Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với nền kinh tế nước ta
Trang 1Đề tài: Sự phát triển nguồn nhân lực vai trò của nó với sự nghiệp CNH
-HĐH
và với nền kinh tế tri thức ở nước ta Thực trạng và thách thức
-I Khái niệm nguồn nhân lực
Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừanhận như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sựtăng trưởng thì một trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khuvực cũng như thế giới là phải có được một nguồn nhân lực có đủ sức đápứng được những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới,của thời đại
Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động đang có khả năngtham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho
xã hội
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế-xãhội là khả năng lao động cả xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồmnhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểunày nguồn nhân lực tương đương với ngauần lao động
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những conngười cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thểchất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu nàynguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trởlên
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô vàtốc độ tăng nguồn nhân lực Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉtiêu quy mô và tốc độ tăng dân số Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng
Trang 2dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực cànglớn và ngược lại Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực đượcbiểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con người muốn pháttriển đầy đủ, mới có khả năng lao động).
Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế-xã hội, con ngườiđóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó,hướng nó tới mục tiêu nhất định Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơnthuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm mộttổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cáchlàm việc tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồnnhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp là văn hoá lao động.Ngoài ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao động-bao gồm cả cơcấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng
Cũng giống như các nguần lực khác, số lượng và đặc biệt là chấtlượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra củacải vật chất và tinh thần cho xã hội
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động,những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấuhợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng Một quốc gia có lựclượng lao động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành,các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượnglao động đông đảo đó không những không trở thành nguần lực để phát triển
mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển
vai trò của nó với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và với nền kinh
tế tri thức ở nước ta
Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoahọc công nghệ và thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế
Trang 3giữa các khu vực trên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia
đã tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy Tình hình đó đã dẫnđến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xãhối sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giớimới Trong bối cảnh đó, khu vực châu á-Thái Bình Dương đang nổi lên làkhu vực kinh tế năng động nhất Một trong những yếu tố chủ chốt thúc đẩytăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực
Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Để có đượcnền kinh tế tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để pháttriển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phảiđầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu tư chophát triển nguồn nhân lực Suy cho cùng tri thức là hệ quả, là tất yếu của sựphát triển nguồn nhân lực Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thứccần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là phát triển giáo dục vàđào tạo,đặc biệt là đầu tư phát triển nhân tài Nhà kinh tế học người Mỹ,ông Garry Becker-người được giải thưởng Nobel về kinh rế năm 1992, đãkhẳng định:''không có đầu tư nào mang lại nguần lợi lớn như đầu tư chogiáo dục’’ (Nguồn: The Economist 17/10/1992) Nhờ có sự đầu tư cho pháttriển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanhchóng trở thành nước công nghiệp phát triển
Việt nam là nước đang phát triển có lực lượng sản xuất ở trình độthấp, nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm hoàn toàn mới mẻ
Do vậy, có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nayquá xa và không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong CNH,HĐH để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thứckhông chỉ bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, màcòn cả các ngành truyền thống được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao
Trang 4Do đó không nên chờ cho đến khi sự nghiệp CNH, HĐH kết thúc mới tiếnhành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoan này, để phát triển
và theo kịp các nước trên thế giới, chúng ta phải đồng thời quan tâm tớinhững lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận
Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ dàng chúng takhông thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước côngnghiệp phát triển Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình CNH, HĐH đất nước
ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con người Mặt khác do xuấtphát điểm của lực lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ởViệt Nam phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặcthù của mình Do đó việc xác định nội dung các ngành kinh tế trong quátrình CNH, HĐH, chuẩn bị các điều kiện vật chất và con người để tiếp cậnkinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọingành, nhất là các cấp hoạch định chiến lược Trong việc chuẩn bị ấy việcnghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhânlực là quan trọng và cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay
Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao độngđông và rẻ thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có mộtđội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao Chính nhờ lực lượng laođộng có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nước Nics (các nướccông nghiệp mới) vận hành có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sảnxuất ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh cao với các nước công nghiệpphát triển trên thế giới
Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Với tưcách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trò to lớn khôngnhững trong đời sống kinh tế mà còn trong lĩnh vực hoạt động khác Bởivậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách
Trang 5là người lao động sản xuất, mà với tư cách là công dân trong xã hội, một cánhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại không thểthực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu không có đội ngũ đôngđảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng,giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhàlãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng.
Vào những năm 80, quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã trởthành vấn đề quan tâm đặc biệt ở châu á-Thái Bình Dương Con ngườiđược coi là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển Trong thời đại mới,muốn giải quyết hài hoà các yếu tố ciung và cầu có liên quan đến chiếnlược phất triển nguồn nhân lực thì cần xem xét khía cạnh nguồn nhân lựctheo quan hệ một phía Phải thấy được vai trò sản xuất của nguồn là vấn đềcốt lõi của học thuyết vốn con người Và vai trò sản xuất của nguồn nhânlực có quan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng được thể hiện bằng chấtlượng cuộc sống Cơ chế nối liền hai vai trò là trả công cho người lao độngtham gia các hoạt động kinh tế và thu nhập đầu tư trở lại để nâng cao mứcsống của con người tạo nên khả năng nâng cao mức sống cho toàn xã hội
và làm tăng năng suất lao động các nước nghèo ở châu á đều nhận thức
do tốc độ tăng dân số quá nhanh nhiều quốc gia coi việc giảm đói nghèocòn quan trọng hơn cả giáo dục, đó là một thiệt thòi to lớn
Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước với mục tiêubảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, an ninhquốc gia và sự bền vững của môi trường Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thểđạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, hiệu quả kinh tế-xã hội cao khi nềnkinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đóphải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự pháttriển bền vững
Trang 7III Thực trạng, thách thức và xu hướng phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam.
1 Số lượng (quy mô) nguồn nhân lực Việt Nam.
a Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đông dân số với quy mô dân sốđứng
thứ hai Đông nam á và thứ mười ba trên thế giới Một đất nước với cơ cấudân số trẻ với số người trong độ tuổi 16-34 chiếm 60% trong tổng số 35,9triệu người lao động: nguần bổ sung hàng năm là 3%-tức khoảng 1,24 triệungười Theo tổng điều tra dân số ngày 1-4-1999, quy mô dân số nước ta là76,3 triệu người và dự tính đến năm 2010 quy mô dân số nước ta vàokhoảng 95 triệuvà số người trong tuổi lao động gần 58 triệu, chiếm 60,7%dân số Dự báo thời kỳ 2001 đến 2010 cần tạo thêm chỗ làm việc mới chokhoảng 11-12 triệu lao động (chưa kể số lao đông tồn động các năm chuyểnsang), bình quân mỗi năm phải tạo thêm 1,1 đến 1,2 triệu chỗ làm việc mới.Tính đến 1/7/2000, tổng lực lượng lao động cả nước có 38.643.089 người,
so với kết quả điều tra tại thời điểm 1/7/1996 tăng bình quân hàng năm là975.645 người, với tốc độ tăng 2,7% một năm, trong khi tốc độ tăng bìnhquân hàng năm của thời kỳ này là 1,5% một năm
Chỉ tính riêng số lượng cán bộ chính quyền cơ sở ( bao gồm cán bộcông tác ở các xã, phường, thị trấn) cũng cho ta thấy nước ta có số lượnglao đông đảo, số lượng lao động ngày một gia tăng Theo quy định trongNghị định 174/CP ban hành tháng 9 năm 1994, cơ cấu số lượng của uỷ bannhân dân xã, phường, thị trấn gồm có 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và 5 uỷviên uỷ ban Với khoảng 1 vạn xã, đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở gồm
có số lượng trên dưới 70000 người Tuy nhiên, nếu tính theo cách định biêntheo cơ cấu cán bộ cơ sở theo Nghị định 50-CP ngày 26-7-1995 thì ngoài
Trang 8số uỷ viên uỷ ban đã nêu trên, còn có chức danh khác được bố trí theo yêucầu của từng địa phương với mức quy định như sau:
- Dưới 5000 dân: 12 cán bộ
- Từ 5000 dân đến dưới 10000 dân : 14 cán bộ
- Từ 10000 dân đến 15000 dân :16 cán bộ
- Từ 15000 dân đến 20000 dân :18 cán bộ
- Từ 20000 dân trở lên tối đa không quá 20 cán bộ
Từ số cán bộ làm công tác đoàn thể, số cán bộ chính quyền cơ sởgồm chủ tịch uỷ ban nhân dân, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân và các thànhviên của uỷ ban dao động từ khoảng 7 đến 13 người tuỳ theo từng loại xã
Đến Nghị định 09/1998/NĐ-CP ban hành ngày 23-1-1998 số lượngcán bộ chính quyền cơ sở loại xã sau đây được ấn định như sau :
cơ sở trao những quyền hạn nhất định về mặt chính quyền, hợp thành mộtđội ngũ cán bộ đông đảo ở cơ sở và trong toàn quốc
Trang 9So với các nước trong khu vực, quy mô dân số Việt Nam cùng với
Philippin và Thái Lan ở vào khoảng trung bình Nhưng nếu so sánh với thế
giới thì về quy mô dân số, Việt Nam đứng thứ 13, còn trong ASEAN, Việt
Nam xếp thứ hai, chỉ sau Inđônêxia điều đó được thể hiện qua bảng sau:
Một số chỉ tiêu về dân số và lao động của các nước ASEAN
Nước
Dânsố1994(Triệungười)
Tỷ lệ tăng dân số(%) Lực lượng lao động
1960-1992 1992-2000
1994(triệungười)
% tănggiai đoạn90-94
%trongdânsố
Xem bảng trên ta thấy dân số trong toàn khối giai đoạn 1960-1992
còn khá cao, trừ Xingapo có tỷ lệ là 1,7% và trải qua thời kỳ chuyển tiếp
dân số Trong giai đoạn 1992-2000, có thêm Inđônêxia và Thái Lan giảm
được tỷ lệ tăng dân số Riêng Việt Nam luôn nằm ở nhóm có tỷ lệ gia tăng
dân số cao trong khu vực: 2,2% trong giai đoạn 1992-2000 điều này dẫn
đến sự gia tăng lực lượng lao động trong những năm 90 còn cao ở phần lớn
các nước trong khối: Malaixia là 2,8%; Philippin là 3%; Việt Nam là 2,8%;
Xingapo là 2,9% Với tốc độ tăng dân số nhanh và còn được duy trì như
vậy, tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động của Việt Nam trong cả giai đoạn
Trang 101960-1992 và tiếp theo cho đến nay là điều khó tránh khỏi Năm 1986,Việt Nam mới có 30,3 triệu người trong độ tuổi lao động thì đến năm 1995
đã tăng đến 40,2 triệu người, bình quân mỗi năm tăng khoảng một triệungười, tức là khoảng 3,22% Ngoài ra còn phải kể đến số người ngoài độtuỏi lao động nhưng thực tế có làm việc cũng tăng lên, tạo thành một nguầncung cấp về lao động khá dồi dào: cuối năm 1995 có 3,7 triệu người, trong
đó có 1,3-1,4 triệu trẻ em (nguần: kim Ngọc Cương, ''phân tích và dự báothị trường lao động ở nước ta'', Bộ kế hoạch và đầu tư, tạp chí kinh tế và dựbáo, số 5/1997, tr.19)
Đối với Việt Nam, ngoài hai yếu tố về số người trong và ngoài độtuổi lao động kể trên, còn có thể tính đến một số yếu tố mang tính chất biếnđộng cơ học làm tăng nguần lao động của Việt Nam hiện nay như: số bộđội giải ngũ; số lao động đi làm ở các nước Đông Âu, Trung Đông trở về;
số người tỵ nạn ở Thái Lan, Hồng Kông, Malaixia, Việt kiều ở Campuchiahồi hương…
Như vậy, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và thường xuyênđược bổ sung bằng đội ngũ lao động trẻ, hùng hâụ, tạo nên một trongnhững ưu thế cho Việt Nam trong việc tham gia và hoà nhập vào nền kinh
Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhànước thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ương có 129763 người,trong đó có 74% công chức có trình độ từ đại học trở lên
Trang 11Khi nói đến nguồn nhân lực của một quốc gia thường người ta hay
quan tâm đến số lượng học sinh, sinh viên được đào tạo hàng năm ở các
trường trung học chuyên nghiệp, trường công nhân kỹ thuật, các trường
đại học, cao đẳng trong quốc gia đó Bởi đó là con số nói lên số lao động
được đào tạo hàng năm và chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia ở Việt
Nam, số học sinh và sinh viên thuộc các trường trung học chuyên nghiệp,
kỹ thuật, cao đẳng và đại học trong cả nước từ năm 1992 đến năm 1997
(chỉ tính học sinh, sinh viên hệ chính quy) như sau:
Theo bảng trên ta thấy, cơ cấu đào tạo ở các cấp bậc rất khác nhau, số
sinh viên cao đẳng,đại học tăng nhanh trong những năm gần đây, trong khi
đó số học sinh trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật tăng rất
chậm và biến đổi bất thường khi lên khi xuống nhất là số công nhân kỹ
thuật Nếu năm 1994 các trường công nhân kỹ thuật có 74.700 học sinh, thì
năm 1995 còn 58.700 học sinh , song đến năm 1997 lại tăng lên 102.500
học sinh Chính điều đó tạo nên sự thiếu hụt lớn số công nhân kỹ thuật và
cán bộ có trình độ trung cấp, và ngược lại dẫn tới sự lãng phí chất xám, bởi
sẽ có những sinh viên có trình độ cao đẳng hoặc đại học đảm nhận những
công việc của công nhân kỹ thuật hoặc trung cấp Hiện nay số sinh viên đại
học, cao đẳng vẫn tiếp tục tăng nhanh, năm 2000 số sinh viên cao đẳng, đại
Trang 12học là gần 1 triệu bằng 1,8 lần năm 1995, vượt dự kiến kế hoạch 5 năm(1996-2000) là 13% (Lê Quang Trung: biện pháp cho vấn đề lao động thấtnghiệp ở thành thị-Vụ chính sách lao động và việc làm) và năm học 2001-
2002 tổng chỉ tiêu cho các trường cao đẳng, đại học tăng 5% tức khoảng160.000 sinh viên, tăng 10.000 sinh viên so với năm trước
Số học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường trung học chuyênnghiệp, kỹ thuật, cao đẳng và đại học năm 1992 là 103.500 người, thì đếnnăm 1996 là 212.900 người và năm 1997 là 213.000 người bổ sung cho nguồn nhân lựccủa đất nước
Tỷ lệ lao động được đào tạo trong tổng lực lượng lao động xã hộităng lên hằng năm được thể hiện qua bảng sau:
Năm Tỷ lệ lao động được đào tạo/tổng lực lượng lao động xã hội(%)
Nguồn: dự thảo Nghị quyết Trung ương 4 khoá 8-Bộ chính trị.
Tính đến năm 1998, số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đạihọc là trên 930.000 người, trong đó khoảng trên 10.000 người là cán bộ cótrình độ trên đại học đội ngũ này chiếm 2,3% lực lượng lao động xã hội
Số sinh viên tốt nghiệp đại học hàng năm khoảng 25.000 người có học vịtrên đại học bổ xung vào nguồn nhân lực chất lượng câo Hàng năm ở ViệtNam tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trên 1000 dân đang tăng lên:
Năm Tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học/1000 dân
Trang 131996 11
Trong khi đó ở các nước khác là:
Nước Tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học/1000 dân
So sánh các số liệu trên ta thấy giữa số lượng nguồn nhân lực được
đào tạo ở Việt Nam so với các nước khác vẫn đang còn khoảng cách khá
xa, chứ chưa nói đến nguồn nhân lực có chất lượng cao Mặt khác cơ cấu
đào tạo nguồn nhân lực cũng chưa phù hợp, thể hiện ở cỗ một số ngành
được đào tạo ồ ạt như ngành kinh tế, luật trong khi đó các ngành kỹ thuật,
công nghệ tin học, khoa học cơ bản chưa được coi trọng đúng mức
Do đó, xét cả những điều kiện kinh tế-xã hội lẫn những điều kiện về
nguồn nhân lực cho thấy chúng ta chưa đủ điều kiện để xây dựng nền kinh
tế tri thức, mà chỉ tiếp cận nó trên một số lĩnh vực chúng ta có khả năng
Hiện nay, giá nhân công ở Việt Nam vẫn còn rất thấp không chỉ so
với các nước trên thế giới mà ngay cả với các nước trong khu vực
Bảng:Lương tháng trung bình trong công nghiệp của một số nước
ASEAN
theo ftăng)