Vỡ trong lúc mang thai thường hiếm gặp và nếu có thường xảy ra trên vết mổ cũ hay trên một tử cung có bất thường bẩm sinh về giải phẫu, đôi khi có thể xảy ra do nhau cài răng lược
Trang 1VỠ TỬ CUNG
Tử cung có thể vỡ lúc mang thai hay vỡ trong chuyển dạ Vỡ trong lúc mang thai thường hiếm gặp và nếu có thường xảy ra trên vết mổ cũ hay trên một tử cung có bất thường bẩm sinh về giải phẫu, đôi khi có thể xảy ra do nhau cài răng
lược hay do chấn thương trực tiếp.
Trang 2I NGUYÊN NHÂN
Vỡ tử cung có thể xảy ra nguyên phát trên một tử cung nguyên vẹn bình
thường, hay nứt vỡ sẹo mổ cũ, thường chia làm hai loại: vỡ tử cung trong thai
kỳ và vỡ tử cung trong chuyển dạ
Trang 31.1 Vỡ tử cung trong thai kỳ
- Trên tử cung có sẹo mổ cũ như sẹo mổ lấy thai
- Trên tử cung dị dạng bẩm sinh: tử cung một hay hai sừng, tử cung đôi
- Do chấn thương mạnh, trực tiếp vào
bụng
- Thủ thuật ngoại xoay thai
- Nhau cài răng lược…
Trang 41.2 Vỡ tử cung trong chuyển da
- Do tắc nghẽn của cuộc chuyển da
-Do sử dụng thuốc tăng co để khởi phát hay thúc đẩy chuyển dạ: oxytocin,
prostaglandin…
- Tử cung căng dãn quá độ như: đa thai,
đa ối, con to…
-Vỡ do chấn thương (hiếm gặp)
Trang 5II PHÂN LOẠI
2.1: Theo giải phẫu
2.2: Theo vị trí
Trang 62.1.1:Vỡ tử cung hoàn toàn
- thường chiếm 80% trường hợp vỡ tử cung nằm ở đoạn dưới trên một tử cung bình thường
không có sẹo mổ cũ, vị trí vỡ là bờ trái, mặt trước đoạn dưới của tử cung, vết rách có thể kéo dài xuống đến cổ tử cung
- Thai và nhau bị đẩy vào trong ổ bụng, thai chết do nhau bong, nước ối vào trong khoang phúc mạc gây viêm phúc mạc…
-Tổn thương này thường xảy ra trong chuyển dạ, sanh thủ thuật khó khăn, bờ rách thường nham nhở, các mạch máu
bị đứt gây xuất huyết nội, hoặc tụ máu dây chằng rộng (khó cầm máu và dễ nhiễm khuẩn).
Trang 72.1.2 Vỡ tử cung không hoàn toàn (vỡ tử
cung dưới phúc mạc)
Là chỉ rách cơ, lớp phúc mạc đoạn dưới còn nguyên vẹn
- Máu chảy từ chỗ vỡ tụ giữa 2 lá phúc
mạc của dây chằng rộng, gây khối máu
tụ lan xuống đến tiểu khung
Trang 82.1.3 Vỡ tử cung do nứt vết mổ cũ
- Trong nứt, vỡ những sẹo mổ cũ, tổn
thương thường nằm trên đoạn dưới tử cung
- Vết sẹo ở thân hay ở đoạn dưới, toác dọc theo chiều dài sẹo, thường gọn,
không nham nhở chảy máu ít, ít bị rách màng bào thai, trừ những trường hợp
vỡ quá nặng
Trang 9.2.1.4 Vỡ phức tạp
- Vỡ có kèm theo tổn thương trực tràng,
bàng quang…
- Vỡ không trên sẹo mổ cũ thường gặp ở
mặt trước đoạn dưới của tử cung nhất, theo sau là rách thành bên tử cung,
vách trực tràng âm đạo hay thành sau
- Trong 3-4% trường hợp bàng quang có
thể cũng bị chấn thương hay rách vỡ
Trang 102.2 : Theo vị trí
Vỡ tử cung ở đoạn dưới : tổn thương
thường ở bên góc eo tử cung và thường ớ bên phải
Vỡ tử cung ở bên thân tử cung : thường gặp ở mlt ở đoạn thân hay sẹo bóc nhân
xơ tử cung
Vỡ tử cung ở đáy thân tử cung
Rách CTC kéo dài đến đoạn dưới hay eo
tử cung
Trang 11III TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
3.1 Triệu chứng của nứt vết mổ cũ
- Thường âm thầm, sản phụ kêu đau
vùng tử cung có sẹo mổ cũ, đau liên tục ngoài cơn gò đôi khi chỉ phát hiện sau khi kiểm tra tử cung sau sanh,sau thủ thuật
- Nếu để lâu sẽ có ảnh hưởng đến dấu hiệu sinh tồn, gây choáng
Trang 12 3.2 :Vỡ trên tử cung không có sẹo mổ cũ
Triệu chứng dọa vỡ tử cung
- Cơn co tử cung dồn dập, sản phụ đau bụng nhiều, vật vã
- Đoạn dưới kéo dài, tử cung căng dãn phân thành hai khối, thắt eo ở giữa như quả bầu (dấu hiệu vòng Bandl)
- Vòng Bandl càng ngày càng đẩy đoạn thân lên cao, làm
hai dây chằng tròn bị kéo dài, căng cứng lên như sợi dây đàn (dấu hiệu Frommel) sờ được qua thành bụng.
- Tim thai thường có biểu hiện suy.
- Khám âm đạo thường thấy nguyên nhân đẻ khó tồn tại
như khung chậu giới hạn, ngôi thai cao, có dấu chồng sọ, đầu có bướu huyết thanh hoặc ngôi bất thường
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG (TT)
Trang 133.2.1 Triệu chứng của vỡ tử
cung
- Đang đau dữ dội, sản phụ đột nhiên thấy nhói lên rồi sau đó đau giảm dần, xuất hiện các dấu hiệu của
choáng mất máu: mạch nhanh, huyết áp tụt, tay chân lạnh …
- Khám: ấn đau khắp bụng, có phản ứng thành bụng, mất bờ cong ranh giới của tử cung.Thai thoát ra ngoài ổ bụng có thể sờ thấy phần thai lổn nhổn ngay sát thành bụng
Khám âm đạo thấy ngôi thai bị đẩy lên cao, máu đỏ
loãng chảy ra từ lòng tử cung
- Tim thai thường mất.
Trang 14IV CHẨN ĐOÁN
dạ ngưng tiến triển, sau đó xuất hiện triệu chứng dọa
vỡ, mất bờ cong ranh giới của tử cung, phần thai sờ
được nông, tim thai mất Sản phụ trụy mạch dần.
sanh khó
chẩn đoán dễ bị trì hoãn đưa đến
tình trạng nguy kịch cho bệnh nhân.
Trang 15V CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
- Nhau bong non: Cơn gò cường tính
hoặc tử cung co cứng như gỗ Máu chảy
ra ngoài là máu đỏ sậm, không đông
.Mất tim thai
- Nhau tiền đạo
Trang 16V Xử trí
Hồi sức chống choáng và Mố lấy thai
cấp cứu
Nếu trang thiết bị thiếu thốn thì chuyến tuyến Hay vượt khả năng chuyên môn mời hổ trợ hay chuyển cấp cứu sau hồi sức tạm ổn
Xử trí vết rách , vỡ tử cung tùy thuộc vào :
-Tổn thương đơn giản hay phức tạp
-Nguy cơ nhiễm trùng
-Tùy tình trạng và para có thể bảo tồn hay cắt tử cung hoàn toàn
Trang 17VI Dự Phòng
Trong chuyển dạ
- Theo dõi sát diễn tiến của chuyển dạ, theo
dõi việc thực hiện các nghiệm pháp sanh chặt chẽ, phát hiện những cản trở của cuộc chuyển
dạ để có chỉ định mổ lấy thai kịp thời.
- Tránh sử dụng các thuốc tăng co không cần thiết.
- Thực hiện các thủ thuật sanh: đúng chỉ định,
đủ điều kiện, đúng kỹ thuật và cần kiểm tra cẩn thận sau thủ thuật.
Trang 18VI Dự Phòng
Trong thai kỳ: Quản lý thai nghén tốt, phát
hiện các thai kỳ có nguy cơ như sẹo mổ cũ,
khung chậu giới hạn, con to, đa thai, đa ối, u tiền đạo…Nên khám thai và sanh ở những cơ sở có phòng phẫu thuật,tốt nhất nhập viện trước 1
tuần trước ngày dự sanh đối với những thai kì có nguy cơ
Trong giáo dục sức khỏe: tuyên truyền vận
động, hướng dẫn các phương pháp sinh đẻ kế
hoạch, tránh để sanh nhiều lần là một trong
những nguy cơ gây vỡ tử cung
Trang 19TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bài giảng Sản phụ khoa, tập 1, Nhà xuất bản
Y Học, 2006.
2 Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản, 2009.
3 Current Clinical Strategies Gynecology and Obstetric, 2006.
4 Current Diagnostic and Treatment in
Obstetrics and Gynaecology, 2007.
5 Danforth’s Obstetric s and Gynecology, 10 edition, 2008
6 F Grary Cunningham, Kenneth J Levono,
Williams Obstetrics, 22 edition