã lan rộng khắp các châu lục trên thế giới. Nghiên cứu các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới. Nghiên cứu các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới cho thấy: các nước áp dụng nhiều mô hình công nghiệp hóa khác nhau, trong đó các mô hình công nghiệp hóa được thực hiện tại nước đi sau đều có ưu việt hơn các mô hình được thực hiện ở nước đi trước. Vì vậy, thời gian hoàn thành công nghiệp hóa của các nước đi sau cũng có xu hướng rút ngắn so với các nước đi trước, từ hàng trăm năm rút xuống chỉ còn vài chục năm. Việt Nam là nước công nghiệp hóa muộn, vì vậy chúng ta có lợi thế của nước đi sau. Nhưng để phát huy được “ưu thế hậu phát” của nước đi sau đòi hỏi chúng ta phải xác định được một mô hình công nghiệp hóa vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, vừa phù hợp với xu hướng vận động chung của thế giới; vừa cho phép rút ngắn được thời kỳ công nghiệp hóa, vừa 1 giữ được mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phân tích các bài học kinh nghiệm của các nước, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam và thế giới, đề tài phác họa mô hình công nghiệp hóa của nước ta trong những thập niên đầu thế kỷ XXI là: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Để hiện thực hóa mô hình công nghiệp hóa đó, đề tài đưa ra và phân tích các điều kiện bên trong và bên ngoài, trong đó quan trọng nhất là: có tiền đề kinh tế - kỹ thuật do nước CNH đi trước tạo ra; nền kinh tế phải hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thị trường thế giới; có nguồn nhân lực trình độ cao; và đặc biệt phải có một chính phủ hiệu quả.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOAKINHTẾQUỐCTẾ
~~~~~~~~~~.~~~~~~~~~~
BÀITIỂULUẬNCHUYÊN ĐỀ :Môhìnhcôngnghiệphóaởcácnướctrênthếgiới,bàihọckinhnghiệ
Trang 2Hà Nội -2020
LỜINÓIĐẦU
Lịch sử công nghiệp hóa thế giới được khởi phát từ thành
phốManchester, nước Anh Đến nay, công nghiệp hóa đã lan rộng khắp
cácchâu lục trên thế giới Nghiên cứu các mô hình công nghiệp hóa trên thếgiới Nghiên cứu các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới cho thấy: cácnước áp dụng nhiều mô hình công nghiệp hóa khác nhau, trong đó các môhìnhcôngnghiệphóađượcthựchiệntạinướcđisau đềucóưuviệthơncácmô hình đượcthực hiện ở nước đi trước Vì vậy, thời gian hoàn thành côngnghiệp hóa của các nước đi sau cũng có xu hướng rút ngắn so với cácnướcđi trước, từ hàng trăm năm rút xuống chỉ còn vài chục năm Việt Nam
lànướccôngnghiệphóamuộn,vìvậychúngta cólợithế củanướcđisau
Nhưngđểpháthuyđược“ưuthếhậuphát”của nướcđisauđòihỏichúngta phải xác định được một mô hình công nghiệp hóa vừa phù hợp với điềukiện cụ thể củađất nước, vừa phù hợp với xu hướng vận động chung củathế giới; vừa cho phép rút ngắn được thời kỳ công nghiệp hóa, vừa 1 giữđược mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở phân tích các bàihọc kinh nghiệm của các nước, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam và thế
giới,đềtàipháchọamôhìnhcôngnghiệphóacủanướctatrongnhữngthậpniên đầu thế kỷ XXI là: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn theo địnhhướng xã hộichủ nghĩa, gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốctế Để hiện thực hóa mô hình công nghiệp hóa đó, đề tài đưa ra và phân
kỹthuậtdonướcCNHđitrướctạora;nềnkinhtếphảihộinhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thị trường thế giới; có nguồn nhânlựctrình độ cao;vàđặc biệt phảicómột chính phủhiệuquả
Trang 4tíchcácđiềukiệnbêntrongvàbênngoài,trongđóquantrọngnhấtlà:cótiềnđềkinhtế-I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA (CNH) VÀ MÔ HÌNHCÔNGNGHIỆP HÓA
1 Cácquanniệmvềcôngnghiệphóa,bảnchấtvànộidungcủacôngnghiệphóa
Quanniệmvềcôngnghiệphóa
Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịchtừkinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang nền kinh tế lấycôngnghiệp (CN) làm chủ đạo, từ chỗ tỉ trọng lao động nông nghiệp (NN)chiếmđa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỉ trọng lớnhơn
Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tếnôngnghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hộinôngnghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sangvănminhcôngnghiệp
Quan niệm về công nghiệp hóa ở những thời kỳ khác nhau cũng có sựkhácbiệt nhất định Ở Việt Nam, quan niệm chính thống về công nghiệphóa đượcđưa ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Laođộng Việt Nam(1960) nhưng quan niệm này dường như đã đồng nhất côngnghiệp hóa với cách mạng
kỹ thuật Xuất phát từ bối cảnh phát triển mới,những nội dung trong công nghiệp hóa cũng có sựthay đổi, gắn côngnghiệphóa với hiệnđại hóa
Vaitròcủa côngnghiệphóatrongsựpháttriểnkinhtế-xã hộicủa cácnướcđangphát triển
Trangbị,trangbịlạicôngnghệchotấtcảcáchoạtđộngtrongnềnkinhtế
Thúcđẩytăngtrưởngkinhtếvàchuyểndịchcơcấunềnkinhtế,cơcấunộibộcủatừng ngành theo hướnghiệnđại
Tạonhữngchuyển biếncơbảnvềthểchế vàxãhội
Tạothế và lựcđểchủđộnghộinhập vàonềnkinh tếthế giới và thamgia
Trang 5dânvàcơcấu nộitạimỗingành kinhtế.
Thứ ba, công nghiệp hóa cũng là quá trình tạo ra những chuyển biến cơ
Giaiđoạn4:Cóđầyđủnănglựcđổimớivàthiếtkếsảnphẩmvớivaitròđiđầu toàn cầu
Các quanniệmvềmô hìnhcôngnghiệphóa
Mô hình công nghiệp hóa là một tổng thể bao gồm nhiều thành phần, nhiềumốiquan hệ lô-gic (mục tiêu, bước đi, cách thức thực hiện…) được kết hợptrong một cấu trúc nhất định đại diện cho một quá trìnhcông nghiệp hóatrênthựctế
Đặctrưngcủamôhìnhcôngnghiệphóa
Mô hình công nghiệp hóa có tính lịch sử và không có một mô hìnhcôngnghiệphóachungchotấtcả cácnước,chotấtcả cácthờikỳkhácnhau
Trang 6Mô hình công nghiệp hóa có thể điều chỉnh, kiểm soát được Tức là, khiđiềuchỉnh một hay toàn bộ các “thành phần”, các “mối quan hệ” tạo nên “cấutrúc”của mô hình công nghiệp hóa, hay các đầu vào của mô hình thì kếtquảđầurasẽthayđổi theo.
TiêuchíđánhgiácôngnghiệphóacủaH.Chenery–nhàkinhtếhọcngườiMỹ
TiêuchíđánhgiácôngnghiệphóacủaA.Inkeles
Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của các nhà kinh tếtrênthế giới và xuất phát từ thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởViệt Nam với những đặcthù riêng, luận văn đề xuất những ngưỡng số liệucủa một số chỉ tiêu thống
kê kết quả công nghiệp hóa ở Việt Nam được thểhiệnthông qua 3 mụctiêucôngnghiệphóa
Trang 7 CNnhẹCNnặngGTVT,bưuđiệncác ngành dịchvụkhác.
Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn: là quá trình công nghiệp hóa màmộtquốc gia đi sau phát huy vai trò của nhà nước để xây dựng hệ thống thểchếcông nghiệp sao cho có thể thu hẹp được trình độ phát triển so với cácquốcgiađ ã t h ự c h i ệ n c ô n g n g h i ệ p h ó a , p h á t t r i ể n h i ệ n đ ạ i H ạ t n h â
n c ủ a h ệ thống thể chế phát triển công nghiệp rút ngắn quy lại là hệ thống chính sáchcông nghiệp của quốc gia Đâycũng chính là biểu hiện tập trung của việcgiải quyết quan hệ nhà nước - thị trường trongthúc đẩy phát triển côngnghiệp phù hợp với giai đoạn lịch sử nhất định củađất nước Quá trìnhCNH trải qua 3 giai đoạn: xuất khẩu hàng tiêu dùngdựa vào lợi thế so sánhvề lao động và bảo hộ cácngành sảnphẩm CN chết ạ o
n g u y ê n l i ệ u s ả n xuất đầu vào trung gian như CN hoá chất, CNluyện kim; xuất khẩu sảnphẩm của ngành CN nặng (đóng tầu, ôtô, sảnphẩm điện tử) và bảo hộnhững sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao;xuất khẩu những sản phẩmcóhàm lượngvốn và côngnghệ cao
Môhìnhcôngnghiệphóahỗnhợp:làmôhìnhkếthợpgiữaCNHhiệnđ
ại và cổ điển Quá trình CNH trải qua 3 giai đoạn: Xuất khẩu nông sản vàsản phẩm thô, dựa trên côngnghệ sử dụng nhiều lao động, tiết kiệm đấtnông nghiệp và coi NN&CN làhai trụ cột của tăng trưởng; thay thế hàngnhập khẩu; hình thành các ngành
CN xuất khẩu, trước hết là CN nhẹ.Chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệpsang những ngành CN truyền thống từCN nhẹ (tơ sợi), CN dệt may, chếbiến nông sản, sau đó là CN nặng Vốncho CN hóa được lấy chủ yếu từtrong nước và nước ngoài Nhà nước đóngvai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH với việc
“mở đường, dẫn dắtvà tạo động lực cho CNH phát triển, nhập khẩu công nghiệptiên tiến từ bênngoài,xây dựng chính sáchvềgiáodục đào tạo”
Mô hình công nghiệp hóa XHCN: là quá trình CNH ở các nướcXHCN,màđiđầu làLiênbangXô viết.Môhình côngnghiệphóaXHCNtheo
Trang 8phương thức kế hoạch hóa tập trung, ưu tiên phát triển CN nặng ngay từđầu, nhằm đảm bảo phát triển nền kinh tế và quốc phòng Nguồn vốn CNHhoàn toàn dựa vào trong nước, thông qua việc thực hiện chế độ tiết kiệmtrong sản xuất và tiêu dùng, các khoản thu từ kinh tế quốc doanh, xuất khẩuđồ thu ngoại tệ Tính tập trung cao độ của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung là một đòn bẩy mạnh mẽ trong việc huy động và tập trung vốn cho sựpháttriểnđạicôngnghiệpcơkhí.Vaitròcủanhànướcởđâycóýnghĩahết sức đặc biệt, nó không chỉ với chức năng “bà đỡ”, mang tính hỗ trợ chophát triển mà nhà nướcthực sự là chủ thể quyết định thực hiện CNH vàthúcđẩysựpháttriển.Nhànước
vớitưcáchlàngườitậptrungvốntíchlũy,đầu tư và ápđặt mô hình côngnghiệphóa trong thựctiễn
Từ những mô hình công nghiệp hóa đã từng tiến hành có thể rút
ramộtsố đánh giá chungvề cácmôhình côngnghiệphóa
Thứ nhất, mỗi mô hình công nghiệp hóa đều ra đời và tồn tại trong nhữngbối
cảnh kinh tế, chính trị và xã hội nhất định Chính những hoàn cảnhkháchquan ấy đã quy định toàn bộ tiến trình công nghiệp hóa cùngnhữngthànhcôngcũngnhưhạn chếcủachúng
Thứ hai, mỗi mô hình công nghiệp hóa đều có những khía cạnh hợp lý,
nêncáchthứcđểsửdụngđượccácyếutốhợplýcủamỗimôhìnhlàhếtsứccầnthiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa của các nước đi sau.Thứba, dù tiến hành công nghiệp hóa
đềucóthểthựchiệncôngnghiệphóa cóhiệuquảhơncácnướcđitrướcnếubiếtvận dụng vàhọc hỏinhững kinh nghiệmtừ những nướcđi trước
Trang 9II MỘTSỐ K I N H N G H I Ệ M R Ú T RA TỪM Ô H Ì N H C Ô N G NG HIỆPHÓACỦACÁCNƯỚC HÀNQUỐC,SINGAPORE
Hàn Quốc, Singapore và một số quốc gia khác trong khu vực
ĐôngBắc Á và Đông Nam Á là những hình mẫu kinh nghiệm cả về thành côngvà thất bại, trong phát triển công nghiệp hóa để thúc đẩy tăng trưởng nềnkinhtế
1 KinhnghiệmcôngnghiệphóacủaHànQuốc
Hàn Quốc bắt đầu quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế từnhững năm đầu thập kỷ 60 với một nền tảng công nghiệp quy mô nhỏ, trìnhđộ công nghệ và vốn đầu tư còn rất thấp Đầu những năm 1960, Hàn Quốcvẫn là quốc gia phụ thuộc vào viện trợ với thu nhập bình quân đầu ngườidưới 100 đô la Mỹ, thấp hơn
cả một số quốc gia châu Phi (ví dụ Ghana
vàKenya)vàMỹLatinh.CùngvớiĐàiLoan,đếnthờiđiểmnày,HànQuốclà một trong số rất ít quốc gia thành công trong việc phát triển từ một nềnkinh tế nghèo nàn trở thành một quốc gia công nghiệp với trình độ ngangbằngnhững nền kinh tếtiêntiếnnhất củakhối OECD[1]
Trong ba thập kỷ liên tiếp, xuất khẩu của Hàn Quốc tăng trung
bình20% một năm; đến năm 2010 tổng giá trị xuất khẩu chiếm 46% GDP, đạt466,4 tỷ đô la Mỹ, thăng dư cán cân thương mại đạt 41,7 tỷ đô la, là nềnkinh tế đứng thứ 13 thế giới và quốc gia xuất khẩu đứng thứ 7 Một sốngành công nghiệp mũi nhọn của Hàn Quốc đã khẳng định trình độ và quymô phát triển rất cao: công nghiệp đóng tàu (đứng hàng đầu thế giới về sảnlượng); thiết bị bán dẫn DRAM (hàng đầu thế giới về sản lượng); thiết bịđiện tử (đứng thứ 3 thế giới về sản lượng), sản xuất ô tô, thép (đứng thứ 5thế giới về sản lượng) Theo nghiên cứu của GS Siwook Lee (2013),
Đạihọc Myongji, nếu như Đan Mạch, Ireland mất 114 năm, Pháp mất 104 năm,Đức mất 68 năm, Mỹ mất 54 năm để hoàn thành công nghiệp hóa, thì quátrìnhnày
diễnraởHànQuốcchỉ trong vòng19 năm
Trang 10Có rấtnhiều nghiên cứuđãphântíchnhữnglýdolàmnênthànhcông của quátrình công nghiệp hóa tại Hàn Quốc; đa số đều cho rằng, đâylà một quá trình phát triển ngoại sinh với xuất khẩu và thương mại quốc tếhiệu quả đã thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa về tri thức và công nghệ đối với
nềnkinhtế.Tuynhiên,mộtlýdo cănbản củatoànbộquátrình nàyđượccholàvai trò tích cực của chính phủ trong việc hỗ trợ và đẩy nhanh quá trình tíchlũyvốn conngười
Quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc trải qua một số giai đoạnnhư sau: giai đoạn chịu sự chiếm đóng của Nhật Bản (1910-1945) tập trungsản xuất nguyên vật liệu thô xuất khẩu sang Nhật Bản, các ngành côngnghiệp chính đều sở hữu bởi người Nhật; giai đoạn tái thiết (1945-1961)thực hiện chính sách công nghiệp thay thế nhập khẩu trong bối cảnh dựachủ yếu vào nguồn lực viện trợ; giai đoạn phát triển kinh tế (1961-1980)thực
hiệnchínhsáchcôngnghiệphướngvềxuấtkhẩuvớisựhìnhthànhcác tập đoàn công nghiệp nặng và hóa chất trong những năm 70; giai đoạnổn định (1980 đến nay) thực hiện chính sách tự do hóa kinh tế và thúc
đẩykinhtếtrithứcvớitrọngtâmthúcđẩycôngnghệchấtlượngcao,côngnghệthông tin từ những năm90
Chính sách công nghiệp của Hàn Quốc, trên cả hai khía cạnh xâydựng
và thực thi, đều có tính chất tập trung rất cao với vai trò can thiệpmạnh mẽ của khu vực nhà nước Bộ Kế hoạch đầu tư của Hàn Quốc (ECB-Economic Planning Board), khác với nhiều quốc gia trên thế giới, vừahoạch định chính sách vừa kiểm soát ngânsách Giai đoạn đầu công nghiệphóa, khu vực tư nhân được hỗ trợ tối đa về tín dụng và ngoại hối Khác vớitrường hợp Nhật Bản thành lập một số ngân hàng đặc biệt để hỗ trợ
sảnxuất và xuất khẩu, tất cả các ngân hàng ở Hàn Quốc đều là ngân hàng quốcdoanhđến tậnnăm 1983 và những ngânhàngđã cổphần hóa trong những
Trang 11năm 1990 vẫn bị kiểm soát bởi Chính phủ; và vì vậy, tín dụng ưu đãi
theochỉđịnh củaChính phủ rất phổ biến
Các tập đoàn nhà nước lớn được thành lập để đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa Ví dụ điển hình là việc thành lập Công ty thép nhà nướcPohang (Posco) là công ty sản xuất thép lớn thứ 2 trên toàn thế giới Thôngqua Ngân hàng phát triển Hàn Quốc sở hữu bởi nhà nước, Chính phủ cũngquốc hữu hóa hoặc trở thành cổ đông chính nhiều công ty trong các giaiđoạn tái cấu trúc ngành sản xuất để bảo đảm các mục tiêu công nghiệp hóatiếp tục được thực hiện tập trung Trong những lĩnh vực mà khu vực côngkhông có điều kiện thuận lợi để tham gia, Chính phủ thông qua hàng loạtcác chính sách, bao gồm cả hỗ trợ và trừng phạt, thúc đẩy các công ty tưnhân thực hiện các mục tiêu công nghiệp đầy tham vọng Khi Huyndai bắtđầu tham gia vào thị trường đóng tàu toàn cầu, công ty này không có kếhoạch xây dựng một cầu tàu quy mô lớn phục vụ công nghiệp đóng
tàuhiện đại Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra các điều kiện: nếu Huyndai khôngtham gia thì sẽ không được nhận những ưu đãi về tín dụng và ngoại hối;trong trường hợp tham gia
sẽ nhận được bảo hộ của nhà nước và hỗ trợmualại sảnphẩm tronggiai đoạn đầu quá trình sảnxuất
Mặc dù Hàn Quốc cũng hỗ trợ các nhà đầu tư trước những năm 1990của thế kỷ trước, nhưng hỗ trợ có chọn lọc, tập trung vào một số ngành vàvới thời hạn nhất định nhằm phát triển một số ngành sản xuất phục vụ xuấtkhẩu Các ngành được ưu tiên này trở thành đầu tàu của tăng trưởng và kéocác ngành khác phát triển theo Mô hình này không phải là không có vấnđề, tuy nhiên, điểm nổi bật của Hàn Quốc là các ưu đãi đó không trở thànhgánhnặng chongân sáchnhà nước
Cùngvớitốc độtăngtrưởngcủanền kinhtếthìtốcđộ tăngthu nhậpbình quân đầu người cũng rất cao Nhờ đó chỉ trong vòng 5 thập niên, thunhậptínhtheo
đầungườicủaHànQuốctănggần30 lần(GNP[2]tính theo
Trang 12PPP[3]của năm 1965 là 710 USD/người tăng lên đến
gần20.000USD/ngườivào năm 2010)
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc theo hướng hiệnđạihóa cũng đã chứng minh cho sự tăng trưởng thần kỳ của quốc giá ĐôngÁ này: Từ một nước có tỷ trọng nông nghiệp chiếm đến 61% vào năm 1960đã giảm xuống còn 3,6% năm 2009 và tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụtrong thời gian tương ứng lần lượt là 10% lên đến 39,6% và 28% lên đến57% Nếu như năm 1950 chỉ có 21% dân số sống ở thành thị thì đến năm1975, con số này tăng hơn gấp 2 lần, lên tới 48%, và đến năm
2009, lượngdân số sống ở thành thị chiếm hơn 81,5% và Hàn Quốc được đánh giá làmột trong những nước có mức đô thị hóa lớn nhất thế giới (ở Nhật Bản là63%vàTrung Quốc chỉ có39%)
Tỷ lệ dân số thuộc diện nghèo giảm nhanh chóng từ 48,4% năm1965 xuống còn 10,5% năm 1990 và hiện tại không còn dân số sống dướimức 2 USD/ngày Hàn Quốc thành công trong chiến lược giảm nghèo doChính phủ có những chính sách cải thiện mạng lưới an sinh xã hội tốt, cảchính phủ
và người dân đều tập trung cao vào vốn con người, bên cạnh đóchínhsáchkế hoạch hóa giađình phát huy rất hiệuquả
Nhóm chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe và tuổi thọ bình quân được cảithiện
rõ rệt, nguyên nhân là do người dân Hàn Quốc ngày nay được hưởngchế độ chăm sóc sức khỏe ngang với những nước công nghiệp hàng đầukhác như Mỹ, Anh và Đan Mạch… Chẳng hạn năm 1960, khi những nướccông nghiệp phát triển đã đạt tuổi thọ trung bình khoảng 70 thì người HànQuốc chỉ có tuổi thọ chưa đến 54 Đến năm 2009, tuổi thọ của người HànQuốc đã tăng lên 81,8 đối với nữ và 74,6 đối với nam Những chỉ số khácvề sức khỏe cũng cho thấy sự tiến bộ tương tự, ví dụ như tỷ lệ tử vong củatrẻ sơ sinh đã giảm từ 9% trong số các ca sinh thành công năm 1960 xuốngcòn0,5% năm 2009
Trang 13Chính phủ Hàn Quốc rất coi trọng phát triển giáo dục, coi giáo dục làchìa khoá dẫn đến thành công thông qua việc ban hành chính sách giáo dụcmiễn phí và bắt buộc cho tới hết trung học Theo điều tra của OECD năm2007 thì 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường và 97% thanh niên HànQuốchọchếtcấp3vàsauđókhoảng70%họclênđếncáccấphọccaohơn Bên cạnh đó, chính phủ cũng đầu tư cho giáo dục rất lớn, dành 21%ngân sáchnhà nước cho giáo dục, trong khi đó tại Anh là 4% và Mỹ là 2%.Do vậy, nền giáo dục khoa học của Hàn Quốc được OECD đánh giá và xếphạng thứ 3 trong số những nền giáo dục tốt nhất thế giới, xếp thứ hai vềmôntoán và văn học, đứng đầu vềtư duy giải quyết vấn đề.
Nhờtăngtrưởngnhanh màcơhộiviệclàmchongườidâncũngtănglên, biểu thị thông qua tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống từ 5,2% năm 1980xuống 2,05% năm 1996 Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực,do phải cơ cấu lại sản xuất kinh doanh nên tình trạng thất nghiệp tăng lênđến6,95% năm 1998 nhưng đến năm 2008 giảmxuống còn3,2%
Cùng với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp thì chế độ làm việc của
ngườilaođộngcũngđượccảithiệnrõrệtthôngquachếđộtiềnlươngvàgiờlàm.Số giờ làm việc trung bình năm 2005 là 46,9 giờ giảm 2,4 giờ so với năm2000và giảm 12 giờso với năm 1965
Trong gần 50 năm qua, Hàn Quốc đã lựa chọn mô hình kết hợp
giữacông nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong phân phốithu nhập Đặc điểm cơ bản của mô hình này được thể hiện rõ nét qua cácchính sách mà Chính phủ Hàn Quốc thực thi trong các lĩnh vực kinh tế vàxãhội nhằm tạorasự phát
triểnđồng bộ củahai lĩnh vựcnày
Phát triển nhanh chóng và đúng hướng của Hàn Quốc là kết quả
củaviệc kết hợp đặc biệt giữa các nhân tố kinh tế và xã hội: mức độ cao về biếtchữ và sự cần cù của người dân; thực hiện cải cách kinh tế (bao gồm cả cảicáchruộngđấtvàonhữngnăm 1960)nhằmpháttriểncác ngành cầnnhiều