Phương pháp đánh giá sự sinh trưởng của hệ sợi và sự hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng.. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường và nhiệt độ nuôi sợi đến sinh trưởng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Chuyên ngành: CÔNG NGH Ệ SINH HỌC
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KĨ THUẬT CÔNG NGH Ệ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH: TR ỊNH TAM KIỆT
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
GS.TSKH Trịnh Tam Kiệt, thầy đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tập thể thầy cô giáo khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy, trang bị đầy đủ những kiến thức
bổ ích cho tôi trong thời gian học tập tại trường
Ban giám đốc và Tập thể cán bộ Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Ngô Thị Thùy Dương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả, hình ảnh nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả
Ngô Thị Thùy Dương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát chung về nấm Linh chi 3
1.2 Giới thiệu nấm Linh chi 4
1.2.1 Phân loại thực vật học 4
1.2.2 Chu trình sống của nấm Linh chi 4
1.2.3 Đặc điểm hình thái 5
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của sợi nấm và hình thành quả thể nấm 6
1.2.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng 6
1.2.4.2 Độ pH 8
1.2.4.3 Nhiệt độ 8
1.2.4.4 Ẩm độ 8
1.2.4.5 Ánh sáng 9
1.2.4.6 Không khí 9
1.3 Kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi 10
1.3.1 Thời vụ nuôi trồng nấm Linh chi 10
1.3.2 Chuẩn bị cơ chất 10
1.3.2.1.Nguồn cơ chất 10
1.3.2.2.Nguồn dinh dưỡng bổ sung 10
1.3.2.3.Công thức phối trộn cơ chất 11
1.3.2.4 Đóng bịch, khử trùng nguyên liệu 11
1.3.3 Cấy giống 12
1.3.4 Ươm bịch nuôi sợi nấm 12
1.3.5 Chăm sóc, thu hái 13
1.4 Đặc tính dược học và hoạt chất trong nấm Linh chi 13
1.4.1 Đặc tính dược học của nấm Linh chi 13
Trang 61.4.2 Một số thành phần hóa học trong nấm Linh chi 18
1.4.3 Hoạt chất trong nấm Linh chi 19
1.5 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh chi trên thế giới và ở Việt Nam 19
1.5.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh chi trên thế giới 19
1.5.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh chi ở Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Vật liệu nghiên cứu 23
2.1.1 Nguyên liệu 23
2.1.2 Vật tư thiết bị, lán xưởng 23
2.1.3 Nguồn giống 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp nuôi cấy đánh giá tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết 24
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đến tốc độ sinh trưởng của sợi nấm Linh chi 25
2.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi 25
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ sinh trưởng của nấm Linh chi 26
2.3.3 Phương pháp đánh giá tốc độ sinh trưởng và đặc điểm hệ sợi trong môi trường nhân giống cấp 2 26
2.3.4 Phương pháp đánh giá sự sinh trưởng của hệ sợi và sự hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng 27
2.3.5 Phương pháp nuôi trồng nấm Linh chi 28
2.3.5.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn và phương pháp khử trùng đến tỷ lệ nhiễm bệnh 28
2.3.5.2 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất nấm Linh chi 28
2.3.6 Phương pháp xác định thành phần hóa học 29
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Nghiên cứu sự sinh trưởng của nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết 30
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường và nhiệt độ nuôi sợi đến sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi 32
3.2.1 Xác định sinh khối sợi nấm ở điều kiện pH khác nhau 32
3.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự sinh trưởng và tốc độ phát triển của hệ sợi nấm Linh chi 34
3.3 Nghiên cứu sự sinh trưởng và hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng 34
3.3.1 Nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi trên môi trường nhân giống cấp 2 34
3.3.2 Nghiên cứu sự sinh trưởng và hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng 38
3.4 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi 43
3.4.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn và phương pháp khử trùng đến tỷ lệ nhiễm 43
3.4.2 Ảnh hưởng của độ ẩm cơ chất phối trộn đến sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi và khả năng nhiễm bệnh 45
3.4.3 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn đến sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi 46
3.4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hình thành quả thể nấm và thời gian phát triển quả thể nấm Linh chi 48
3.4.5 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn đến năng suất nấm Linh chi 50
3.5 Kết quả phân tích một số thành phần cơ bản của quả thể nấm Linh chi 53
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 : Thành phần dinh dưỡng của một số nguyên liệu bổ sung thông dụng 11
Bảng 1.2: Đặc điểm của Lục bảo Linh chi theo Lý Thời Trân 14
Bảng 1.3: Hàm lượng một số hợp chất chủ yếu ở nấm Linh chi 19
Bảng 2.1: Thành phần các môi trường thuần khiết (g/lít) 24
Bảng 2.2: Thành phần môi trường nhân giống cấp hai 26
Bảng 2.3: Thành phần môi trường cơ chất phối trộn (% khối lượng) 28
Bảng 3.1: Tốc độ mọc của sợi nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết 30
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của quá trình khử trùng đến pH môi trường 33
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của pH môi trường đến sinh khối sợi nấm 33
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phát triển sợi 34
Bảng 3.5: Tốc độ sinh trưởng của sợi nấm Linh chi trên môi trường nhân giống cấp 2 35
Bảng 3.6: Thời gian hình thành mầm quả thể nấm Linh chi ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau (ngày) 38
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của công thức phối trộn và phương pháp khử trùng đến tỷ lệ nhiễm 44
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của độ ẩm cơ chất phối trộn đến tốc độ phát triển của hệ sợi và tỷ lệ nhiễm 45
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn đến sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi 47
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hình thành quả thể nấm và thời gian phát triển quả thể nấm Linh chi (ngày) 49
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của thành phần cơ chất phối trộn đến năng suất nấm Linh chi 50
Bảng 3.12: Kết quả phân tích một số thành phần cơ bản của nấm Linh chi 53
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Hệ sợi nấm Linh chi 32
Hình 3.2: Tốc độ sinh trưởng của sợi nấm Linh chi trên môi trường nhân giống cấp 2 (Sợi nấm 10 ngày tuổi) 37
Hình 3.3: Sợi nấm Linh chi đã kín trên các môi trường khác nhau 37
Hình 3.4: Chủng DT 40
Hình 3.5: Chủng D12 40
Hình 3.6: Chủng D18 40
Hình 3.7: Bào tử chủng DT 42
Hình 3.8: Bào tử chủng D12 42
Hình 3.9: Bào tử chủng D18 42
Hình 3.10: Hệ sợi nấm Linh chi chủng DT, D12, D18 (từ trái qua phải) 48
Hình 3.11: Mầm quả thể Linh chi 51
Hình 3.12: Mô hình nuôi trồng nấm Linh chi 51
Trang 101 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xưa, Linh chi đã được coi là một loại dược liệu quý chỉ được dùng cho các bậc hoàng đế Trong cuốn “Thần nông bản thảo” cách đây 2000 năm, Linh chi
đã được xếp vào loại siêu thượng phẩm hơn cả nhân sâm Nhưng phải đến năm
1960 trở lại đây Linh chi mới thực sự đươc nghiên cứu và được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược liệu Linh chi được biết đến nhiều với các công dụng: tăng cường
hệ thống miễn dịch cho cơ thể; điều trị suy nhược thần kinh, sơ cứng mạch máu; giảm cholesterol trong máu; điều trị bệnh cao huyết áp, loét dạ dày, thấp khớp; bước đầu ứng dụng điều trị bệnh ung thư…
Bên cạnh những giá trị dược liệu Linh chi còn có giá trị kinh tế rất cao Hiện nay giá bán Linh chi ở thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc khoảng 150 – 200USD/kg quả khô Tại Việt Nam, nấm Linh chi có giá bán khoảng 25 – 35USD/ kg quả khô
Việc nuôi trồng, sản xuất nấm Linh chi ở Việt Nam cũng mới phát triển khoảng 20 năm trở lại đây nhưng mới tâp trung ở một số chủng Linh chi Nhằm đa dạng nguồn gen, bằng cách thu thập từ tự nhiên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đăc điểm sinh học và công nghệ nuôi trồng nấm lim Quảng Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định đặc điểm sinh học và công nghệ nuôi trồng chủng nấm lim Quảng Nam
3 Ý ngh ĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm lim là cơ
sở cho việc định hướng để chọn tạo giống nấm và triển khai sản xuất giống nấm dược liệu quý từ tự nhiên trong điều kiện môi trường sinh thái của nước ta
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đa dạng nguồn gen giống nấm dược liệu, là
cơ sở thúc đẩy nghề trồng nấm của nước ta, góp phần xúc tiến quá trình tuần hoàn sinh học có ích cho nông nghiệp (tận dụng nguồn phế thải từ nông, lâm nghiệp có
Trang 11cao) Đồng thời giải quyết vấn đề lao động dư thừa, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
4 Đối tượng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu một số đặc tính sinh học và kỹ thuật nuôi trồng 3 chủng nấm linh chi ký hiệu là: DT, D12, D18 Giống nấm được thu thập từ tự nhiên của Việt Nam, hiện được lưu giữ tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật
4.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết
- Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đến sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi
- Nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi, sự hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng
- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi
- Phân tích một số thành phần hóa sinh cơ bản của quả thể nấm Linh chi
4.3 Địa điểm nghiên cứu
Phòng Nghiên cứu – Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp
Trung tâm nấm Văn Giang – Liên Nghĩa – Văn Giang – Hưng Yên
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung về nấm Linh chi
Linh chi thuộc nhóm nấm lớn, rất đa dạng về chủng loại Linh chi có nhiều tên gọi khác nhau như: Nấm lim, Tiên thảo, Nấm thần tiên, Cỏ huyền diệu… nhưng
tên Linh chi là dùng phổ biến nhất Trong “Thần nông bản thảo” cách đây 2000 năm
đã đề cập đến 365 loại dược thảo thì Linh chi dược xếp vào loại thượng dược Đến thời nhà Minh, Lý Thời Trân đã viết “ Bản thảo cương mục” gồm 2000 loại thuốc thì Linh chi vẫn được xếp hàng đầu, ông còn phân biệt Linh chi theo màu sắc và tên gọi khác nhau
Linh chi thường được phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, sống trên gốc hoặc thân cây gỗ lim nên còn gọi là nấm lim Ngoài ra Linh chi còn sống hoại sinh hoặc ký sinh rộng khắp ở các loại cây lá rộng đến lá kim, thậm trí ở các loại tre trúc, dừa, cau, cọ và nho Linh chi tiết ra các men phân giải màng tế bào endopholygalacturorase và endopectin methyl – tranlinase, có tác dụng làm nhũn tế bào thực vật rất mạnh, làm cho các loại gỗ và rễ cây bị mủn ra
Theo Wang, nấm Linh chi được nuôi trồng ở Trung Quốc từ năm 1621 bởi giá trị dược liệu cao của chúng Ngay từ thời hoàng đế, trong các loại thư tịch cổ đã ghi chép về giá trị của Linh chi cách đây trên dưới 4000 năm [40]
Trong “Bản thảo cương mục”, các ghi chép đã chuẩn mực hơn và nấm Linh chi đã được coi trọng hơn Một số các nhà Y dược Viêt Nam đã phát hiện ra công dụng của nấm Linh chi như: Lê Quý Đôn đã chỉ rõ ra Linh chi là “Nguồn sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” Trong quyển “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Giáo sư Đỗ Tất Lợi còn mô tả chi tiết và trình bày đặc tính dược liệu của loài nấm này và cho rằng đây là loại siêu thượng dược
Gần đây người ta lại tìm thấy một tấm bia đã khắc vào năm 1124, có ghi chép về 36 loại linh chi ở núi Mai Ji, huyện Gan Su, tỉnh Gui Zhou ở Tây Nam
Trung Quốc, có tới 37 loài trong đó có 34 loài thuộc chi Ganoderma [16]
Trang 13Chính vì Linh chi có tính dược học cao mà chỉ sau một thời gian, các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã đạt được những thành tựu lớn về điều tra, sưu tầm, bảo tồn và khai thác triệt để họ Ganodermataceae Và cho đến nay đã có ít nhất 10
loài được chính thức nuôi trồng làm thuốc: G applanatum, G gorninose, G
amboinense, G capense, G japonicum, G lucidum, G tsugae, G tenue, G formosarum ,… và vài loài của chi Amauroderma [16]
Theo nghiên cứu của Ngô Anh, ở Việt Nam, riêng ở Thừa Thiên Huế họ Ganodermataceae Donk rất đa dạng và phong phú, có đến 39 loài thuộc 3 chi
Ganoderma, Amauroderma và Humphreya Trong đó có 5 loài được sử dụng làm
dược liệu: G applanatum, G amboinense, G capense, G lucidum, G sinense [1]
1.2 Giới thiệu nấm Linh chi
1.2.1 Phân loại thực vật học
Nấm Linh chi có tên khoa học là: Ganoderma lucidum (Curtis) P Karst
Tên tiếng Anh: Ling zhi, Reishi
Tên khác: Nấm lim, xích chi, đan chi, tiên thảo, thụy thảo
Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2011)[4], [8] nấm Linh chi thuộc:
Giới: Nấm Fungi
Ngành: Nấm đảm Basidiomycota
Lớp: Agaricomycetes
Bộ: Nấm lỗ Polyporales
Họ: Linh chi Ganodermataceae Donk
Chi: Linh chi Ganoderma
Loài: Linh chi Ganoderma lucidum
1.2.2 Chu trình sống của nấm Linh chi
Chu trình sống của nấm Linh chi kéo dài từ 5 - 6 tháng, bắt đầu từ khi quả thể trưởng thành và phóng thích bào tử đảm đơn bội vào không khí để phát tán nhờ gió Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng … bào tử đảm sẽ nảy mầm, hình thành hệ sợi mầm sơ cấp đơn nhân Hệ sợi sơ cấp phát triển thành hệ sợi
Trang 14thứ cấp nhờ sự tiếp hợp giữa hai sợi sơ cấp Hệ sợi thứ cấp phát triển và phân nhánh mạnh tràn ngập khắp giá thể và chiếm hầu hết chu kỳ sống của Linh chi
Hệ sợi thứ cấp phát triển đến khi đạt đến giai đoạn cộng bào thì các vách ngăn được hòa tan Sau đó hệ sợi hấp thu và tích lũy dinh dưỡng rồi liên kết lại tạo thành mầm quả thể
Ở môi trường thuận lợi, độ ẩm và dinh dưỡng dồi dào, mầm quả thể sẽ sinh trưởng nhanh, phần phụ bắt đầu xòe tán, phát triển dần thành quả thể trưởng thành Lúc này sự dung hòa của hai nhân xảy ra, sau đó giảm nhiễm tạo thành bốn nhân Chúng di chuyển về bốn bào tử hình thành nên bốn bào tử đơn nhân (n) Các bào tử trưởng thành sẽ phóng thích ra môi trường và bắt đầu chu kỳ mới
1.2.3 Đặc điểm hình thái
Cây nấm Linh chi (quả thể) gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm (phần phiến đối diện với mũ nấm) Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên phần lõm vào của mũ nấm Cuống có hình trụ, gần như tròn hoặc hơi dẹp, đường kính từ 0,5-3 cm Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm
Mũ nấm khi còn non có dạng cục lồi, tròn; sau phát triển thành dạng thận, dạng bán cầu, dạng quạt, có khi hầu như tròn Trên mặt mũ có vân gạch đồng tâm, lượn sóng nhiều hay ít; hơi có vân răn dạng phóng xạ Mép nấm mỏng hoặc hơi tù, lượn sóng; hơi chia thùy ở những mũ nấm có kích thước lớn Mũ còn non có màu trắng có sắc thái vàng lưu huỳnh, sau chuyển sang màu vàng, vàng rỉ sắt, nâu, nâu
đỏ, nâu hồng tím tạo nên một lớp vỏ nhẵn bóng như quét sơn hoặc như đánh vecni [4] Mũ nấm thường có đường kính từ 2 - 15 cm, dày 0,8 - 1,2 cm, có loài Linh chi đường kính lớn tới trên 100cm, phần đính cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm [9]
Mặt dưới mũ nấm phẳng, có màu trắng hoặc màu vàng nhạt, mặt này có nhiều lỗ nhỏ li ti Đây chính là nơi hình thành và phát tán các bào tử nấm Khi nấm đến tuổi trưởng thành phát tán bào tử từ lỗ sinh bào tử ở phía dưới phiến có màu nâu sẫm [9]
Trang 15Thể sinh sản của nấm Linh chi có dạng ống màu nâu nhạt đến màu nâu, một lớp dày từ 0,1 đến 0,7 cm Mô của ống và thịt nấm đồng nhất Miệng ống lúc non có màu trắng sau có màu vàng lưu huỳnh, màu trắng vàng, khi già khô chuyển sang màu nâu
Bào tử của nấm Linh chi có hình trứng hoặc hình trứng cụt, có phần phụ không màu bao quanh lỗ nảy mầm, có màu vàng rỉ sắt Bào tử đảm có vỏ với cấu trúc hai lớp màng, màng ngoài nhẵn, không màu, màng trong màu nâu rỉ, phát triển thành những gai nhọn vươn sát màng ngoài Kích thước 5 - 6,5 x 8,5 - 11,5 µm [4], [7], [23]
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của sợi nấm và hình thành quả thể nấm
1.2.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng
Nấm là những sinh vật dị dưỡng Trong tự nhiên nấm mọc trên các loại phế thải có nguồn gốc thực vật, nấm có khả năng phân hủy các chất hữu cơ mà các vi sinh vật không có khả năng này Trong các yếu tố dinh dưỡng cho nấm, phải kể đến cacbon, nitơ, muối khoáng
Cacbon: Khoảng một nửa trọng lượng khô của tế bào nấm được tạo thành từ cacbon, điều đó chỉ ra vai trò quan trọng của nó đối với tế bào nấm Nguồn cacbon thích hợp cho sợi nấm phát triển gồm các monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide, đường glucose, saccharose, galactose, tinh bột, cellulose Nồng độ đường thích hợp cho sợi nấm sinh trưởng xấp xỉ 2% [33] Nấm có thể sử dụng một
số nguồn cacbon không phải là cacbonhydrate như ethanol, glycerin [36] Ở giai đoạn mầm quả thể, sự tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào nguồn dinh dưỡng cacbon Theo kết quả đã nghiên cứu, nấm sinh trưởng trên đường hỗn hợp tốt hơn trên đường đơn [26] Pepton, amino acid, urea, các muối amon là nguồn dinh dưỡng nitơ cần thiết cho sợi nấm sinh trưởng
Nitơ là yêu cầu cơ bản trong môi trường để sợi nấm sinh trưởng Nitơ được
đòi hỏi bởi tất cả các cơ thể sống để tổng hợp các axit amin, và từ chúng tổng hợp
Trang 16protein là những nguyên liệu cần thiết cho việc tạo thành tế bào chất Không có protein sự mọc không diễn ra Nguồn đạm nitơ phổ biến nhất đối với nấm là nitơrat
và amôn [5]
Lượng nitơ tổng số trong mùn cưa thấp, từ 0,03 - 0,3%, là yếu tố giới hạn sinh trưởng của sợi nấm Một trong những nhu cầu đạm của sợi nấm là tổng hợp enzyme cellulase để phân giải cellulose [31] Vì vậy, để nuôi trồng nấm có hiệu quả thường bổ sung thêm đạm Tuy nhiên, nếu hàm lượng nitơ quá cao sẽ khuyến khích sợi nấm sinh trưởng nhưng lại kìm hãm sự hình thành quả thể nấm [32]
Dinh dưỡng khoáng: Trong môi trường nuôi cấy sợi nấm, các nguyên tố
khoáng là không thể thiếu được Những muối khoáng quan trọng nhất bao gồm: phospho, lưu huỳnh, kali, canxi, magne, silic, clo, nhôm, sắt và kẽm [5]
Phospho cần thiết để tổng hợp ATP, nucleic acid, phospho lipid Nồng độ phospho thích hợp cho nấm sinh trưởng là 0,004 M [32]
Kali là nguyên tố đóng vai trò là cofactor trong nhiều enzyme, nồng độ thích hợp từ 0,001 - 0,004M [32]
Lưu huỳnh cũng cần thiết cho sự sinh trưởng của sợi nấm, nguồn cung cấp lưu huỳnh thường là MgSO4, nồng độ thích hợp từ 0,0001 - 0,0006 M Lưu huỳnh tham gia trong cấu tạo các amino acid chứa lưu huỳnh như cystein, methionin [33]
Magne tham gia hoạt hóa nhiều enzyme nên cần thiết cho quá trình trao đổi chất của nấm, nồng độ magne thích hợp là 0,001 M [32]
Ngoài ra các yếu tố khoáng khác như mangan, đồng, kẽm cũng không thể thiếu đối với sự sinh trưởng của sợi nấm, chúng là những phần tử cấu tạo nên enzyme [32]
Vitamin là những hợp chất hữu cơ có hoạt tính xúc tác và chức năng như một coenzyme Chúng tác dụng ở một lượng rất nhỏ và không được sử dụng như là thành phần cấu trúc thông thường của tế bào Mọi cơ thể đều cần vitamin, nhưng khả năng tổng hợp của chúng rất khác nhau Nhiều loại nấm có khả năng tạo tạo nên vitamin trên những môi trường đơn giản, nhưng một số loại nấm lại đòi hỏi chúng
Trang 17ta phải cung cấp thêm một số vitamin đã được tổng hợp sẵn vào môi trường để có
sự mọc bình thường Những vitamin cần cho sự mọc và hình thành quả thể nấm là vitamin B1, B2, B6, B12, biotin, vitamin K Yêu cầu vitamin cho giai đoạn sinh trưởng của quả thể cao hơn giai đoạn sinh trưởng của sợi nấm [5]
1.2.4.2 Độ pH
pH môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm, do pH ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme và khả năng hòa tan các hợp chất Các nhóm nấm khác nhau thích hợp với pH khác nhau Nhìn chung các loại nấm sống ở trên gỗ đặc biệt là nấm ký sinh tên thực vật ưa môi trường axit hoặc hơi axit khoảng 5 - 6 [5]
1.2.4.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ rất quan trọng trong việc xác định sự mọc cũng như tốc độ mọc của nấm Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme do đó ảnh hưởng đến trao đổi chất và sinh trưởng của nấm Phạm vi nhiệt độ ra quả thể của nấm hẹp hơn phạm vi nhiệt độ sinh trưởng sinh dưỡng [41] Đối với linh chi nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn nuôi sợi là từ 20oC-30oC và phạm vi nhiệt độ ra quả thể là từ 22oC - 28oC [9]
Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn ảnh hưởng đến hình thái quả thể nấm: nhiệt độ cao chân nấm dài, mũ nấm mỏng, nhiều sâu bệnh và ngược lại, nhiệt độ thấp, nấm phát triển chậm nhưng cuống nấm ngắn, mũ nấm dày
1.2.4.4 Ẩm độ
Nước có vai trò quan trọng trong quá trình nuôi trồng nấm Nước là chất hòa tan các chất dinh dưỡng cần thiết cho nấm Thành phần của nấm chiếm 85 - 95% là nước, hàm lượng nước trong cơ chất trồng nấm chiếm 50 - 75% Do đó nếu bị mất nước quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng
Phần lớn nấm yêu cầu độ ẩm cao, độ ẩm cơ chất từ 50 - 75% là điều kiện tối
ưu cho nấm sinh trưởng, phát triển [25]
Độ ẩm cơ chất để nấm Linh chi sinh trưởng tốt nhất là từ 60% - 65% Độ ẩm không khí thích hợp cho quá trình hình thành quả thể nấm Linh chi là 80% - 95% [37] Việc duy trì độ ẩm không khí trong quá trình hình thành mầm rất quan trọng,
Trang 18khi đã hình thành mầm rồi thì độ ẩm tương đối nên giữ ở mức thấp hơn một chút [38]
1.2.4.5 Ánh sáng
Mặc dù sự sinh trưởng của sợi nấm không nhạy cảm với ánh sáng nhưng ánh
sáng mạnh có thể kìm hãm sự sinh trưởng của sợi nấm [32]
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng hầu như không cần ánh sáng Có một số loại nấm đòi hỏi ánh sáng cả trong 2 giai đoạn lan sợi và ra quả thể, ví dụ như nấm hương Ánh sáng làm tăng quá trình phân hủy gỗ và trong giai đoạn lan sợi ánh sáng là yếu tố cần thiết cho quá trình hình thành quả thể [27], [35]
Trong giai đoạn nuôi sợi nấm Linh chi hoàn toàn không cần ánh sáng, còn giai đoạn phát triển quả thể thi cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng đọc sách được)
Cường độ ánh sáng cân đối từ mọi phía [8]
Ánh sáng ảnh hưởng rõ đến màu sắc và hình dạng quả thể, ánh sáng còn cần thiết cho cho sự phát triển mũ của một số loại nấm Ánh sáng kích thích sự hình thành mũ nấm, khi chuyển vào bóng tối thì kích thích sự hình thành cuống nấm mà không kích thích sự hình thành mũ [30], [28], [29]
1.2.4.6 Không khí
Nấm là sinh vật hiếu khí, sử dụng oxi và nhả ra khí cacbonic Thành phần của không khí, đặc biệt là nồng độ khí cacbonic có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm Các nghiên cứu cho thấy khi tăng nồng độ khí cacbonic đến 0,6%
sẽ làm tăng sinh trưởng của sợi nấm Nồng độ khí cacbonic từ 0,4 - 0,6% sẽ ức chế hoàn toàn sự hình thành mầm quả thể, khi nồng độ khí cacbonic từ 0,2 - 04% quả thể có chân dài, mũ mỏng Nồng độ khí cacbonic thích hợp nhất cho giai đoạn ra quả thể là dưới 0,2% [38]
Trong suốt quá trình nuôi sợi và phát triển quả thể, nấm linh chi đều cần có
độ thông thoáng tốt để quả nấm đạt chất lượng tốt và không bị dị dạng
Trang 191.3 Kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi
1.3.1 Thời vụ nuôi trồng nấm Linh chi
Thời gian bắt đầu cấy giống: từ ngày 15/1 đến 15/3 và 15/8 đến 15/9 dương lịch (đối với các tỉnh phía Bắc), các tỉnh phía Nam có thể trồng quanh năm
1.3.2 Chuẩn bị cơ chất
1.3.2.1 Nguồn cơ chất [9]
Linh chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mùn cưa tươi, khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố Ngoài ra ta còn có thể trồng Linh chi trên thân
gỗ, các cây thuộc họ thân thảo
Với nguồn nguyên liệu là mùn cưa thì phải xử lý nguyên liệu bằng cách: Đổ
mùn cưa ra nền sạch, sau đó dùng bình ô doa tưới đều nước vôi trong (pH = 12), vừa tưới, vừa đảo (với tỷ lệ 1 kg mùn cưa khô trộn với 1,2 lít nước vôi trong) Sau khi tưới đủ nước, dùng xẻng đảo đều từ 3 - 4 lần rồi ủ thành đống, che đậy bằng nilon để mùn cưa ngấm đủ nước Thời gian ủ khoảng từ 3 - 5 ngày
1.3.2.2 Nguồn dinh dưỡng bổ sung
Bổ sung dinh dưỡng vào cơ chất với mục đích tăng tốc độ sinh trưởng của sợi nấm, rút ngắn chu kỳ nuôi trồng và tăng năng suất nấm Nguồn dinh dưỡng bổ sung chủ yếu là cacbon và nitơ
Hàm lượng protein thô trong mùn cưa thấp, khoảng 1,16% [2] là yếu tố hạn chế sinh trưởng của sợi nấm Khi trồng nấm trên mùn cưa phải bổ sung dinh dưỡng nhiều hơn các nguyên liệu khác để làm giảm tỷ số C/N
Nguồn dinh dưỡng cacbon bổ sung thường là đường và tinh bột Trong giới hạn cho phép, nguồn dinh dưỡng bổ sung càng cao thì năng suất nấm càng cao, nhưng hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh
Các nguyên liệu bổ sung trong nuôi trồng nấm thường là bột ngô, cám gạo, đậu tương Thành phần dinh dưỡng của các nguyên liệu bổ sung được ghi trong bảng 1.1 [12].
Trang 20Bảng 1.1 : Thành phần dinh dưỡng của một số nguyên liệu bổ sung thông dụng
TP
NL
Chất khô (%)
Nitơ (%)
Phospho (%)
Cacbonhydrat (%)
Chất béo (%)
Khoáng (%)
Bột ngô
Cám gạo
Đậu tương
89,0 91,0 92,0
1,5 2,0 6,3
0,19 1,13 0,69
71,3 37,0 21,5
3,8 13,7 17,2
1,3 11,6 5,1
1.3.2.3 Công thức phối trộn cơ chất
Tùy theo từng địa phương, tùy thuộc vào vùng nguyên liệu mà mỗi vùng có
một công thức phối trộn riêng Công thức phổ biến nhất ở nước ngoài hiện nay là
75% mùn cưa phối trộn với 25% nguyên liệu bổ sung (Tính theo trọng lượng chất
khô) Hầu hết các qui trình nuôi trồng nấm đều bổ sung một lượng canxi từ 1 – 2%
CaO hoặc CaCO3 so với cơ chất khô [9], [7], [18] Bột CaCO3được bổ sung vào cơ
chất có tác dụng trung hòa pH môi trường, nó ngăn chặn sự axit hóa nguyên liệu do
quá trình lên men yếm khí và giảm khả năng nhiễm bệnh
Ẩm độ của cơ chất trước khi khử trùng yêu cầu từ 55 – 70%
1.3.2.4 Đóng bịch, khử trùng nguyên liệu
Sau khi nguyên liệu được phối trộn đồng đều ta tiến hành đóng túi nguyên
liệu Túi đóng nguyên liệu là túi nilon chịu nhiệt kích thước 25×35cm Trọng lượng
mỗi túi nguyên liệu khoảng 1,4 – 1,6 kg/ túi Các túi nguyên liệu có độ chặt đồng
đều, vừa phải tránh làm nứt hay thủng túi, nếu lỏng quá quả thể nấm sẽ mọc xung
quanh bịch, nấm không tập trung trên bề mặt bịch làm giảm năng suất nấm Sau đó
là công đoạn làm cổ, nút bông, đậy nắp và đem bịch đi khử trùng
Hiện nay có 2 phương pháp khử trùng phổ biến là khử trùng bằng hơi nước
nóng ở nhiệt độ 95 – 1000C trong thời gian 6-8h hoặc hấp khử trùng ở áp suất
1,2atm (1210C) trong thời gian 2-3h
Sau khi khử trùng, bịch nguyên liệu được đưa vào phòng vô trùng, để nguội
Trang 21Giống hạt là loại giống thuần khiết được cấy trên môi trường hạt lúa gao, lúa
mì hoặc kê Lượng giống cấy vào nhỏ hơn 2%
Giống que là loại giống thuần khiết được cấy trên môi trường là que sắn Bịch cấy giống phải được dùi lỗ trước khi cấy, mỗi bịch chỉ cần cấy một que sắn đã
có giống
Giống dung dịch là loại giống thuần khiết được cấy trên môi trường là dịch
So với các loại giống khác thì giống dung dịch có chu kỳ ngắn hơn, sau khi cấy sợi
nấm phục hồi nhanh, khả năng hấp thu dinh dưỡng cũng nhanh hơn, có thể rút ngắn được thời gian nuôi sợi Trong điều kiện thuận lợi thì nuôi sợi trong môi trường lỏng khoảng 7 ngày là có thể dùng được Tuy nhiên, giống trong môi trường lỏng khó khăn trong bảo quản và vận chuyển nên ít được sử dụng
Công việc cấy giống phải được thực hiện trong phòng đã thanh trùng Sau khi cấy giống xong bịch nấm được chuyển qua phòng ươm sợi
1.3.4 Ươm bịch nuôi sợi nấm
Sau khi cấy giống xong, bịch nấm được chuyển ra nhà ươm sợi.Nhà ươm túi đảm bảo các yêu cầu: sạch sẽ, thông thoáng, độ ẩm từ 65% - 80%, ánh sáng yếu, nhiệt độ từ 20 - 30oC, có tầng giàn để xếp bịch và tận dụng diện tích.Trong thời gian ươm không được tưới nước, hạn chế tối đa việc vận chuyển
Sau khoảng thời gian 20 - 25 ngày, sợi nấm mọc được 1/2 – 2/3 bịch nấm, có
sự hình thành quả thể ở miệng nút bông, ta phải tiến hành nới nút bông ở cổ nút chỉ
để lại 1/5 lượng bông nút ban đầu cho nấm mọc qua cổ nút
Trong quá trình sợi nấm phát triển nếu thấy có bịch nấm bị nhiễm cần phải loại bỏ ngay khỏi khu vực ươm tránh lây sang các bịch khác
Trang 221.3.5 Chăm sóc, thu hái
Khi đã thấy mầm quả thể linh chi mọc qua cổ nút thì tiến hành chuyển bịch ra nhà nuôi trồng nấm
Nhà nuôi trồng nấm phải có giàn hoặc dây treo Nhà trồng nấm phải đảm bảo sạch sẽ thông thoáng, nhiệt độ từ 22 - 28oC, độ ẩm không khí đạt 80 - 90%, ánh sáng khuyếch tán (mức độ đọc sách được) và chiếu đều từ mọi phía
Hàng ngày phải tưới phun sương nhẹ vào mặt trên mũ quả thể từ 1 - 3 lần (tùy theo điều kiện thời tiết)
Chế độ chăm sóc như trên được duy trì liên tục cho đến khi viền trắng trên vành
mũ quả thể không còn nữa Màu sắc mũ nấm và chân nấm có màu đồng nhất như màu nâu bóng, đỏ sẫm là đến tuổi thu hái được
* Thu hái: dùng dao hoặc kéo sắc cắt chân nấm sát bề mặt cổ nút Vết cắt được bôi nước vôi sau khi thu phần chân và cánh nấm
Quả thể nấm sau khi thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô, sấy ở nhiệt độ 45
- 55oC Độ ẩm của nấm khô dưới 13% là được Thông thường, sau khi sấy tỷ lệ khoảng 3 kg nấm tươi được 1 kg nấm khô
1.4 Đặc tính dược học và hoạt chất trong nấm Linh chi
1.4.1 Đặc tính dược học của nấm Linh chi
Linh chi là loại thảo dược đứng đầu của thượng phẩm, hơn cả nhân sâm, là một dược phẩm được xem là thần kỳ Cách đây hàng nghìn năm, nấm Linh chi đã được dùng để làm thuốc Các sách dược thảo của nhiều triều đại ở Trung Quốc đều ghi nhận Linh chi được sử dụng dùng để làm thuốc từ rất lâu đời Giá trị dược liệu của nấm Linh chi đã được ghi chép trong các thư tịch cổ của Trung Quốc, cách đây hơn 4000 năm Tài liệu cổ nhất nói tương đối cụ thể về khả năng trị liệu của Linh chi là của Lý Thời Trân (1590) Theo tác giả, trong sáu loại Linh chi thì mỗi loại có một đặc tính riêng và được thể hiện trong bảng sau:
Trang 23Bảng 1.2: Đặc điểm của Lục bảo Linh chi theo Lý Thời Trân [40]
Tên gọi Màu
sắc Đặc tính
Thanh chi hay Long chi Xanh Vị chua, tính bình, không độc; chủ trị sáng
mắt, bổ gan khí, an thần, tăng trí nhớ Hồng chi, Xích chi hay
Đơn chi Đỏ
Vị đắng, tính bình, không độc; tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ trung, chữa trị tức ngực
Hoàng kim hay Kim chi Vàng Vị ngọt, tính bình, không độc; an thần, ích
tỳ khí
Bạch chi hay Ngọc chi Trắng
Vị cay, tính bình, không độc; ích phổi, thông mũi, tăng cường trí nhớ, an thần,
- Kiện não: làm sáng suốt, minh mẫn
- Bảo can: bảo vệ gan
- Cường tâm: thêm sức cho tim
- Kiện vị: củng cố dạ dày và hệ tiêu hóa
- Cường phế: thêm sức cho phổi, hệ hô hấp
- Giải độc: giải tỏa trạng thái dị cảm
- Trường sinh: tăng tuổi thọ
Cả sáu loại Linh chi đều có tính năng giúp cho con người có thân thể khỏe mạnh, trẻ mãi không già, tiêu sái, trường thọ
Trang 24Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược lý và sử dụng Linh chi, người ta thấy Linh chi có tác dụng đối với một số bệnh như:
- Đối với các bệnh tim mạch:
+ Ổn định huyết áp: điều trị bệnh cao huyết áp, huyết áp thấp
+ Lọc sạch máu, tăng khả năng cung cấp oxy cho máu do đó chữa được các chứng thiếu máu ở người già, chữa bệnh tức ngực…
+ Tăng cường điều hòa máu nên điều hòa kinh nguyệt, làm da dẻ hồng hào + Trợ tim, làm giảm cholesterol, làm giảm sơ cứng thành động mạch, thúc đẩy lưu thông máu, tăng cường tuần hoàn máu
- Đối với các bệnh về miễn dịch:
+ Tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch và kháng siêu vi, giúp cơ thể luôn tươi trẻ và tăng tuổi thọ [9]
+ Điều trị bệnh viêm gan: trong điều trị bệnh viêm gan siêu vi, nấm Linh chi
có tác dụng nâng cao hoạt tính của đại thực bào và lympho bào nhờ tăng chức năng sản xuất interferon trong cơ thể Nhóm steroid giải độc gan, bảo vệ gan ngừng tổng hợp cholesterol, trung hòa virut , ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nên có hiệu quả rất tốt đối với bệnh về gan như: viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ…
Axit ganoderic R (17a) và S (17b) và axit ganosporeric A (8i) từ nấm
Ganoderma lucidum đã cho thấy có tác dụng giải độc gan in vitro trong các thử nghiệm độc tố tế bào galactosamine gây ra đối với tế bào gan chuột thí nghiệm Hai
chế phẩm in vivo của một chiết xuất tổng thể triterpenoids của Ganoderma lucidum
(75% ethanol) có thể bảo vệ chuột chống lại hoại tử gan gây ra bởi chloroform và galactosamine Tác dụng giải độc gan có lẽ liên quan tới khả năng thúc đẩy hoạt động của các enzym phân giải các gốc tự do cho gan ở chuột, do đó nâng cao khả năng chống oxy hóa ở chuột [6]
d-Ganopoly, chế phẩm có chứa polysaccharide của Ganoderma lucidum, đã
được chứng minh trong một nghiên cứu ngẫu nhiên ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính (HBV DNA dương tính, sử dụng Ganopoly trong 12 tuần, sau đó theo dõi 13
Trang 25tuần, 600 mg ba lần mỗi ngày bằng 27g quả thể) Trong thời gian 6 tháng nghiên cứu, 33% (17/52) bệnh nhân được điều trị có chỉ số aminotransferase bình thường
và 13% (7/52) đã loại bỏ kháng nguyên bề mặt viêm gan B từ huyết thanh, trong khi
đó không có bệnh nhân đối chứng nào có giá trị enzyme bình thường hoặc đã mất HBsAg Thuốc đã được dung nạp tốt [6]
+ Điều trị các bệnh ung thư nhờ polysaccharides nhóm không hòa tan trong nước B (1- 3D glucan)
Polysaccharides từ Ganoderma lucidum (Ganopoly) được buôn bán như sản
phẩm của thị trường tự do ở một số nước châu Á Ganopoly bao gồm các phần tử
polysaccharides từ quả thể của Ganoderma lucidum nuôi trồng trên gỗ Một nghiên
cứu lâm sàng với 100 bệnh nhân về tác dụng giảm đau nhẹ của Ganopoly (1800 mg,
ba lần mỗi ngày) trên các triệu chứng ung thư liên quan, như đổ mồ hôi và mất ngủ,
đã được quan sát ở nhiều bệnh nhân Một nghiên cứu đối chứng ở bệnh viện với Ganopoly (600 mg 3 lần một ngày) đã được tiến hành trong 12 tuần ở 68 bệnh nhân với tiền sử ung thư phổi Bệnh nhân được đánh giá đối với mức độ của họ về bệnh tật và chất lượng cuộc sống (điểm Karnofsky), các thông số huyết học, miễn dịch học và sinh hóa Trong 32 bệnh nhân điều trị bằng Ganopoly dẫn đến gia tăng đáng
kể điểm KPS trong 16 bệnh nhân, 4 bệnh nhân được gia tăng đáng kể ở nhóm đối chứng với 29 bệnh nhân [6]
+ Làm sản sinh các loại vitamin, chất khoáng, chất đạm cần thiết cho cơ thể + Tác dụng chống dị ứng nhờ các axit ganoderic
+ Tác dụng như một chất oxi hóa khử các gốc tự do trong cơ thể chống lão hóa, chống ung thư, tăng tuổi thọ, làm cơ thể luôn tươi trẻ, tráng kiện
+ Bảo vệ và chống ảnh hưởng của các tia chiếu xạ
+ Linh chi cũng có tác dụng giúp cơ thể loại nhanh các chất độc kể cả các kim loại nặng như: chì, germanium
+ Trong điều trị bệnh nhiễm HIV: Linh chi có thể được đưa vào phác đồ điều trị tạm thời nhằm nâng đỡ hiện trạng miễn dịch của bệnh nhân
Trang 26- Đối với hệ thần kinh:
+ Giảm mệt mỏi, giúp trấn tĩnh, hỗ trợ thần kinh
+ Giúp thư giãn thần kinh, làm giảm ảnh hưởng của cafein và làm thư giãn bắp thịt
- Đối với hệ tiêu hóa:
+ Điều trị loét dạ dày – tá tràng
+ Điều trị ăn không ngon, tiêu hóa kém
+ Làm sạch ruột, thúc đẩy tiêu hóa nên chống táo bón mãn tính và bệnh tiêu chảy
- Đối với bệnh về hô hấp: Nấm Linh chi đem lại hiệu quả tốt nhất đối
với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế tới 80%, có tác dụng làm giảm
và nhẹ bệnh theo chiều hướng khỏi hẳn
Một số ứng dụng lâm sàng [40]:
Trị suy nhược thần kinh: Trị 225 ca, tỷ lệ kết quả 83,5 - 86,3%, nhận xét thuốc có tác dụng an thần, điều tiết thần kinh thực vật và tăng cường thể lực (theo báo Tân y học, số phụ chuyên đề về bệnh hệ thống thần kinh 1976)
Trị chứng cholesterol trong máu cao: Dùng liên tục từ 1 đến 3 tháng cho 120
ca thuốc có tác dụng hạ cholesterol huyết thanh rõ rệt, kết quả đạt 86% (theo báo đăng trên trang thông tin Trung thảo dược 1973)
Trị viêm phế quản mãn tính: Dùng siro Linh chi và đường Linh chi trị 1.110
ca có kết quả và có nhận xét là thuốc có tác dụng đối với thể hen và thể hư hàn (theo báo cáo tư liệu Y dược Quảng Đông 1979)
Trị viêm gan mãn tính: Dùng polysaccarit Linh chi chế thành thuốc bột hòa nước uống, trị 367 ca, có nhận xét phần lớn triệu chứng chủ quan được cải thiện, men SGOT, SGPT giảm tỷ lệ 67,7% (Tạp chí Bệnh gan mật 1985)
Trị chứng giảm bạch cầu: Dùng polysaccarit Linh chi chế thành viên uống, theo dõi 165 ca, ghi nhận kết quả đạt tỷ lệ 72,57% (Báo cáo của Lưu Chí Phương đăng trên tạp chí Trung Hoa huyết dịch bệnh 1985)
Trang 27Trị bệnh sơ cứng bì, viêm da cơ, bệnh liput ban đỏ, ban trọc: Dùng Linh chi chế thành dịch, tiêm bắp và viên uống Trị sơ cứng bì 173 ca, tỷ lệ kết quả đạt 79,1%; viêm da cơ 43 ca, có kết quả 95%; liput ban đỏ 84 ca, có kết quả 90%; ban trọc 232 ca, có kết quả 78,88% ( Theo thông tin nghiên cứu Y học 1984)
Trị xơ cứng mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não: thường dùng phối hợp với Kê huyết đằng, Thạch xương bồ, Đơn bì, Cẩu tích, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, Hoàng tinh Thuốc còn chữa bệnh động mạch vành, đau thắt ngực
Ngoài ra trong cuốn “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi còn có ghi: Thuốc chữa bệnh phụ nữ thời kỳ mãn kinh; tăng cường trí thông minh, có trí nhớ tốt; dùng lâu ngày giúp cho nhẹ người, tăng tuổi thọ [9]
1.4.2 Một số thành phần hóa học trong nấm Linh chi
Thành phần hóa học của nấm Linh chi được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ thập niên 20 Đến thập niên 70-80, bằng các phương pháp cổ điển, các nhà khoa học đã phân tích các thành phần hóa dược tổng quát của Linh chi, kết quả thu được như sau:
Trang 281.4.3 Hoạt chất trong nấm Linh chi
Từ những năm 1980 đến nay, bằng các phương pháp hiện đại của quang phổ, sắc ký, cộng hưởng từ hạt nhân… đã xác định được gần 100 hoạt chất và dẫn xuất có trong nấm Linh chi và đã phân chia thành các loại hợp chất như sau:
Bảng 1.3: Hàm lượng một số hợp chất chủ yếu ở nấm Linh chi
(tính theo trọng lượng khô tuyệt đối)
TT Chỉ tiêu
Hàm lượng (%) TT Chỉ tiêu
Hàm lượng (%)
1.5 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh chi trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh chi trên thế giới
Nấm Linh chi có giá trị dược liệu và kinh tế cao nên được rất nhiều nhà khoa học của nhiều nước nghiên cứu
Theo Wang X J., từ năm 1621 nấm Linh chi đã được nuôi trồng ở Trung Quốc Đến năm 1936, Dật Kiến Vũ Hưng và Trực Tính Mạnh Hùng Thị đã nuôi
Trang 29trồng đại trà thành công nấm Linh chi Ganoderma lucidium ở Đại học Nông nghiệp
Tokyo, Nhật Bản Từ đó công nghệ nuôi trồng Linh chi ở Nhật Bản phát triển mạnh, sản lượng từ năm 1979 - 1995 đã tăng 40 lần [10], [11] Nhật Bản là nước đầu tiên trồng thành công nấm Linh chi và việc nghiên cứu khoa học và bào chế các sản phẩm dược liệu được sếp vào hàng đầu trên thế giới Hàn Quốc cũng là một nước
có công nghệ sản xuất nấm Linh chi rất phát triển
Từ năm 1929, Linh chi cũng đã được nghiên cứu và nuôi trồng tại Ấn Độ nhưng chỉ phát triển ở quy mô nhỏ [22]
Ở Canada cũng nghiên cứu nuôi trồng nấm Linh chi nhằm đánh giá đặc tính phá hủy xenlulose và vận dụng để định dạng nhóm loài, đặc biệt là nhóm
Ganoderma lucidium [21]
Tại Đài Loan, Peng (1990) và Hseu (1992) đã sưu tầm, nuôi trồng thành
công hơn 10 loài Ganoderma khác nhau [33] Hàn Quốc cũng chiếm một thị phần
đáng kể và đặc biệt chú ý tới loài Cổ Linh chi với hiệu lực chống khối u cao Song Trung Quốc vẫn được thừa nhận là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng và sản xuất nấm Linh chi (Zao et Zhang, 1994) Theo thống kê của Moore và Chiu (2000) thì tổng sản lượng Linh chi toàn cầu năm 1997 đạt khoảng 4300 tấn thì sản lượng của Trung Quốc đã là 3000 tấn
Các nước Đông Nam Á gần đây cũng bắt đầu nghiên cứu về Linh chi Malaysia chú trọng cải tiến các qui trình trồng Linh chi ngắn ngày trên các phế thải nông nghiệp [34], [37], thậm chí cho thu quả thể sau 40- 45 ngày Malaysia cũng đã
nghiên cứu nuôi trồng thành công loài G bobisense thường mọc trên cây cọ dầu
Do có tính dược liệu cao mà nấm Linh chi đã được xác định là đối tượng trên các thực nghiệm học và qui mô trồng công nghiêp ở Hoa Kỳ ( Allice Chen et al., 1996) [24] Việc thành lập viện nghiên cứu nấm Linh chi Quốc tế ở New York được cho là một bước tiến quan trọng , đánh dấu một giai đoan mới trong lĩnh vực nghiên cứu và nuôi trồng nấm Linh chi
Trang 301.5.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh chi ở Việt Nam
Từ thập kỷ 70 trở lại đây, một số cơ quan, đơn vị chủ yếu ở Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu chọn tạo các giống nấm ăn và nấm dược liệu như:
- Trung tâm nghiên cứu nấm ăn - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Khoa Sinh học - Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
- Công ty Dược liệu Trung ương II (TP Hồ Chí Minh)
- Viên nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt
- Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp
Vào năm 1978, loài G lucidium mới bắt đầu được nuôi trồng thành công trong
phòng thí nghiệm Từ năm 1990, nấm Linh chi mới bùng nổ ở thành phố Hồ Chí Minh, lượng nấm Linh chi hàng năm mới đạt khoảng 10 tấn [11], [19], [20] Đến năm
1994, Phạm Quang Thu đã đưa nấm Lim - một chủng nấm Linh chi của vùng rừng lim Bắc Bộ vào nuôi trồng chủ động [19] Năm 1995 - 1996, Lê Xuân Thám ở Viên nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã nuôi trồng thành công 11 chủng Linh chi thuộc 3 chi:
Ganoderma, Amayroderma và Humphreya [13], [14], [15], [16], [17]
Từ năm 1997 đến nay, Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp đã nghiên cứu và nuôi trồng thành công nhiều chủng nấm Linh chi khác nhau, mở rộng phong trào nuôi trồng Linh chi ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
Hiện nay, việc trồng các loại nấm ăn nói chung và nấm dược liệu nói riêng theo hướng sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, mà đặc biệt là nấm Linh chi - một loại nấm dược liệu quý
Tuy nhiên, công tác phát triển nghề trồng nấm ở nước ta trong thời gian qua còn tồn tại một số vấn đề sau:
Các chủng loại giống nấm đưa ra nuôi trồng còn ít so với khu vực và thế giới
Trang 31Công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen nấm cần được đầu tư, học tập và trao đổi nhiều hơn để nâng cao trình độ, chống thoái hóa giống
Các cơ sở nuôi trồng nấm còn nhỏ lẻ, phân tán Quy mô sản xuất còn mang tính thời vụ, thủ công, chưa áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất công nghiệp
Khâu chế biến trình độ còn thấp, chủ yếu là sơ chế và tiêu thụ sản phẩm tuơi Công tác nghiên cứu và các giải pháp về phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất còn chưa được chú ý đúng mức để phát triển nấm bền vững
Công việc nghiên cứu xử lý bã nấm thành nguồn phân bón hữu cơ chưa được đầu tư nhiều, còn bỏ phí nguồn phân hữu cơ rất lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp
Chính vì vậy, lượng nấm sản xuất ra ở nước ta hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước Các sản phẩm nấm được người tiêu dùng sử dụng hiện nay vẫn phải nhập khẩu từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan… và vấn đề về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo
Nhưng hiện nay, dưới định hướng của Chính phủ, các Bộ, Ngành việc phát triển sản xuất Nấm ăn - Nấm dược liệu đã được coi trọng Trong chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, sản phẩm Nấm ăn - Nấm dược liệu đã được đưa vào danh mục Sản phẩm quốc gia
Trang 32CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Nguyên liệu
- Khoai tây, agar, glucose, cao nấm men, pepton, KH2PO4
- Thóc tẻ : Khô, không bị mọt, cùng chủng giống, ít nhựa
- Mùn cưa các loại gỗ không có tinh dầu, không nhiễm mốc, chưa bị xử lý qua hoá chất
- Bột ngô, cám gạo: Nghiền mịn, không mốc, mọt
- Bột CaCO3
2.1.2 Vật tư thiết bị, lán xưởng
- Máy nghiền, máy sàng nguyên liệu
- Máy trộn, dụng cụ cân đo, đồ đựng các loại…
- Dụng cụ khác…
- Thiết bị khử trùng: nồi hơi, lò hấp thủ công, nồi BK75
- Trang thiết bị cấy giống: Phòng cấy, box cấy, dụng cụ cấy… (Phải đảm bảo
vô trùng khi cấy giống)
- Phòng nuôi giống nấm: Cần đảm bảo sạch sẽ, khô, thông thoáng tốt, ánh sáng yếu, điều chỉnh được nhiệt độ
- Lán trại nuôi trồng: Cần đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, sạch sẽ, thông thoáng tốt, khống chế được nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng
2.1.3 Nguồn giống
Gồm 3 chủng nấm linh chi ký hiệu là: DT, D12, D18 Giống nấm được thu thập từ tự nhiên của Việt Nam, hiện được lưu giữ tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật
- Chủng DT (Đối chứng): là giống Linh chi được dùng sản xuất đại trà tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật, được thu thập tại Sơn Động – Bắc Giang
Trang 33- Chủng D12: Là giống nấm Linh chi được thu thập tại Đông Triều – Quảng Ninh
- Chủng D18: Là giống nấm Linh chi được thu thập tại Quảng Nam
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết
- Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đến sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi
- Nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi, sự hình thành quả thể nấm Linh chi trên giá thể nuôi trồng
- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi
- Phân tích một số thành phần hóa sinh cơ bản của quả thể nấm Linh chi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nấm học trong nghiên cứu hình thái quả thể, bào
tử, hệ sợi và nghiên cứu tốc độ mọc của hệ sợi nấm (Trịnh Tam Kiệt, 1981, 1986) [4], [7] Sử dụng phương pháp nuôi trồng thực hiện theo “Công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu”[8]
2.3.1 Phương pháp nuôi cấy đánh giá tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm Linh chi trên môi trường thuần khiết
Bảng 2.1: Thành phần các môi trường thuần khiết (g/lít)
Bột ngô
Cám gạo Pepton KH 2 PO 4 Glucose Agar
II 200 20 20 2 1 20 20