Để phân tích và đánh giá kĩ hơn về ngành tân dược Việt Nam nói chung và cường độ cạnh tranh của ngành tân dược Việt Nam nói riêng, chúng em nghiên cứu về đề tài: “Vận dụng mô hình các lự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Đề tài: Vận dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh
của M.Porter phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Vân Lớp học phần : 2171SMGM0111 Nhóm : 02
Hà Nội, 2021
Trang 2DANH SÁCH NHÓM VÀ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
ST
T
nhóm trưởng
Phần III
Lời mở đầu, Phần I
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM 2
Trang 31 Giới thiệu về ngành tân dược: 2
2 Ngành tân dược Việt Nam 2
a) Tình hình ngành tân dược Việt Nam 2
b) Chính sách quản lý ngành dược của Việt Nam 4
PHẦN II: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM 5
1 Đe dọa gia nhập mới 5
2 Đe dọa từ các sản phẩm/dịch vụ thay thế 6
3 Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng và khách hàng 7
a) Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng 7
b) Quyền lực thương lượng của khách hàng 8
4 Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại 9
5 Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác 10
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì kinh tế đang hội nhập và phát triển thì cạnh tranh là yếu tố quan trọng để quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp, nó còn là động lực giúp doanh nghiệp đó phát triển Vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình là việc
mà các doanh nghiệp phải luôn phấn đấu để đạt được Bên cạnh việc mở rộng tầm nhìn ra ngoài để phát hiện các mỗi đe dọa và tìm kiếm cơ hội, các nhà quản trị chiến lược còn phải phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh của ngành mà doanh nghiệp mình thuộc
về Thông thường, để đánh giá được cường độ cạnh tranh trong ngành thì các nhà quản trị chiến lược cần vận dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của Michael Porter Việt Nam được thừa hưởng một nền đông dược có lịch sử hàng ngàn năm, nhưng mãi đến ngày nay ngành dược trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu thị trường Và đặc biệt với tình hình dịch bệnh Covid-19 vô cùng phức tạp như hiện nay, đặt con người trước sự đe dọa từng ngày từng giờ Và để đối phó với nó, các nhà y học, dược học đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra Vaccine và những loại thuốc để điều trị Covid-19 Các quốc gia cũng vì thế mà xích lại gần nhau hơn, tăng cường giao lưu, chia
sẻ học hỏi, một mặt đẩy mạnh các hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu, mặt khác đẩy mạnh ngành công nghiệp dược nội địa để phát triển nhanh hơn Để phân tích và đánh giá
kĩ hơn về ngành tân dược Việt Nam nói chung và cường độ cạnh tranh của ngành tân dược Việt Nam nói riêng, chúng em nghiên cứu về đề tài: “Vận dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam” để có thể biết được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm nắm bắt được điểm mạnh giúp doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược phát triển phù hợp với khả năng, tình hình hiện tại từng doanh nghiệp
Trang 5PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM
1 Giới thiệu về ngành tân dược:
Ngành tân dược hay còn được gọi là ngành công nghiệp dược, là ngành bao gồm các công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thị Marketing các loại thuốc hoặc loại sản phẩm được cấp phép sử dụng như thuốc để phòng và trị bệnh cho con người, kiểm nghiệm thuốc để đảm bảo chất lượng dược phẩm khi phân phối ra thị trường, quản lý dược Sản phẩm thuốc phần lớn của ngành là các loại thuốc Đông dược (các loại thuốc được sản xuất từ cây cỏ thực vật) và Tây dược (các loại thuốc được sản xuất từ hóa chất và một số loại vi nấm)
2 Ngành tân dược Việt Nam
a) Tình hình ngành tân dược Việt Nam
Số liệu thống kê của Cục Quản lý Dược (tính đến ngày 16/05/2019), Việt Nam có khoảng 180 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và 224 cơ sở sản xuất nhà máy trong nước đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành tốt sản xuất thuốc) Các công ty dược trong nước chủ yếu sản xuất dạng bào chế đơn giản, thực phẩm chức năng, và các loại thuốc generic (dược phẩm hết thời hạn bảo hộ độc quyền)
Bên cạnh khối nội, nhóm doanh nghiệp vốn nước ngoài cũng đã và đang mang lại làn gió mới cho ngành sản xuất dược trong nước Tiêu biểu như Sanofi Aventis hay United Pharma, đều là những công ty đã đầu tư nhà máy sản xuất thuốc hiện đại tại Việt Nam
Với tiềm năng tăng trưởng hai con số của ngành dược phẩm thì nó đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước, hoạt động ngoài ngành như Thế giới di động, FPT Retail, Nguyễn Kim… tham gia vào ngành trong lĩnh vực phân phối Việc xây dựng chuỗi bán nhà thuốc GPP – Good Pharmacy Practice” Dịch đầy đủ theo nghĩa Tiếng Việt là “Thực hành tốt nhà thuốc” sẽ là xu hướng của tương lai, bởi mức sống của người dân ngày càng tăng sẽ dẫn đến thay đổi trong thói quen tiêu dùng một số bộ phận khách hàng, họ sẽ tìm đến những địa chỉ nhà thuốc đáng tin cậy, đáp ứng tiêu chuẩn để nghe tư vấn và mua thuốc
Chính tiềm năng phát triển cùng tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong những năm gần đây của ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất cả trong lẫn ngoài nước Xu hướng M&A giữa các DN dược trong nước và các DN nước ngoài diễn ra mạnh mẽ cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn phân phối
Trang 6Ngành Dược tại Việt Nam đang có những bước tiến nhanh chóng
Theo thống kê mới nhất cho thấy chi tiêu bình quân đầu người dành cho thuốc tại Việt Nam đã tăng 37,97 USD vào năm 2015, khoảng 56 USD năm 2017 và duy trì chi tiêu dành cho dược phẩm ở mức tăng ít nhất 14%/năm cho tới năm 2025 Hãng nghiên cứu thị trường IMS Health cũng dự báo chi tiêu cho dược phẩm bình quân đầu người tại Việt Nam sẽ nâng lên mức 50 đôla/người/năm vào năm 2020
Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2019 tăng 1,4% so với tháng trước, CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79% so với năm 2018 và CPI bình quân quý 4/2019 tăng 3,66% so với cùng kỳ năm trước Như vậy CPI năm 2019 đã được kiểm soát thành công, đạt mức thấp hơn so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra (dưới 4%) và cũng là mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua; trong đó, thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% Về lạm phát cơ bản, năm 2019 tăng 2,01% so với năm 2018 và tháng 12/2019 so với tháng 12/2018 tăng 2,78% Hơn nữa, khi hiệp định thương mại tự do (EVFTA) có hiệu lực, dược phẩm sẽ là một trong những mặt hàng mà Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu (từ mức khoảng 2,5% về 0%) sẽ tạo nên môi trường cạnh tranh ngành tân dược gay gắt
Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành tân dược có nhiều khởi sắc trong những năm qua, các doanh nghiệp vẫn đang phải đổi mặt với những khó khăn về nguồn nguyên liệu Việt Nam nhập khẩu 351 triệu USD hoạt chất, chủ yếu từ Trung Quốc (220 triệu USD), Ấn Độ (60,5 triệu USD), Tây Ban Nha (10,4 triệu USD) và Đức (10,1 triệu USD) Giống như nhiều Quốc gia khác, Việt Nam phụ thuộc cao vào
Trang 7nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc Ở Việt Nam, nguyên phụ dược liệu nhập khẩu được cho là chiếm phần lớn trong tổng nhu cầu, khoảng 80%-90% Do đó, đây luôn
là vấn đề của Việt Nam trong dài hạn bởi vì để sản xuất được dược liệu đòi hỏi phải đầu tư nhiều và cần có khả năng về công nghệ (Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh
so với các nước khác, như Trung Quốc và Ấn Độ) Các công ty trong ngành dược phẩm có thể phải đối mặt với việc giá nguyên phụ liệu tăng cao, cũng như đối mặt với rủi ro tỷ giá
b) Chính sách quản lý ngành dược của Việt Nam
- Chính phủ luôn tạo điều kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thuốc, đẩy mạnh những loại thuốc quý hiếm Ngoài ra còn hỗ trợ 1 khoản phí không hề nhỏ từ các nguồn vốn nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu và phát triển y dược
sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y dược ngày càng nhiều đã đóng góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như ngày nay
- Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý ngành dược bao gồm các văn bản liên quan đến vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực Dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ sở kiểm nghiệm thuốc
- Nhà nước ban hành luật về dược và phát triển CN dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký, lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc; dược liệu
và thuốc cổ truyền; đơn thuốc và sử dụng thuốc; thông tin thuốc, cảnh giác dược
và quảng cáo thuốc; dược lâm sàng; quản lý thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc; quản lý chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và quản lý giá thuốc
Trang 8PHẦN II: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM
1 Đe dọa gia nhập mới
Tính đến ngày 16/05/2019 theo Cục quản lý Dược, Việt Nam có khoảng 180 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và 224 cơ sở sản xuất nhà máy trong nước
đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành tốt sản xuất thuốc) và Ngành dược trong nước mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu thị trường Đây là một miếng mồi béo bở cho các doanh nghiệp muốn gia nhập vaò thị trường Tân Dược tuy nhiên rào cản gia nhập cũng là một vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp đó
- Chính sách của chính phủ: sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y dược ngày
càng nhiều đã đóng góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như ngày nay Vai trò và thái độ của Chính phủ đóng góp phần quan trọng đối với sự phát triển của ngành dược Việt Nam Chính phủ luôn tạo điều kiện và sẵn sàng hợp tác để mở rộng kinh doanh về lĩnh vực này
Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý ngành dược bao gồm các văn bản liên quan đến các vấn đề như Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược Các kế hoạch và chính sách quốc gia hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân
Luôn tạo điều kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thuốc, đẩy mạnh những loại thuốc quý hiếm.Ngoài ra còn hỗ trợ 1 khoản phí không hề nhỏ từ các nguồn vốn nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu và phát triển y dược
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý ngành dược bao gồm các văn bản liên quan đến vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực Dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ
sở kiểm nghiệm thuốc ( Ngày 19/04/2007 bộ y tế ban hành Quyết định số 27/2007/QĐ-BYT về lộ trình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất thuốc’’ (GMP) Theo quyết định này, kể từ ngày 1/7/2008, doanh nghiệp sản
Trang 9xuất không đạt tiêu chuẩn của GMP theo khuyến cáo của WHO thì sẽ phải ngừng sản xuất thuốc)
Mặc dù được Chính phủ quan tâm và hỗ trợ sát sao cho những doanh nghiệp cũ và mới nhưng với những yêu cầu mà chính phủ đưa ra cũng gây ra cho các doanh nghiệp muốn du nhập vào ngành một mối lo ngại lớn bởi tiêu chuẩn và chất lượng của sản phẩm
- Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu và chi phí sản xuất:
Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành tân dược có nhiều khởi sắc trong những năm qua, các doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn về nguồn nguyên liệu.(Nguồn nguyên liệu chủ yếu là ngoại nhập, giá thành cao)
Ngành tân dược Việt Nam được cho là đặc thù bởi yếu tố công nghệ sản xuất phụ thuộc vào máy móc, thiết bị và công nghệ tiên phụ thuộc vào nước ngoài Chi phí nghiên cứu và bảo vệ bằng phát minh sáng chế tốn chi phí của doanh nghiệp sản xuất tân dược
Do đó, đây luôn là vấn đề của Việt Nam trong dài hạn bởi vì để sản xuất được dược liệu đòi hỏi phải đầu tư nhiều và cần có khả năng về công nghệ (Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh so với các nước khác, như Trung Quốc và Ấn Độ) Các công ty trong ngành dược phẩm có thể phải đối mặt với việc giá nguyên phụ liệu tăng cao, cũng như đối mặt với rủi ro tỷ giá Đây được xem là rào cản lớn cho các doanh nghiệp mới muốn gia nhập
- Chuyên biệt hóa sản phẩm: 13 công ty dược phẩm đang niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam Đó là Dược Hậu Giang, Imexpharm,Domesco, Dược Cửu Long, Pharmedic, S.P.M (chuyên về tân dược), Traphaco, Dược OPC và Dược Phong Phú (Đông dược), cùng với 4 doanh nghiệp chuyên phân phối là Vimedimex, Ladopharm, Dược Hà Tây và Dược Bến Tre Các doanh nghiệp này đã tạo ra sự phân biệt mạnh mẽ nhờ chất lượng và quảng cáo đã tạo ra lòng trung thành về nhãn hiệu gây khó khăn cho các công ty muốn gia nhập ngành này với quy mô lớn
2 Đe dọa từ các sản phẩm/dịch vụ thay thế
Trang 10Trên thị trường Việt Nam, ngành Tân Dược là ngành đang phát triển mạnh mẽ và có lợi nhuận cao, cùng với sự gia tăng ấn tượng trong những năm gần đây của ngành dược
đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất cả trong lẫn ngoài nước do đó áp lực từ sản phẩm thay thế cao Bản chất của ngành dược đã rất đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong ngành đều có sản phẩm không mấy khác biệt nhau nên áp lực tạo ra cho các doanh nghiệp là phải là phải làm mình luôn tốt hơn và chiếm ưu thế càng nhiều càng tốt
- Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phầm dược:
Tân dược là ngành dễ bị đối thủ học hỏi, bắt chước rồi bán với giá tương đương ra thị trường vì vậy tân dược là ngành có chi phí chuyển đổi thấp Bởi lẽ sản phẩm dược rất dễ mua, nên người tiêu dung không mất nhiều thời gian mới có thể mua được sản phẩm tương tự cả về giá cả lẫn chất lượng Thậm chí còn nhiều người tiêu dung còn không phân biệt được thương hiệu hay sản phẩm tiêu dùng Chính vì vậy việc chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm dược không mấy làm thay đổi thói quan của người tiêu dung
- Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng
Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng là cao vì ngành dược trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thị trường vì vậy các sản phẩm thuốc nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc và Ấn Độ, các thương hiệu thuốc ngoại nổi tiếng như Sanofi, GSK, Astrazeneca càng xâm lấn vào thị trường Việt Nam
Các doanh nghiệp thuốc trong nước có chiến lược tiếp thị, xây dựng thương hiệu
bị hạn chế do liên quan đến các quy định về tiếp thị, khuyến mại và khai thuế mà chi phí tiếp thị của các doanh nghiệp nước ngoài không bị giới hạn vì vậy các doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế về việc xây dựng thương hiệu và long tin với khách hàng Hơn nữa thuốc trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử dụng vì thường bị mang tiếng là chất lượng kém, thuốc giả, lại càng khiến khách hàng thiên về sử dụng thuốc ngoại nhiều hơn so với tin dung thuốc nội
Sau khi hội nhập WTO, ngành dược Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với nguồn dồi dào và trình độ khoa học công nghệ cao Nhiều doanh nghiệp đã nắm bắt lấy cơ hội cải tiến cho mình Do đó ngày càng nhiều các sản phẩm về thuốc mới thay thế các sản phẩm cũ, cải tiến về chất lượng lẫn chức năng Sự xuất hiện của sản phẩm thay thế nhằm thỏa mãn nhu
Trang 11cầu thỏa mãn của khách hàng Do đó đe dọa về sản phẩm thay thế đố với ngành tân dược khá là cao
3 Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng và khách hàng
a) Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng
- Mức độ tập trung ngành: Ngành dược Việt Nam hiện có khoảng 178 doanh nghiệp
sản xuất thuốc, trong đó 100 công ty sản xuất tân dược và 78 doanh nghiệp sản xuất Đông dược Ngoài ra còn có khoảng 300 cơ sở sản xuất Đông dược và thực phẩm chức năng nhỏ lẻ Cho thấy mức độ tập trung nghành là không lớn, các công ty có quyền thương lượng khá thấp, khả năng tạo áp lực lên các công ty khác là không cao
- Việt Nam có một số lượng các doanh nghiệp sản xuất trong nghành tương đối lớn điều này cũn đồng nghĩa nhà cung cấp có nhiều lựa chọn hơn, quyền lực thương lượng của nhà cung cấp cũng được gia tăng đáng kể trong những giao dịch với doanh nghiệp
- Quyền lực nhà cung cấp tăng lên đồng nghĩa với việc cạnh tranh trong nghành cũng khá gay gắt để có thể dành được nguồn nguyên liệu tốt Tuy nhiên hiện nay sản lượng của các doanh nghiệp lại chỉ đáp ứng 50% nhu cầu thị trường Hiện nay, dân số Việt Nam là 97 triệu người, nhóm đối tượng giới trẻ cũng rất quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình và các vấn đề liên quan đến sức khỏe làm đẹp Chính vì thế nhu cầu dược phẩm tăng
- Đặc điểm hàng hóa/ dịch vụ: Dược phẩm cũng là hàng hóa nên nó cũng bị chi
phối bởi các yếu tố kinh tế thị trường Do mức độ nguyên liệu nhập khẩu cực lớn nên hầu như công ty sản xuất dược phẩm Việt Nam ở thế bị động trước diễn biến thất thường của giá nguyên liệu và quyết định của nhà cung cấp Các nhà cung cấp nguyên liệu dược nước ngoài có quyền lực đáng kể trong nghành Ngoài nguyên liệu dược phẩm cũng bị phụ thuộc vào trang thiết vị và công nghệ nên các nhà cung cấp dịch vụ này cũng có những quyền lực nhất định trong việc thương lượng giao dịch
- Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp: không hoành tráng như dược Hậu Giang hay
Traphaco, nhưng Domesco lại thể hiện vai trò dẫn dắt thị trường ở góc độ hợp tác với
cổ đông chiến lược nước ngoài Theo thống kê, hiện nay 90% nguyên vật liệu sản xuất thuốc đều phải nhập khẩu Hay Imexpharm đã định vị mình như nhà sản xuất nhượng quyền hàng đầu cho Sandoz hay BD Pharm và Innotech của Pháp… chi phí cho tìm kiếm và chuyển đổi nhà cung ứng là rất lớn gây sức ép cho các công ty khi chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác
8