1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt tiếng anh: Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.

28 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 290,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.Ảnh hưởng của một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư.

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

-NGUYỄN HỮU THỌ

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TÍNH CÁCH ĐẾN DỰ ĐỊNH ĐẦU

TƯ CỔ PHIẾU CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA NHẬN THỨC RỦI RO, NHẬN THỨC KHÔNG CHẮC CHẮN VÀ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ

Chuyên Ngành: Quản trị Kinh doanhMã số: 9340101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2022

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hà Minh Quân

TS Ngô Quang Huân

Phản biện 1:

………

………

………Phản biện 2:

………

………

………Phản biện 3:

Vào lúc …… giờ ……… tháng ……… năm 2022

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM

………

………

Trang 3

CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

01

“Các đặc trưng tính cách cá

nhân ảnh hưởng tới ý định đầu tư

chứng khoán thông qua nhận thức

rủi ro, nhận thức sự không chắc

chắn và đánh giá kết quả đầu tư”

Nguyễn Hữu Thọ, Trần Hà

Minh Quân, Tăng Vũ Hùng

2020 Tạp chí

02

“Tác động của nhận thức rủi ro,

nhận thức sự không chắc chắn đến

kết quả đầu tư và dự định đầu tư trên

thị trường chứng khoán Việt Nam”

Nguyễn Hữu Thọ, Trần Hà

Minh Quân

2020 Tạp chí

03

The Impacts of the Big Five

Traits on the Intention of Stock

Uncertainty, and Investment

Performance Perception

Nguyễn Hữu Thọ, Trần Hà

Minh Quân

2020 Tạp chí

Trang 4

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu

1.1.1 Thực trạng đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư (NĐT) cá nhân.

Nhà đầu tư cá nhân đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của TTCK Việt Nam Số tài khoản được mở đến cuối năm 2020 là 2.756.221 so với tổng tài khoản gồm cá nhân và tổ chức là 2,771,409chiếm 99,5% Tuy nhiên, NĐT cá nhân cũng trải qua nhiều thăng trầm khi tham gia giao dịch cổ phiếu Cụ thể, khi thế giới đối diện với sự khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007, chỉ số VN-INDEX năm 2007 tăng đột biến, TTCK Việt Nam trở thành thị trường

“nóng” nhất Theo Tạp chí TTCK (cafef.vn, 2007), NĐT cá nhân đã không ngần ngại sử dụng đòn bẩy “rất lớn” với tỷ lệ 1:3 (cứ 1 đồng vốn, được vay thêm 3 đồng) để mua cổ phiếu Hậu quả sau đó, giá cổphiếu lao dốc trong năm 2009- 2010, hàng loạt NĐT lâm vào cảnh

“nợ nần chồng chất”, không còn tiền để trả ngân hàng do dùng đòn bẩy, dẫn đến phá sản

Gần đây nhất, năm 2020, theo Tạp chí Kinh tế Việt nam (VnEconomy), khi thị trường chứng khoán khởi sắc, chỉ số

VNINDEX đạt 915 điểm (01/10/2020) lên đến 1.015 điểm

(31/12/2020), nhiều nhà đầu tư xem đây là cơ hội để đạt lợi nhuận cao hơn so với gửi tiết kiệm ngân hàng; do đó, họ đã rút tiền gửi ngân hàng để mua cổ phiếu Tuy nhiên, chỉ sau vài phiên giao, chỉ sốVNINDEX đã giảm 90 điểm, từ 1.125 điểm (19/01/2021) xuống 1.035 điểm (28/01/2021), các nhà đầu tư đối mặt với những khoản lỗrất lớn Quan trọng hơn, khi thị trường lao dốc liên tục, cộng với dịch bệnh COVID-19 bùng phát lần 3 (tháng 01/2021), nhiều NĐT đã bán cổ phiếu bằng mọi giá, chấp nhận bán giá thấp nhằm cắt lỗ,

để thu lại số tiền đầu tư với mong muốn: lấy lại những gì có thể lấy

Trang 5

lại được Sự tổn thất lớn có thể gây cho NĐT chán nản, không còn mong muốn đầu tư và có thể chuyển đổi xu hướng đầu tư sang các kênh khác như tiết kiệm ngân hàng, vàng, ngoại tệ Do vậy cần có nhiều giải pháp để giúp NĐT giảm bớt lo ngại, xem kênh đầu tư tài chính là một phần tiết kiệm tích lũy, lâu dài, có cái nhìn tích cực hơn

về sự phát triển của TTCK Việt Nam, và tiếp tục tham gia đầu tư trên thị trường

1.1.2 Khoảng trống lý thuyết qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam.

Nhiều nghiên cứu.trước đây đã tìm thấy vai.trò của tính cáchtrong các quyết định đầu tư và khẳng định rằng, việc hiểu rõ tínhcách sẽ giúp cho NĐT thận trọng hơn trong các quyết định, mang lạihiệu quả trong đầu tư, và là động lực cho NĐT tiếp tục đầu tư trênTTCK (Aren và cộng sự, 2021; Aren & Hamamcı, 2020; Akhtar &Batool, 2012; Mayfield và cộng sự, 2008; Nandan & Saurabh, 2016)

Năm tính cách (Big Five) được tìm thấy có ảnh.hưởng trựctiếp.đến dự.định đầu tư như: tính cởi mở (Aren & Hamamcı, 2020;Akhtar & Batool, 2012); tính tận tâm (Aren và cộng sự, 2021;Akhtar & Batool, 2012; Nandan & Saurabh, 2016); tính hướng ngoại(Nandan & Saurabh, 2016; Mayfield và cộng sự, 2008); tính dễ chịu(Aren và cộng sự, 2021; Nandan & Saurabh, 2016); và tính nhạycảm (Aren và cộng sự, 2021; Aren & Hamamcı, 2020; Nandan &Saurabh, 2016; Mayfield và.cộng sự, 2008)

Tuy.nhiên, hầu như các nghiên.cứu trước chỉ tìm thấy mộthoặc hai trong năm.tính cách có ảnh hưởng trực tiếp đến dự định.đầu

tư (Aren & Hamamcı, 2020; Akhtar & Batool, 2012; Mayfield vàcộng.sự, 2008) Đặc biệt, Mayfield và cộng.sự (2008) chỉ tìm thấyduy nhất tính cởi mở tác động trực tiếp đến dự định đầu tư dài hạn

Trang 6

Điều này có thể dẫn đến một lập luận rằng: bản chất của tính cáchkhông thể giải thích một cách đầy đủ việc ra quyết định Thay vào

đó, cần phải trải qua nhận.thức rủi.ro, không chắc.chắn và kết quảđầu.tư đạt được từ thực tế trước khi hình thành quyết.định đầu tư(Nandan và Saurabh, 2016; Trang & Khuong, 2017; Trang & Tho,2017)

Nhận thức rủi ro là yếu tố cốt lõi để giải thích kết quả đầu tư(Hoffmann và cộng.sự, 2015; Lim và cộng.sự, 2016; Trang &Khuong, 2017; Trang & Tho, 2017) Mối quan hệ giữa rủi ro và lợinhuận mong đợi đã được tìm thấy rất rõ trong lý thuyết tài chínhtruyền thống và hiện đại (tài chính hành vi) Lý thuyết tài chínhtruyền thống – như Mô hình.định giá tài.sản vốn – CAPM thể hiệnmối.quan hệ cùng.chiều giữa rủi.ro và lợi nhuận: rủi.ro càng cao.thìlợi.nhuận mong đợi càng cao Một số nghiên cứu về hành vi tài chínhcũng tìm thấy mối.quan hệ cùng chiều giữa nhận thức rủi.ro vàlợi.nhuận (Hoffmann và cộng sự, 2015; Lim và cộng sự, 2016; Trang

& Khuong, 2017; Trang & Tho, 2017)

Nhận thức rủi ro cũng được tìm thấy là yếu tố trung gian,giải thích sự ảnh.hưởng của tính cách đến kết.quả đầu tư vàquyết.định đầu.tư (Trang & Khuong, 2017; Trang & Tho, 2017) Cónghĩa rằng, tính cách ảnh hưởng đến nhận.thức rủi.ro, và sau đó sựảnh.hưởng này sẽ tác động đến kết quả.đầu tư và quyết định đầu.tư.Tuy nhiên, vai trò trung gian của nhận thức.rủi ro (không chắc.chắn),và kết.quả đầu.tư rất ít nghiên cứu kiểm tra một cách rõ ràng Do đónghiên cứu mong đợi có điểm mới về.mặt lý.thuyết và.thực tiễn

Từ thực tế, một số NĐT có hiệu quả thì mong muốn tiếp tụcđầu tư và cũng không ít NĐT chưa khả quan khi đầu tư chứng khoánthì họ muốn rời bỏ thị trường, do vậy nghiên cứu đề xuất các.yếu

Trang 7

tố.tác động đến dự định tiếp tục đầu tư chứng khoán (cổ phiếu) củaNĐT cá nhân bằng sự kết hợp với ba lý thuyết nền tảng: (i) Lý thuyết

về tính cách (trait theory), (ii) Lý thuyết.tài chính: bao gồm tài.chính

cổ điển (traditional finance theory) với tài chính hiện đại – tài chínhhành vi (behavioral finance), và (iii) Lý thuyết về dự định hành vi(theory of planned behavior – TPB)

Lý thuyết về tính cách (Trait Theory)

Lý thuyết về tính cách liên quan đến tính cách con người.Allport (1961) đã phát triển 4.500 tính từ chỉ về tính cách và phânloại chúng theo ba cấp: chủ yếu (đam mê/ám ảnh), trung tâm (trungthực) và thứ cấp (thích/không thích) Tính cách khác với cảm xúc:tính cách tương đối ổn định theo thời gian, trong khi cảm xúc thayđổi theo thời gian và chỉ xảy ra tại một thời điểm ngắn (Ekkekakis,2013) Nghiên cứu kiểm tra và phân loại tính cách của NĐT theonăm tính cách của các tác giả Costa & McCrae (1985); McCrae &Costa Jr (1997) và McCrae & John (1992), với tên gọi “Big Five”,bao gồm tính cởi.mở - sẵn.sàng trải.nghiệm (Openness), tính tận.tâm(Conscientiousness), tính hướng.ngoại (Extraversion), tính.dễ chịu(Agreeableness) và tính nhạy cảm (Neuroticism) Big Five trở thànhcông cụ đánh giá tính cách được sử dụng rộng rãi nhất (Matthews,Deary & Whiteman, 2003)

Tuy nhiên, tác giả quan tâm đến tính cách có thể giảithích.trực tiếp đến các quyết định dự định tiếp tục đầu tư thì chưa đủ

vì NĐT có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố môi trường nhưnhận.thức rủi.ro, nhận thức.sự không chắc.chắn và kết.quả đầu.tư ởquá khứ (Nofsinger, 2008) Cụ thể, NĐT có thể thích mạo hiểm hơn(thích đầu.tư các cổ.phiếu biến động, rủi.ro cao) sau khi có lợinhuận, nhưng lại rất ngại mạo hiểm sau khi lỗ (Nofsinger, 2008) Do

Trang 8

đó, tác giả sẽ kiểm tra tính cách NĐT có liên quan đến yếu tố môitrường trong lý thuyết tài chính.

Lý thuyết tài chính: cổ điển và hiện đại

Lý thuyết tài chính cổ điển giả định rằng NĐT lo ngại rủi ro,nhưng khi rủi ro cao thì lợi nhuận cao Tức là mối quan hệ giữa rủi

ro và lợi nhuận là mối quan hệ cùng chiều (ví dụ, Mô hình.định giátài.sản vốn - CAPM) Quan điểm này được tranh luận nhiều từ cácnhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết tài chính hiện đại – tài chính hành

vi Các tác.giả cho rằng, mối quan hệ giữa rủi.ro và lợi nhuận khôngphải lúc nào.cũng cùng.chiều (Kahneman & Tversky, 1979;Ricciardi, 2008; Simon, 1955; Tversky & Kahneman, 1975), thayvào đó, chúng có.thể cùng chiều.hoặc ngược.chiều tùy vào quanđiểm của NĐT Trong thực tế, NĐT mong muốn đạt lợi nhuận caonhưng lại chọn đầu tư vào các cổ phiếu ổn định, bền vững, ít biếnđộng thị giá Nghiên cứu cùng quan điểm với giả định của lý thuyếttài chính cổ điển và một phần quan điểm của tài chính hành vi vềmối.quan hệ cùng chiều.giữa rủi.ro và lợi.nhuận: rủi ro được nhậnthức càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng cao, và nhận thức này cóthể làm NĐT cảm thấy hứng khởi để tiếp tục đầu tư trong thời giantới Sự lập luận này liên quan đến lý thuyết dự định hành vi

Trang 9

Cho đến nay, dường như ít có nghiên cứu thực nghiệm nào kết hợp ba lý thuyết: tính cách, tài chính và dự định hành vi về đầu

tư chứng khoán của các NĐT.cá nhân trên TTCK.Việt Nam Do đó, tác.giả thực hiện.nghiên cứu luận án với tên đề tài: “Ảnh hưởng của

một số tính cách đến dự định đầu tư cổ phiếu trong tương lai của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam: nghiên cứu vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, nhận thức không chắc chắn và kết quả đầu tư” được đặt ra để nghiên.cứu Khung nghiên cứu tổng quát

(Nguồn: đề xuất của tác giả)

Hình 1.1 Khung nghiên cứu tổng quát

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đo lường mức độ tác động của các tính cách cá nhân đến dự định đầu tư thông qua nhận thức rủi ro, sự không chắn chắn và kết quả đầu tư

- Xác định và đo lường các tính cách cá nhân ảnh hưởng đến nhận thức rủi ro và sự không chắc chắn

- Đo lường mức độ tác động của nhận thức rủi ro và sự không chắc chắn đến kết quả đầu tư

- Đo lường mức độ tác động của kết quả đầu tư đến dự định đầu tư

cổ phiếu

- Hàm ý chính sách và quản trị đến Ủy ban chứng khoán nhà nước,

Sở giao dịch, các nhà đầu tư cá nhân và Công ty chứng khoán

Kết quả đầu tư

Đặc điểm

tính cách

Dự định đầu tư

- Nhận thứcrủi ro

- Nhận thứckhông chắc chắn

Trang 10

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Các tính cách cá nhân có ảnh hưởng hay không đến nhận thức rủi

ro, sự không chắc chắn và dự định đầu tư?

2) Nhận thức rủi ro và sự không chắc chắn có ảnh hưởng như thế nàođến kết quả đầu tư?

3) Kết quả đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến dự định đầu tư tương lai?

4) Có những hàm ý chính sách và quản trị nào giúp Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân và Công ty chứng khoán?

1.4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu.tập trung vào thị

trường.chứng khoán Việt Nam với các nhà đầu.tư cá nhân tham gia giao dịch cổ phiếu, mẫu điều tra và thu thập số liệu tại những địa điểm: Thành phố.Hồ Chí Minh, Hà.Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương

pháp định tính và định lượng (i) Phương pháp định tính: Nghiên

cứu thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia tài chính có mười năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán Phương pháp định tính giúp phát triển thang đo nhận thức rủi ro và sự không chắc chắn gần với thực tế đang diễn ra trên TTCK Việt Nam và bổ sung, điều chỉnh các câu hỏi trong các thang đo đặc điểm tính cách, kết quả đầu tư và dự định đầu tư trước khi thực hiện nghiên cứu định

lượng (sơ bộ và chính thức) (ii) Phương pháp định lượng: Nghiên

cứu thực hiện khảo sát sơ bộ với 265 bảng khảo sát hợp lệ và thực hiện nghiên cứu chính thức với 465 bảng câu hỏi hợp lệ của nhà đầu

tư cá nhân tham gia giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 11

1.5 Điểm mới của luận án đến lý thuyết và thực tế

Đóng góp về lý thuyết: (i) Nghiên cứu tổng.hợp tương đối

đầy.đủ và có hệ thống các.lý thuyết nền tảng: tính cách, tài chính, và

dự định hành vi Quan trọng hơn, lý thuyết tài chính là trung gian kếtnối lý thuyết tính cách và lý thuyết dự định hành vi Các lý.thuyếtđược trình bày có giá trị tham.khảo cho các nghiên cứu trong lĩnhvực.liên.quan (ii) Nghiên cứu phát triển thang đo nhận thức.rủi ro,nhận.thức không.chắc chắn về việc đầu tư.các loại cổ phiếu đanggiao dịch trên TTCK Việt Nam Đặc biệt, nghiên cứu đề cập sự khácnhau giữa.nhận thức rủi ro.và nhận thức.không chắc chắn, và kiểmtra sự khác biệt này thông qua mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đem lại ý

nghĩa thực tiễn cho các Sở giao dịch, Ủy ban chứng khoán nhà nước nên xây dựng và điều chỉnh bổ sung các chính sách, luật chứng khoán rõ ràng, đặc biệt là đối với các cổ phiếu bị cảnh báo, kiểm soát, hạn chế hay đang tạm dừng giao dịch, và xử lý nghiêm các Công ty cổ phần đại chúng niêm yết khi đưa ra các thông tin thiếu hoặc chưa chính xác Ngoài.ra, nghiên cứu.giúp các nhà đầu tư.cá nhân hiểu rõ hơn tính cách của mình, hiểu rõ tầm quan trọng

của.nhận thức rủi ro,.không.chắc chắn.và sự hài lòng về.kết quả đầu tư.trong việc quyết định tiếp tục đầu tư cổ phiếu trong tương lai Các công ty.chứng khoán, các nhà.môi giới chứng khoán hiểu rõ.hơn mốiquan hệ.giữa tính cách.và dự định đầu.tư của khách hàng để có thể tưvấn hiệu quả hơn cho.nhà đầu tư cá.nhân

1.6 Cấu trúc của nghiên cứu

Nghiên cứu gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách quản trị

Trang 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết tính cách

Lý thuyết về tính cách tiếp cận nghiên cứu về tính cách con người, các nhà nghiên cứu định nghĩa đặc điểm tính cách là sự tổng hợp các thói quen của hành vi, suy nghĩ và cảm xúc (Gordon Allport,1952) Tính cách và cảm xúc khác nhau: tính cách tương đối ổn định trong khoảng thời gian dài, trong khi cảm xúc thay đổi theo từng thờiđiểm (Ekkekakis, 2013) Gordon Allport (1952), một trong những nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu về tính cách bao gồm 4.500 tính

từ mô tả tính cách và phân thành ba cấp: chủ yếu (đam mê/ám ảnh), trung tâm (trung thực) và thứ cấp (thích/không thích) Sau đó, Cattellvà cộng sự (1970) thu gọn hơn với mười sáu tính cách (16PF), đã trởthành thang đo được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, 16PF cũng có những hạn chế về tính nhất quán (Matthews và cộng sự, 2003) Năm

1997, tác giả Eysenck (1997) giới thiệu mô hình gồm ba tính cách chính: dễ chịu, hướng ngoại và nhạy cảm Dựa trên ba tính cách chính này, McCrae & Costa Jr (1997) đã phát triển năm tính cách gồm: tính cởi mở - sẵn sàng trải nghiệm, tận tâm, hướng ngoại, dễ chịu và nhạy cảm Dựa vào lý thuyết tính cách, nghiên cứu kiểm tra năm tính cách của nhà đầu tư

2.2 Lý thuyết tài chính

Lý thuyết tài chính bao gồm lý thuyết truyền thống và hiện đại (tài chính hành vi) Lý thuyết truyền thống như lý thuyết về danh mục đầu tư hiện đại (MPT) và mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) đều giả định về mối quan hệ thuận chiều giữa rủi ro và lợi nhuận mong đợi: rủi ro càng cao, lợi nhuận mong đợi càng cao Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về hành vi tranh luận rằng, mối quan hệ rủi ro – lợi nhuận có thể cùng chiều hoặc ngược chiều, bởi vì rủi ro được

Trang 13

nhận thức và lợi nhuận mong đợi dựa vào quan điểm của nhà đầu tư (Kahneman & Tversky 1979; Statman, 2005; Ackert, 2014; Baker & Ricciardi 2014) Nhà đầu tư không phải lúc nào cũng đưa ra quyết định hợp lý để đạt được lợi nhuận tối ưu (Statman, 2005) Thay vào

đó, họ có thể bán cổ phiếu để tránh thua lỗ (Kahneman & Tversky 1979; Ackert, 2014; Baker & Ricciardi 2014) Nghiên cứu dựa vào

lý thuyết tài chính (truyền thống và hành vi) để kiểm tra mối quan hệgiữa nhận thứ rủi ro (không chắc chắn) và lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư

Knight (1921) phân biệt sự khác nhau giữa rủi ro và không chắc chắn như sau: cả hai đều có nghĩa là rủi ro, nhưng chỉ khác về xác suất biết hay không biết về khả năng thành công khi quyết định đầu

tư cổ phiếu Do đó, nhận thức rủi ro về đầu tư cổ phiếu là mức độ rủi

ro mà nhà đầu tư cảm nhận khi biết xác suất thành công Nhận thức không chắc chắn về đầu tư cổ phiếu là mức độ không chắc chắn mà nhà đầu tư cảm nhận khi không biết xác suất thành công Dựa vào sựphân biệt trên, nghiên cứu kiểm tra mức độ rủi ro và không chắc chắn của nhà đầu tư khi đầu tư cổ phiếu

2.3 Lý thuyết dự định hành vi (TPB)

Lý thuyết dự định hành vi (TPB) được phát triển từ lý thuyếthành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) bởi các tác giả (Fishbein, 1967; Ajzen & Fishbein, 1975) Theo TRA, thái độ hướng đến hành vi và chuẩn mực chủ quan là hai yếu tố chính để giải thích dự định hành vi Sau đó, Ajzen (1991) bổ sung thêm yếu tố

“kiểm soát hành vi được nhận thức” nhằm phản ánh việc thực hiện hành vi đó dễ dàng hay khó khăn Nghiên cứu sử dụng lý thuyết dự định hành vi để xác định hành vi dự định đầu tư cổ phiếu của nhà

Trang 14

đầu tư Bởi vì dự định càng cao, khả năng đầu tư cổ phiếu thực sự càng cao (Ajzen, 1991).

2.4 Lược khảo nghiên cứu và đề nghị các giả thuyết

2.4.1 Ảnh hưởng trực tiếp

Tính cởi mở: Người cởi mở thường có trí tưởng tượng cao, đổi

mới và có xu hướng sử dụng thông tin trong các quyết định của họ (McCrae & Costa, 1997; Mayfield và cộng sự, 2008; Pinjisakikool, 2018) Các nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ giữa tính cởi mở và dự định đầu tư là cùng chiều (Akhtar & Batool, 2012; Nandan & Saurabh, 2016; Aren & Hamamcı, 2020); ngược chiều (Mayfield và cộng sự, 2008; Nandan & Saurabh, 2016); và không ảnh hưởng (Mayfield và cộng sự, 2008; Aren và cộng sự, 2021) Nghiên cứu đề nghị giả thuyết H1.1 như sau:

H1.1: Tính cởi mở có ảnh hưởng cùng chiều với dự định đầu tư.

Tính tận tâm: Người có tính tận tâm thường có ý chí mạnh mẽ,

mục tiêu và định hướng thành công (McCrae & Costa, 1997;

Pinjisakikool, 2018) Các nghiên cứu hầu hết đều tìm thấy mối quan

hệ thuận chiều giữa tính tận tâm và dự định đầu tư (Nandan & Saurabh, 2016; Aren và cộng sự, 2021), và một số khác không tìm thấy sự ảnh hưởng (Mayfield và cộng sự, 2008; Nandan & Saurabh, 2016; Aren & Hamamcı, 2020) Từ đó, giả thuyết H1.2 được đề nghịnhư sau:

H1.2: Tính tận tâm có ảnh hưởng cùng chiều với dự định đầu tư.

Tính hướng ngoại: Người có tính cách hướng ngoại thường

luôn suy nghĩ tích cực (Peterson, 2007; Davidson and Begley, 2012),thích rủi ro và không ngại về thua lỗ (Benischke và cộng sự, 2019) Một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ giữa tính hướng ngoại và

Ngày đăng: 11/03/2022, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w