MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Đảng ta khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế; Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các nước trên thế giới, đặc biệt là về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm khai thác, kế thừa những thành tựu của nhân loại phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, không những có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với quốc gia thiết lập chế độ xã hội: xã hội chủ nghĩa như Việt Nam. Xét trong thực tiễn lịch sử chính trị xã hội, đối với các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại như Anh, Mỹ, Pháp đã vận dụng thành công, linh hoạt nguyên tắc tam quyền phân lập trong việc thiết lập bộ máy nhà nước, điển hình là nước Mỹ, một nhà nước được xây dựng trên mô hình “Tam quyền phân lập” một cách triệt để nhất. Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế nhất định nhưng nguyên tắc tam quyền phân lập vẫn có giá trị lịch sử lâu dài trong kho tàng tư tưởng của nhân loại và cho đến ngày hôm nay, trong thực tiễn đời sống chính trị đương đại, nó vẫn luôn khẳng định ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước có được nghiên cứu nhưng do tâm lý còn né tránh trước những tư tưởng của các học giả tư sản nên chưa có cái nhìn khách quan, khoa học. Vì thế, việc phân tích sâu sắc nguyên tắc tam quyền phân lập để thấy được những hạt nhân hợp lý trong xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp vẫn rất hạn chế. Hiện nay, trong xu hướng chung của sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta, vấn đề đổi mới và đi đến hoàn thiện thể chế chính trị đạt các tiêu chuẩn: toàn diện, đồng bộ, khoa học và thực tiễn đang được coi trọng đặc biệt và là một trong những nhiệm vụ vô cùng cấp thiết đang đặt ra cho Đảng, và Nhà nước ta để hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Bởi, việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tương lai chính là biện pháp hữu hiệu để Việt Nam tránh khỏi bốn nguy cơ, thách thức lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra tại Hội nghị trung ương giữa nhiệm kì khoá VII (11994) trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy nên, việc phát hiện ra những giá trị tích cực, đồng thời loại bỏ những hạn chế nhất định để học tập, kế thừa và vận dụng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nghiên cứu mang tính cấp thiết. Với những lý do trên, tác giả lựa chọn: “Nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp và những giá trị tham khảo cho Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Đảng ta khẳng định đường lối đốingoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốctế; Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồngquốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu,tìm hiểu các nước trên thế giới, đặc biệt là về tổ chức bộ máy nhà nước nhằmkhai thác, kế thừa những thành tựu của nhân loại phục vụ sự nghiệp đổi mớiđất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, khôngnhững có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với quốc giathiết lập chế độ xã hội: xã hội chủ nghĩa như Việt Nam
Xét trong thực tiễn lịch sử chính trị - xã hội, đối với các nước tư bảnchủ nghĩa hiện đại như Anh, Mỹ, Pháp đã vận dụng thành công, linh hoạtnguyên tắc tam quyền phân lập trong việc thiết lập bộ máy nhà nước, điểnhình là nước Mỹ, một nhà nước được xây dựng trên mô hình “Tam quyềnphân lập” một cách triệt để nhất
Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế nhất định nhưng nguyên tắc tamquyền phân lập vẫn có giá trị lịch sử lâu dài trong kho tàng tư tưởng của nhânloại và cho đến ngày hôm nay, trong thực tiễn đời sống chính trị đương đại,
nó vẫn luôn khẳng định ý nghĩa tích cực
Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổchức bộ máy nhà nước có được nghiên cứu nhưng do tâm lý còn né tránhtrước những tư tưởng của các học giả tư sản nên chưa có cái nhìn khách quan,khoa học Vì thế, việc phân tích sâu sắc nguyên tắc tam quyền phân lập đểthấy được những hạt nhân hợp lý trong xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước
ở Anh, Mỹ, Pháp vẫn rất hạn chế
Trang 2Hiện nay, trong xu hướng chung của sự nghiệp đổi mới toàn diện ởnước ta, vấn đề đổi mới và đi đến hoàn thiện thể chế chính trị đạt các tiêuchuẩn: toàn diện, đồng bộ, khoa học và thực tiễn đang được coi trọng đặc biệt
và là một trong những nhiệm vụ vô cùng cấp thiết đang đặt ra cho Đảng, vàNhà nước ta để hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Bởi, việc xây dựng thành công Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tương lai chính là biện pháp hữu hiệu
để Việt Nam tránh khỏi bốn nguy cơ, thách thức lớn mà Đảng Cộng sản ViệtNam đã chỉ ra tại Hội nghị trung ương giữa nhiệm kì khoá VII (1-1994) trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hộichủ nghĩa
Vậy nên, việc phát hiện ra những giá trị tích cực, đồng thời loại bỏnhững hạn chế nhất định để học tập, kế thừa và vận dụng trong quá trình xâydựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
là một vấn đề nghiên cứu mang tính cấp thiết
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn: “Nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp và những giá trị tham khảo cho Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài khoá luận đã có rất nhiều công trình nghiên cứucủa các nhà khoa học được công bố dưới hình thức khác nhau như: sách, đềtài, luận văn và các bài báo đăng trên tạp chí khoa học khác nhau,…
Tiêu biểu là một số công trình khoa học, là tài liệu chuyên khảo vôcùng có giá trị đối với các đề tài nghiên cứu khác, đặc biệt trong khoa họcchính trị như:
Nguyễn Văn Động (2014): Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 3Khi trình bày về nhà nước tư sản hay pháp luật tư sản, tác giả cuốn sách
đề cập đến bộ máy nhà nước tư sản được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc tamquyền phân lập Pháp luật tư sản cũng vậy, công khai tuyên bố nguyên tắcphân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản,theo đó quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lực độc lậpvới nhau là quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp, quyền lực tư pháp và ba
cơ quan thực hiện ba quyền lực đó là Nghị viện, Chính phủ, Toà án Tối caođộc lập với nhau, kiềm chế, đối trọng và kiểm soát lẫn nhau Như vậy, trongcuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Động đã chứa đựng những nội dung kiếnthức hết sức cơ bản về nhà nước và pháp luật
Dương Xuân Ngọc (2008): Thế chế chính trị thế giới đương đại, Nxb.
Chính trị - Hành chính, Hà Nội
Cuốn sách là tài liệu chuyên khảo cơ bản đối với sinh viên và học viênđang theo học ngành Chính trị học Nội dung cuốn sách trình bày hết sứcphong phú với những tri thức cần thiết, tập trung giới thiệu lịch sử hình thành
và đặc trưng cơ bản của các mô hình thể chế chính trị tiêu biểu trên thế giới.Hiện nay, thế giới có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng đều thiết lậpthể chế chính trị theo một trong các loại hình: hoặc quân chủ (quân chủ tuyệtđối, quân chủ nhị nguyên, quân chủ đại nghị) hoặc cộng hoà (cộng hoà tổngthống, cộng hoà đại nghị, cộng hoà hỗn hợp, cộng hoà xô viết) Việc lựa chọncác nước để nghiên cứu, phân tích chủ yếu dựa vào tiêu chí là điển hình các
mô hình phương Tây, phương Đông, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.Nghiên cứu thể chế các nước ASEAN để hiểu rõ hơn các quốc gia trong khuvực có quan hệ láng giềng gần gũi với Việt Nam
Trần Ngọc Liêu (2013): Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin về nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 4Cuốn sách đã khái quát và làm rõ giá trị lý luận, quan điểm của chủnghĩa Mác – Lenin về nhà nước; nghiên cứu các quan điểm tiêu biểu về nhànước pháp quyền trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xây dựng nhận thức lýluận bàn về bản chất nhà nước pháp quyền, đề xuất một số phương hướngnhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam Cuốn sách đã đề cập đến tư tưởng phân chia quyền lực nhà nướccủa Montesquieu khi nói đến quan niệm tiêu biểu về nhà nước pháp quyềntrên thế giới cận hiện đại Tác giả đã chỉ rõ vấn đề chính Montesquieu muốn
đề cập trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” cũng như những phương án màMontesquieu đã đề xuất nhằm hướng tới bảo đảm các quyền tự do của conngười bằng cách tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “tam quyềnphân lập”
Trương Hồ Hải (2014): “Cân bằng và kiểm soát” quyền lực từ góc nhìn của vụ đóng cửa Chính quyền Liên bang Mỹ năm 2013, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 3
Bài báo là một công trình nghiên cứu sâu sắc của tác giả về giá trị vàhạn chế của tư tưởng chính trị “tam quyền phân lập” của S Montesquieu đốivới nước Mỹ - một đất nước có thể nói là đã áp dụng cơ chế phân quyền triệt
để nhất Tác giả bài báo đã chỉ ra: Theo Hiến pháp Mỹ năm 1787, nước Mỹ
đã thiết lập hệ thống liên bang – phân chia theo chiều dọc quyền lực củaChính phủ quốc gia và chủ quyền nhà nước của các tiểu bang và thể chế phânquyền – phân chia theo chiều ngang quyền lực giữa ba nhánh: lập pháp, hànhpháp và tư pháp Ý tưởng về phân quyền nhằm hạn chế sự lạm dụng quyềnlực và gia tăng tính hiệu quả, tác dụng của phân quyền được thể hiện quaphạm trù “cân bằng và kiểm soát” quyền lực Và từ thực tế, vụ đóng cửa củaChính phủ Liên bang Mỹ năm 2013, tác giả Trương Hồ Hải đã phân tích rõ sự
“cân bằng và kiểm soát” quyền lực thực tế hiện nay ở nước Mỹ như thế nào?
Trang 5Đào Trí Úc (2014): Học thuyết và thực tiễn lịch sử về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và cơ chế phân quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 5
Bài báo của tác giả đã khái quát ngắn gọn về học thuyết cũng như thựctiễn lịch sử về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và cơ chế phân quyền.Khi nói về tính thống nhất của quyền lực nhà nước, tác giả đã phân tích sựthống nhất của quyền lực trên các phương diện: về bản chất xã hội, về cácmục tiêu và khuynh hướng phát triển, về mặt tổ chức và quản lý,…
Khi đề cập đến cơ chế phân quyền, tức khía cạnh tổ chức và pháp lýcủa quyền lực nhà nước, ông cho rằng, mục đích cao nhất và cơ bản nhất củaphân quyền là để phòng ngừa sự lạm quyền, chiếm đoạt quyền lực bởi mộtnhóm hay cá nhân và duy trì tính toàn vẹn, tính thống nhất của quyền lực Do
đó, ta thấy được sự biện chứng mà tác giả Nguyễn Trí Úc đã chỉ ra khi nói vềmối quan hệ giữa tính thống nhất và cơ chế phân quyền, đặc biệt là ý nghĩacủa mối quan hệ đó đối với sự kiểm soát quyền lực nhà nước
Như vậy, trong bài báo để chứng minh cho những luận điểm của mình,đặc biệt là cơ chế phân quyền, tác giả đã phân tích khá rõ về cơ chế phânquyền ở các nước tư bản chủ nghĩa hay là sự vận dụng nguyên tắc tam quyềnphân lập vào trong thực tiễn tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước Tác giảcũng không quên chỉ ra sự vận dụng của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đóông lưu ý đến Việt Nam khi đã có sự vận dụng, bổ sung cho cơ chế phânquyền một thành tố mới: phối hợp quyền lực
Tóm lại, các công trình nghiên cứu khoa học trên đều đã trình bày kháiquát về cơ sở hình thành, nội dung, thực tế việc vận dụng nguyên tắc tamquyền phân lập trên thế giới từ các phương diện tiếp cận, hướng nghiên cứukhác nhau Song, việc trình bày một cách cụ thể việc vận dụng nguyên tắc này
ở một số nước như Anh, Mỹ Pháp cũng như giá trị thực tiễn dưới góc độ
Trang 6Chính trị học vẫn còn rất hạn chế Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu liênquan đến đề tài chính là nguồn tham khảo hữu ích cho đề tài nghiên cứu củatác giả
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề khái quát về Anh, Mỹ, Pháp, về thểchế chính trị của ba quốc gia này cũng như quá trình hình thành và phát triểnthuyết tam quyền phân lập, khóa luận làm rõ thực tiễn nguyên tắc tam quyềnphân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp và rút ra những giátrị tham khảo cho Việt Nam
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận xác định các nhiệm vụ trọng tâmnhư sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thể chế chính trị Anh,
Mỹ, Pháp và sự hình thành, phát triển thuyết tam quyền phân lập
- Làm rõ thực tiễn nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhànước Anh, Mỹ, Pháp hiện nay và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh,
Mỹ, Pháp
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chỉ tập trung làm rõ thực tiễn nguyên tắc tam quyền phân lập
trong tổ chức bộ máy nhà nước ở ba quốc gia là Anh, Mỹ, Pháp
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1.Cơ sở lý luận
Trang 7Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối,chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử
Phương pháp cụ thể: Khoá luận chủ yếu sử dụng phương pháp phântích – tổng hợp, logic – lịch sử, so sánh, phương pháp diễn dịch – quy nạp,phương pháp nghiên cứu tài liệu,…
6.Đóng góp mới của khoá luận
Khóa luận đã bước đầu tập trung nghiên cứu sâu về mối quan hệ cơ bảngiữa các cơ quan quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháptheo hướng tiếp cận Chính trị học, trước hết là từ lý do vì sao phải phân chiaquyền lực nhà nước cho đến sự phân phối giữa các cơ quan quyền lực đảmbảo sự độc lập, kiềm chế và kiểm soát quyền lực để tránh sự tập trung quámức dẫn đến quyền lực bị tha hoá Từ đó, khoá luận cũng đã phân tích được
giá trị tham khảo và sự vận dụng nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ
chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp đối với quá trình cải cách tổ chức vàhoạt động đối với Nhà nước Việt Nam nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa vững mạnh và hiệu quả
7.Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dungcủa khoá luận gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 8CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC TAM QUYỀN PHÂN LẬP TRONG
TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC Ở ANH, MỸ, PHÁP - MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái quát chung về Anh, Mỹ, Pháp
1.1.1 Khái quát chung về nước Anh
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (gọi tắt là Vương quốc Anh,tên tiếng Anh: United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland) nằm
ở phía Tây Bắc châu Âu, gồm đảo Grây-tơ Britain với các vùng Anh (thủ phủLondon), vùng Scotland (thủ phủ Edinburgh), xứ Wales (thủ phủ Cardiff) vàvùng Bắc Ireland (thủ phủ Belfast) Ngoài ra còn có trên 4.000 hòn đảo khác,tổng diện tích là 244.820km2.Vương quốc này có chung đường biên giới vớiCộng hòa Ireland và dễ dàng lưu thông qua các nước châu Âu như Thụy Sỹ,Đức, Pháp, Ý,
Khí hậu ôn đới của Vương quốc Anh trở nên ấm áp hơn nhờ dòng hảilưu Bắc Đại Tây Dương Lượng mưa thay đổi từ 500 mm ở Tây Nam đến5.000 mm ở Tây Bắc Scotland
Vương quốc Anh có nhiều than đá, khí đốt tự nhiên và dầu mỏ dự trữ;ngành sản xuất năng lượng chiếm 10% GDP Do vị trí địa lý là một quần đảo,Anh có tiềm năng lớn để sản xuất điện từ năng lượng sóng biển và thủy triều
1.1.1.2 Kinh tế
Vương quốc Anh là một trong những trung tâm kinh tế và tài chínhhàng đầu, đứng thứ ba sau Đức và Pháp ở châu Âu Nước Anh có một nềnnông nghiệp phát triển mạnh mẽ với hệ thống trang thiết bị hiện đại đạt tiêuchuẩn châu Âu Chỉ chưa đến 2% lực lượng lao động có thể sản xuất được60% sản lượng thực phẩm
Trang 9Ngành dịch vụ, ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ kinh doanh đóng góprất lớn vào GDP, trong khi đó ngành công nghiệp thì lại suy giảm nghiêmtrọng Song nhìn chung nước Anh vẫn là nước có nền kinh tế phát triển, mứctăng trưởng kinh tế vào loại cao
Anh là nước rất thuận lợi để đầu tư Ngoài việc giá cả, thuế kinh doanhthấp nhất trong số các nước công nghiệp, nước Anh còn có một mạng lướiviễn thông rất phát triển
1.1.1.3 Dân cư
Hiện nay, dân số Vương quốc Anh có gần 64,6 triệu người, tươngđương mức tăng 0,77%, trong đó người Anh chiếm hơn 83,6%, người xứWales 4,9%, người Scotland 8,6%, Bắc Ireland khoảng 2,9% Mật độ dân cư255,6 người/km², tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân số là 226.200
Ngôn ngữ chính là tiếng Anh, ngoài ra còn có các thứ tiếng Wales,Scotland, Bắc Ireland,…được sử dụng rộng rãi trong các xứ, vùng dân tộcthiểu số
Về tôn giáo, có trên 27 triệu người theo Anh quốc giáo, 9 triệu ngườitheo Thiên chúa giáo, gần 1 triệu người theo Hồi giáo, 800 nghìn người theoTin lành, 350 nghìn người theo Ấn giáo, 300 nghìn người theo đạo Do thái,…
1.1.2 Khái quát chung về nước Mỹ
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Mỹ là tên gọi tắt của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (United States ofAmerica) Nước Mỹ gồm 50 bang và một quận liên bang, diện tích 9.364.000
km2, rộng thứ tư trên thế giới (sau Nga, Canada, Trung Quốc) Mỹ giáp TháiBình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc vàMexico ở phía nam Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địaBắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái BìnhDương Mỹ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải ráctrong Biển Caribe và Thái Bình Dương
Trang 10Lãnh thổ Mỹ tuy rộng, song địa hình tương đối đơn giản Mỹ là mộttrong những nước giàu có nhất về tài nguyên khoáng sản trên thế giới, cả vềtrữ lượng và sự phong phú về các loại Đáng chú ý hơn cả là: than đá, dầu mỏ,khí đốt tự nhiên, quặng sắt, các loại kim loại màu (đồng, chì, kẽm,…), quặngkim loại quý và hiếm
Vì Mỹ có diện tích lớn và có nhiều địa hình rộng lớn nên gần như có tất
cả các loại khí hậu Khí hậu ôn hòa có ở đa số các vùng, khí hậu nhiệt đới ởHawaii và miền nam Florida, khí hậu địa cực ở Alaska, khí hậu Địa TrungHải ở duyên hải California
1.1.2.2 Kinh tế
Mỹ có một nền kinh tế hỗn hợp tư bản chủ nghĩa được kích thích bởitài nguyên thiên nhiên phong phú và cơ sở hạ tầng phát triển tốt Mỹ là nềnkinh tế lớn nhất và có năng suất cao nhất thế giới Dân số Mỹ chỉ bằng 4,5%dân số thế giới nhưng nước này hiện chiếm đến 1/5 tổng sản phẩm quốc nội(GDP) toàn cầu Ngoài ra, Mỹ còn là một trong số ít các quốc gia phát triển
có GDP thực cao hơn mức đạt được trước khi cơn khủng hoảng kinh tế xảy rahồi năm 2008
Mỹ dẫn đầu thế giới về lượng hàng hóa sản xuất có tổng giá trị là 1.900
tỷ USD trong năm 2012, tăng 27% so với năm 2009
Mỹ là một trong những nước xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ lớn nhấtthế giới với kim ngạch xuất khẩu của cả năm 2012 đạt giá trị 2.200 tỷ USD,tăng gần 40% so với năm 2009
Mỹ có trữ lượng dầu mỏ khổng lồ, sản lượng khai thác dầu trong nướccủa Mỹ lần đầu tiên vượt qua lượng nhập khẩu trong 16 năm trở lại đây Mỹ
sẽ qua mặt Ả Rập Xê Út để trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới vàonăm 2017 và là nhà xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới vào năm 2020, theo báocáo nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)
Trang 111.1.2.3 Dân cư
Về dân cư, Mỹ là một trong những nước đông dân nhất thế giới Cụcđiều tra dân số Mỹ thông báo dân số Mỹ đến hết năm 2014 tăng 0,73% so vớinăm 2013, đạt hơn 320 triệu người Thành phần dân cư tương đối phức tạp và
số lượng tăng rất nhanh Số người nhập cư vào Mỹ ngày càng tăng, đặc biệt
từ các nước láng giềng Mỹ Latinh Theo dự đoán, có thể đến năm 2050, sốngười da trắng sẽ ít hơn các chủng tộc khác cộng lại
Phần lớn dân Mỹ sống ở thành thị (chiếm 75%) Các thành phố đôngdân là NewYork trên 7 triệu người, Los Angeles gần 3,5 triệu, Chicago gần 3triệu, Philađenphia, Đitơroi, Bôxton, Hauxton,…
Đa số dân Mỹ tin theo các tôn giáo, trong đó: Tin lành (61%), ThiênChúa giáo (25%), Do thái (5%),… chỉ có 7% dân số vô thần
1.1.3 Khái quát chung về nước Pháp
1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Pháp là đất nước lớn nhất Tây Âu (chiếm gần 1/5 diện tích của Cộngđồng Châu Âu ), diện tích 551.600 km2 với một khu vực lãnh hải rộng lớn(các khu vực khai thác kinh tế trải dài trong khoảng 11 triệu km2)
Về địa hình, nước Pháp có hai phần đồng bằng và đồi núi tương đươngnhau Hai vùng đồng bằng lớn là Bắc Pháp (vùng Pari) và Akiten (miền TâyNam) Các dãy núi quan trọng đều nằm ở biên giới (Anpơ, Pyrênê), trong nộiđịa có dãy Trung tâm
Khí hậu nước Pháp nhìn chung là ôn hòa, chịu ảnh hưởng kết hợp củakhí hậu Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và khí hậu lục địa Diện tích rừngchiếm 1/3 lãnh thổ đất nước,các dải rừng tương đối lớn nằm ở phía đông
Về khoáng sản, Pháp có nhiều quặng sắt (trữ lượng đứng đầu Tây Âu),quặng bôxit, kali, quặng uranium,…Trữ lượng than đá không lớn, chủ yếu ởmiền Bắc và Đông Bắc Vùng Tây Nam có mỏ dầu và khí đốt tự nhiên Quặngkim loại màu có chì, kẽm, thiếc,…
Trang 121.1.3.2 Kinh tế
Pháp là một thành viên nhĩm các nước cơng nghiệp phát triển nhất thếgiới G8, kinh tế Pháp xếp hàng thứ 6 thế giới năm 2015, sau Hoa Kỳ, NhậtBản, Đức, Trung Quốc và Anh Quốc; đồng thời, là một nước cĩ nền kinh tếphát triến tương đối tồn diện và đồng đều cả cơng nghiệp lẫn nơng nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân đĩng vai trị quan trọng trong nền kinh tế Pháp.Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay, Pháp cĩ khoảng gần 2,5 triệu doanhnghiệp tư nhân (đã đăng ký) Tuy đây là một nền kinh tế thị trường tự do pháttriển nhưng nhà nước vẫn giữ ảnh hưởng lớn trên những lĩnh vực cơ sở hạtầng quan trọng Nhà nước sở hữu đa số vốn trong các ngành đườngsắt (SNCF), điện (EDF), hàng khơng (Air France) và các cơng ty viễnthơng (France Telecom) Từ đầu thập kỷ 90, nhà nước Pháp đã dần dần nớilỏng kiểm sốt bằng việc nâng dần tỷ lệ vốn sở hữu tư nhân trong các doanhnghiệp quan trọng cũng như trong các ngành bảo hiểm, ngân hàng và cơngnghiệp quốc phịng
Pháp đang đứng đầu thế giới về các lị phản ứng hạt nhân tái sinh vàphĩng vệ tinh thương mại, thứ nhì về cơng nghệ khai thác dầu khí ngồi khơi,thứ ba về cơng nghiệp vũ trụ Tài năng thiết kế của người Pháp cịn được thểhiện trong việc chế tạo tàu hoả cao tốc, thiết bị điện phức tạp, tên lửa, vệ tinhviễn thơng, máy bay (siêu thanh Concorde, Airbus, Caravelle, Mystère,Mirage) Các hãng Renault và PSA Peugeot Citroën là những nhà sản xuất ơtơhàng đầu thế giới và đang chiếm 24% thị phần Châu Âu
1.1.3.3 Dân cư
Về dân cư, vào nửa đầu thế kỷ XIX, dân số Pháp đơng nhất Tây Âunhưng do tỷ lệ tăng dân số rất thấp nên đến nay nước Pháp cĩ số dân khoảng65.630.692 người Mật độ dân cư khoảng 111 người/km² (thấp hơn Anh, Đức,Italia), nhưng phân bố khơng đều, tập trung ở các khu cơng nghiệp (miền Bắc,
Trang 13vùng Lion, miền duyên hải phía Nam và Đông Nam), các vùng núi dân cưthưa thớt
Về thành phần dân tộc, người Pháp khá thuần nhất, chiếm 87%, còn lại
là các dân tộc nhập cư: A rập - 3%, Đức - 2% và các dân tộc: Ý, Hy Lạp, TâyBan Nha, Bồ Đào Nha, Hoa, Việt,… Do số người nhập cư vào Pháp ngàycàng tăng, chính quyền đã thi hành nhiều chính sách hạn chế tối thiểu nhữngngười này
Hầu hết người Pháp theo Công giáo (87%) nhưng trong nội bộ tôn giáonày luôn chia rẽ và tiềm ẩn những mâu thuẫn xã hội Kể từ năm 1905, khigiáo hội bị tách ra khỏi nhà nước, Công giáo mất đi vai trò trung tâm tạo racác giá trị và định hướng chính trị Ngoài ra, ở Pháp còn có các tôn giáo khác:đạo Hồi (chiếm 3%), đạo Phật,…
1.2 Đặc trưng thể chế chính trị Anh, Mỹ, Pháp
1.2.1 Đặc trưng thể chế chính trị Anh
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland là nướctheo thể chế quânchủ đại nghị, bao gồm những đặc trưng sau:
Thứ nhất, Hiến pháp bất thành văn và chủ quyền thuộc về Nghị viện.
Anh không có một văn kiện duy nhất chỉ rõ sự cấu thành và quyền lực của cácthể chế nhà nước và các quyền công dân Những điều này được xác địnhtrong một số luật, thông lệ và quy ước cơ bản Nghị viện thường tuân thủnhững luật mang tính hiến pháp này, nhưng không chính thức bị ràng buộcbởi chúng Thậm chí các luật cơ bản cũng không có địa vị đặc biệt và chúng
có thể bị thay đổi bởi Nghị viện, cũng như các luật khác, các tòa án không cóquyền xem xét về mặt tư pháp
Thứ hai, người đứng đầu nhà nước là biểu tượng của sự thống nhất phi
chính trị và không thiên vị Đối với các xã hội đa nguyên, đây là nhân tố quantrọng, tránh các yếu tố đảng phái chi phối Tuy nhiên, họ vẫn có quyền, ví dụ:
Trang 14bổ nhiệm Thủ tướng, nhất là khi các phe phái trong Nghị viện không đạt được
sự thoả thuận Nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan Lập pháp
và Hành pháp, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang và là người đứngđầu Giáo hội Anh Trên thực tế, quyền lực của Nữ hoàng chỉ mang tính chấttượng trưng Ngoài ra, Nữ hoàng là nguyên thủ của 15/48 nước thuộc khốiLiên hiệp Anh
Thứ ba, cơ quan lập pháp,quyền lực tối cao thuộc về Nghị viện, tuy
nhiên, trên thực tế vai trò của Nghị viện bị Chính phủ và đảng cầm quyền chiphối Quốc hội Anh được cấu thành bởi ba thành phần: Vua (hay Nữ hoàng),Thượng viện và Hạ viện và cả ba thành phần chỉ họp chung trong những sựkiện đặc biệt (như khi Nữ hoàng khai mạc Quốc hội mới) Hạ viện là cơ quanduy nhất được dân bầu, tất cả quyền lực tập trung vào Hạ viện, không có chỗcho yếu tố dân chủ trực tiếp, chẳng hạn trưng cầu ý dân Do đó, nền dân chủAnh là nền dân chủ đại diện độc quyền
Anh theo chủ nghĩa lưỡng viện, quan hệ giữa Hạ viện và Thượng viện
là không đối xứng, hầu như tất cả quyền lực lập pháp thuộc về Hạ viện.Quyền lực duy nhất mà Thượng viện vẫn còn là có thể trì hoãn Mô hình nàyđang tiến tới hệ thống một viện
Thứ tư, cơ quan hành pháp có sự tập trung quyền lực trong tay Thủ
tướng, chức năng chính là điều hành Nội các, kiến nghị cho Nữ hoàng bổnhiệm các giám mục và quan tòa Thủ tướng có quyền, được sự đồng ý của
Nữ hoàng tuyên bố giải tán Quốc hội và định ngày tuyển cử Quốc hội Thủtướng Anh thực sự kiểm soát bộ máy nhà nước do luôn có sự ủng hộ củaQuốc hội và quyền cách chức các thành viên Chính phủ, quyền bổ nhiệm cácquan chức của hệ thống tòa án Ở điểm này, Thủ tướng Anh có thực quyềnhơn Tổng thống Mỹ, người đôi khi không kiểm soát được Quốc hội Nội các
là cơ quan quyền lực cao nhất trong Chính phủ, được tạo thành bởi thành viên
Trang 15của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, thiểu số không được tham gia Hai đảngthay nhau cầm quyền, sức mạnh ngang nhau, đảng chiến thắng thường đạidiện cho một đa số tương đối Vì vậy, Nội các của một đảng là biểu hiện điểnhình cho nguyên tắc của sự cai trị của đa số nhưng không áp đảo Một thiểu
số lớn bị gạt ra khỏi quyền lực và bị buộc phải chấp nhận vai trò phe đối lập
Chính phủ Anh là chính phủ nghị viện, Nội các phụ thuộc vào sự tínnhiệm của Nghị viện, ngược lại với chế độ tổng thống Mỹ, bộ máy hành phápkhông thể bị bãi miễn bởi Nghị viện Về lý thuyết: Nghị viện có thể gạt Nộicác ra khỏi quyền lực, kiểm soát Nội các Tuy nhiên, trên thực tế, quan hệ lại
bị đảo lộn lại, vì Nội các được thành lập bởi đảng nắm đa số trong Hạ viện, vìthế nó thường được hậu thuẫn bởi đa số Hạ viện, và nó có thể yên tâm nắmquyền và khiến cho các đề xuất lập pháp của nó được thông qua Nội cácchiếm vị trí chi phối đối với Hạ viện
Thứ năm, về hệ thống Đảng chính trị, ở Anh tồn tại hai đảng chính là
đảng Công đảng và đảng Bảo thủ, hai đảng này thay nhau cầm quyền Tuynhiên, đảng Tự do và đảng Dân chủ - xã hội (do những người rời bỏ Côngđảng lập ra vào đầu thập kỷ 80) ngày càng phát triển và đã từng đe doạ hệthống hai đảng Cần nhấn mạnh rằng, Công đảng trên danh nghĩa đại diện chotầng lớp trung lưu dưới, người lao động, nhưng thực tế bảo vệ cho quyền lợicủa giai cấp tư sản, đặc biệt là có chính sách đối ngoại hiếu chiến, luôn ủng
hộ Mỹ trong chạy đua vũ trang và tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lượccác nước khác (Nam Tư, Iraq,…)
Xã hội Anh là xã hội đồng nhất cao, vấn đề kinh tế - xã hội là khía cạnhduy nhất dẫn đến sự chia tách rõ ràng và lâu bền giữa các đảng lớn
Thứ sáu, thể chế bầu cử theo nguyên tắc đa số tương đối: 650 thành
viên Hạ viện được bầu tại các hạt được đại diện bởi một thành viên duy nhấttheo phương pháp đa số tương đối – hệ thống “người đầu tiên chạm mốc”,người cao phiếu nhất thắng cuộc
Trang 16Thứ bảy, Chính quyền trung ương thống nhất và tập trung, chính quyền
địa phương chỉ thực hiện những quyết định của chính quyền trung ương vàquyền lực của chúng không được đảm bảo về mặt hiến pháp (như trong hệthống liên bang) Chúng phụ thuộc vào trung ương về mặt tài chính Tuynhiên, vẫn có những khu vực được xác định rõ ràng về mặt địa lý hoặc về mặtchức năng mà từ đó quyền lực của đa số ở Hạ viện và Nội các bị kiểm soát.Hiện nay Bắc Ireland, Scotland, xứ Walesđã có Quốc hội và Chính phủ tự trị
1.2.2 Đặc trưng thể chế chính trị Mỹ
Thể chế chính trị Mỹ điển hình cho mô hình Cộng hoà Tổng thống, baogồm những đặc trưng sau:
Thứ nhất, Hiến pháp Mỹ (1789) là một trong những bản hiến pháp
thành công nhất thế giới với nội dung ngắn gọn, đơn giản, khái quát, nó tồntại hơn hai thế kỷ và đến nay vẫn còn hiệu lực với những điều bổ sung mới.Hiến pháp tôn trọng nguyên tắc “tam quyền phân lập”, quy định cơ chế phânquyền rõ ràng giữa ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Các cơ quantrên hoạt động độc lập nhưng vẫn phụ thuộc vào nhau, kiềm chế nhau
Thứ hai, cơ quan lập pháp thi hành hệ thống lưỡng viện cân bằng.
Thượng viện và Hạ viện có quyền lực ngang nhau, cơ chế bầu cử Quốc hộidung hoà lợi ích giữa các bang lớn và bang nhỏ: Hạ viện theo tỷ lệ dân cư,Thượng viện có đại diện các bang như nhau Cơ cấu Quốc hội hai viện cũnggiúp cho quá trình thông qua các quyết định kỹ càng, thận trọng hơn, làmgiảm áp lực từ phía các đảng phái và cử tri Do không thể giải tán bởi Tổngthống, Quốc hội Mỹ hoạt động độc lập và được coi là Quốc hội có quyền lựcnhất thế giới, là cơ quan đối trọng, kiềm chế Tổng thống
Thứ ba, cơ quan hành pháp, thể hiện rõ nét cơ chế tập trung quyền hành
pháp vào tay Tổng thống Tuy nhiên, Tổng thống không nắm được quyền lựctuyệt đối mà phải chia sẻ quyền lực với Quốc hội và Toà án Tối cao Tổng
Trang 17thống Mỹ do người dân bầu ra, có quyền lực bao trùm: nguyên thủ quốc gia,nắm trọn quyền hành pháp Chính phủ Tổng thống là bộ máy hành pháp đơnnhất, khác với Chính phủ Nghị viện là bộ máy hành pháp tập thể Chính phủTổng thống được bầu cho một nhiệm kỳ nắm quyền cố định, đảm bảo mức độ
ổn định cao, khác với thể chế Nghị viện, do phụ thuộc vào các đảng, Chínhphủ thường xuyên có khả năng bị lật đổ, nhất là trong các nghị viện đa đảng
mà không có liên minh chặt chẽ, bền vững
Thứ tư, cơ quan tư pháp Mỹ không có Toà án Hiến pháp Chức năng đó
thuộc về Toà án Tối cao Các thẩm phán Toà án Tối cao được hưởng nhiều ưuđãi (nhiệm kỳ suốt đời, lương cao), được trao nhiều quyền lực: quyết địnhtính hợp hiến của các đạo luật liên bang, các quyết định của Tổng thống, luậtpháp của các bang, giải quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội Vì vậy, nó
là thành trì cuối cùng bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền lợi của giai cấp
tư sản
Thứ năm, về hệ thống Đảng chính trị, ở Mỹ tồn tại hệ thống lưỡng
đảng, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền Nội bộ các đảngkhông đồng nhất, thiếu sự gắn kết do nền tảng xã hội của chúng khác nhau.Cương lĩnh, chính sách chung của hai đảng tương tự như nhau Sự khác biệtchủ yếu ở các vấn đề kinh tế - xã hội và văn hoá - sắc tộc: đảng Dân chủmang truyền thống là đảng của công nhân và thiểu số, da đen, những ngườimiền Nam; đảng Cộng hoà đại diện cho lợi ích của giới đại tư bản ngân hàng,công - thương nghiệp, tầng lớp trên, những người miền Bắc Trên thực tế, tổchức và hoạt động của hai đảng giống như hai tổ chức bầu cử
Thứ sáu, thể chế bầu cử của Mỹ phức tạp, theo nguyên tắc đa số tương
đối, người chiến thắng được tất cả Cơ chế đó gạt các đảng nhỏ và ngườinghèo tham gia quyền lực Các khu vực bầu cử thường xuyên thay đổi, luậtbầu cử ở mỗi bang khác nhau, dễ dẫn đến sự nhầm lẫn, gian lận (điển hìnhnhất là trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000 ở bang Florida)
Trang 181.2.3 Đặc trưng thể chế chính trị Pháp
Nền chính trị Pháp theo thể chế Cộng hòa lưỡng tínhtrên cơ sở bảnHiến pháp năm 1958 của nền cộng hoà thứNăm, nghĩa là vừa mang tính chấtcủa Cộng hòa Tổng thống và Cộng hòa đại nghị với sự có mặt của cả Tổngthống và Chính phủ trong việc thực hiện quyền hành pháp, bao gồm nhữngđặc trưng sau:
Thứ nhất, Hiến pháp của Pháp là một trong những bản Hiến pháp tiến
bộ của nhân loại, đề cao nhân quyền, dân quyền và đảm bảo nguyên tắc nhànước thống nhất Hiến pháp ngày 4 tháng 10 năm 1958 điều chỉnh sự vậnhành của các thể chế của nền Cộng hòa thứ Năm (một nền Cộng hòa hiệnđại) Hiến pháp đã được sửa đổi nhiều lần: bầu cử Tổng thống Cộng hòa bằngphương thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), đưa thêm một mục mớiliên quan đến trách nhiệm hình sự của các thành viên chính phủ (1993), thiếtlập kỳ họp duy nhất ở Nghị viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995),rút ngắn nhiệm kỳ Tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000); bản Hiến phápsửa đổi năm 2003 thay đổi căn bản, xóa bỏ chế độ chủ quản, quy định lại vềthẩm quyền của các cơ quan lập pháp và tư pháp
Thứ hai, cơ quan lập pháp với Nghị viện có hai viện, Pháp có một hệ
thống lưỡng viện đóng một vai trò chính trong sự vận hành dân chủ Thật vậy,thông qua hai viện, những khác biệt về chính trị và tranh luận ý kiến đượcdiễn ra một cách rộng rãi Quốc hội được bầu theo hình thức phổ thông đầuphiếu trực tiếp, đơn danh quá bán hai vòng cho nhiệm kỳ 5 năm Thượng việnđược bầu cho nhiệm kỳ 6 năm, theo hình thức phổ thông đầu phiếu gián tiếp
và không thể bị giải tán như Quốc hội (577 đại biểu – bầu cử các ngày 9 và 16tháng 6 năm 2002)
Trong nền Cộng hoà thứ Năm, Quốc hội đã thường ngăn cản công việccủa Chính phủ bằng cách bỏ phiếu chống lại các đề xuất xây dựng luật do
Trang 19Chính phủ đề xuất Bản hiến pháp nền Cộng hoà thứ Năm đã xoá khả năng đóbằng cách trao cho Chính phủ quyền đề nghị Tổng thống giải tán Hạ viện.Trong nhiều trường hợp, Nghị viện bất lực trước Tổng thống Tuy nhiên, trênthực tế, để bộ máy quyền lực hoạt động ổn định và hiệu quả, Tổng thống phảidựa vào sự ủng hộ của Quốc hội Vai trò của Quốc hội chỉ thực sự được đềcao khi phe đối lập chiếm đa số trong Hạ viện (thời kỳ cộng sinh) Thượngviện Pháp có quyền lực hạn chế, do nó được bầu bởi các đại cử tri, trong đó,các cộng đồng nhỏ (chiếm 1/3 dân số) chiếm quá nửa, đại diện cho khu vựcnông thôn Vì vậy, có người đặc trưng hoá Thượng viện là Nông viện
Hội đồng bảo hiến là một trong những phát kiến của nền Cộng hòa thứNăm Hội đồng bảo hiến gồm 9 thành viên, được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ 9năm và không thể được tái bổ nhiệm Ba thành viên, trong đó có Chủ tịch Hộiđồng do Tổng thống bổ nhiệm, trong sáu thành viên còn lại, ba thành viên doChủ tịch Quốc hội, ba thành viên do Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm Khởiđầu với chức năng đảm trách theo dõi việc phân chia quyền lực giữa Nghịviện và Chính phủ, vai trò của Hội đồng bảo hiến ngày càng tăng lên Hộiđồng bảo hiến ngày càng tăng cường kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật,trở thành cơ quan bảo vệ các quyền tự do cơ bản Mặt khác, Hiến pháp nhiềulần sửa đổi để phù hợp với những đòi hỏi mới của Nhà nước pháp quyền vànhững vấn đề bức thiết của châu Âu
Thứ ba, cơ quan hành pháp, Tổng thống đứng đầu cơ quan hành pháp
và là nguyên thủ quốc gia, chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang, chịu tráchnhiệm cho độc lập dân tộc, Tổng thống chi phối mọi hoạt động của các cơquan lập pháp, hành pháp và tư pháp Tổng thống có thể đưa ra trưng cầu dân
ý một số dự thảo luật và giải tán Quốc hội Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng,cũng như thành viên của Chính phủ theo đề nghị của Thủ tướng và chủ trì Hộiđồng Bộ trưởng Khi liên minh đảng của Tổng thống chiếm đa số trong Hạviện, Tổng thống Pháp có quyền lực gần như tuyệt đối
Trang 20Thủ tướng Chính phủ, người chịu trách nhiệm về quốc phòng và cónhiệm vụ thực thi các đạo luật, lãnh đạo hoạt động của Chính phủ Chính phủxác định và thi hành chính sách quốc gia Chính phủ có bộ máy hành chính vàlực lượng vũ trang Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện
Khi phe đối lập chiếm đa số trong Hạ viện, quyền lực của Tổng thống
bị hạn chế bởi yếu tố đại nghị Nghĩa là, Tổng thống Pháp có quyền lực chừngnào ông còn có sự ủng hộ đa số trong Nghị viện và phải nhường lại một phầnquyền cho Thủ tướng Trong trường hợp đó, Tổng thống quay trở về hệ thốngChính phủ nghị viện cơ bản Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, Pháp là điểnhình của thể chế chính trị cộng hoà lưỡng tính, nghĩa là bị chi phối bởi cả yếu
tổ Tổng thống lẫn yếu tố đại nghị
Thứ tư, trong hệ thống tư pháp, Toà án Hiến pháp có vai trò quan trọng
nhất Do cơ chế thành lập, các cơ quan tư pháp hoạt động không hoàn toànđộc lập mà bị phụ thuộc vào Tổng thống, Chính phủ Chính phủ có thể thànhlập các toà án đặc biệt, bổ nhiệm các quan chức toà án
Thứ năm, hệ thống đảng phái chính trị ở Pháp tương đối phức tạp, số
lượng đảng nhiều, các liên minh đảng không chặt chẽ dẫn đến thiếu ổn định,Chính phủ thường xuyên thay đổi Không có sự độc quyền của một hay haiđảng lớn nhất, mà tất cả các đảng đều có cơ hội ngang nhau trong việc lênnắm quyền Điều này có cơ sở ở thể thức bầu cử của Pháp, các đảng có thểliên minh với nhau để tham gia tranh cử và bởi vậy, sự hình thành một chínhphủ liên hiệp là một thực tế khá phổ biến trong đời sống chính trị của quốcgia này
1.3 Một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước
1.3.1 Nội dung nguyên tắc tam quyền phân lập
Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyềnlực nhà nước đều tập trung trong tay một cá nhân Đây chính là căn nguyên
Trang 21của sự độc tài, chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Để chấmdứt chế độ này và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ,một học thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết tamquyền phân lập Theo học thuyết này, quyền lực nhà nước không phải là mộtthể thống nhất, mà phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát và kiềm chếlẫn nhau Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng:
Thứ nhất, quyền lực nhà nước phải được chia thành các loại quyền
khác nhau và do các cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhiệm TheoMontesquieu (1689 – 1775) thì quyền lực nhà nước được chia thành baquyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp do các cơ quan khác nhau nắm giữ.Theo đó, quyền lập pháp giao cho Nghị viện, quyền hành pháp giao choChính phủ và quyền tư pháp giao cho Tòa án Ngoài ra, còn có sự phân quyềntheo hệ thống hàng dọc từ trung ương đến địa phương
Thứ hai, các cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác
nhau và sự chuyên môn hóa trong hoạt động, tức là mỗi cơ quan công quyềnchỉ chuyên trách và thu hẹp hoạt động của mình vào việc thực hiện các chứcnăng riêng của mình trên cơ sở luật pháp, không xâm lấn sang các ngành, lĩnhvực hoạt động của các cơ quan khác Mục đích của việc phân chia tách biệtnày là tránh được sự chuyên quyền, lạm quyền, độc đoán trong việc thực hiệnquyền lực nhà nước, đảm bảo được tự do, dân chủ
Thứ ba, giữa các cơ quan nhà nước cấp cao thực hiện chức năng lập
pháp, hành pháp, tư pháp tồn tại trong thế cân bằng quyền lực dưới sự tácđộng của một hệ thống kiềm chế và đối trọng Cả ba loại quyền lực trên đềuhoạt động trên cơ sở của luật pháp Sự phân bổ quyền lực nhà nước một mặtphải đảm bảo không có cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước, đồngthời cũng không có cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát của các cơ
Trang 22quan khác Như vậy, mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền được thể hiệntheo hai hướng: chủ yếu là kiềm chế, đối trọng nhau, song cũng có sự phốihợp với nhau trong một số hoạt động nhất định
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính trị “Tam quyền phân lập”
Khi nhà nước ra đời bắt nguồn từ những mâu thuẫn giai cấp không thểđiều hoà được, cũng là lúc nhà nước trở thành chủ thể trung tâm của quyềnlực chính trị Vì thế, trong lịch sử tư tưởng chính trị, các chính trị gia cũngthừa nhận rằng khi đã có quyền lực, đã tập trung và thống nhất quyền lựctrong tay thì tất yếu sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực, làm cho quyền lực bịtha hoá Do đó, cần phải có sự phân chia quyền lực để hạn chế sự lạm dụngquyền lực, đặc biệt là quyền lực nhà nước
Vì lý do đó nên tư tưởng phân chia quyền lực chính trị đã ra đời từ rấtsớm, ngay sau khi những tư tưởng về nhà nước pháp quyền đầu tiên trong lịch
sử tư tưởng chính trị phương Tây ra đời, gắn liền với tên tuổi của các nhà tưtưởng tiêu biểu như: nhà cải cách Xôlông (638 – 559 TCN), nhà triết họcHeerraclit (530 – 470 TCN), Xôcrat (496 – 399 TCN), Đêmôcrit (khoảng 460– 370 TCN),…
1.3.2.1 Những tư tưởng chính trị thời kỳ cổ đại và trung đại ở phương Tây
Khởi nguồn cho tư tưởng phân chia quyền lực là nhà tư tưởng, nhà triếthọc duy tâm lỗi lạc, nhà chính trị Hy Lạp cổ đại Platôn, người đã có rất nhiềuđóng góp trong sự hình thành tư tưởng chính trị phương Tây về nhà nước,pháp luật và mối quan hệ giữa chúng
Platôn ( 427 – 347 TCN) xác định rằng: “Người cầm quyền phải gạtsang một bên ý chí cá nhân để tuân thủ và nhân danh ý chí của pháp luật”.[33, tr 233]
Trang 23Platôn nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở những nơipháp luật không được đề cao, nắm dưới quyền lực của một ai đó và sự hồisinh của nhà nước khi pháp luật ngự trị: “Tôi nhìn thấy sự tận số của nhànước khi pháp luật không còn hiệu lực và phụ thuộc vào một chính quyền nào
đó Còn ở chỗ mà luật, luật pháp ngự trị trên những người cầm quyền, vànhững người cầm quyền như là nô lệ của pháp luật, ở đó, tôi thấy sự hồi sinhcủa nhà nước, trông thấy tất cả phúc lợi mà Trời ban cho nhà nước” [41, tr.13-14]
Trong những quan điểm tiêu biểu của mình về nhà nước, Platôn luôn đềcập đến một mô hình nhà nước lý tưởng, đó là nhà nước cầm quyền bởi sựthông thái Nhà nước lý tưởng đó gồm có ba tầng lớp (giai cấp) cơ bản: tầnglớp các pháp quan là những người có lý trí và có vai trò cai trị thành bang;tầng lớp chiến binh là những người có sức mạnh bảo vệ thành bang; cuốicùng, nông dân và thợ thủ công là những người nặng về đời sống nhục cảm,
có trách nhiệm cung cấp đồ ăn, vật dụng cho thành bang Để duy trì một xãhội ổn định, các tầng lớp phải sống đúng vị trí của mình, đặc biệt phải chọnlựa, đào tạo đội ngũ những nhà cầm quyền một cách chặt chẽ và có ý thức
Cũng vì lý do ông nhận thấy sự chuyển hoá quyền lực xã hội thì tất yếu
sẽ có sự chuyển hoá quyền lực trong nhà nước, và nó cũng không ngoại trừ sựchuyển hoá quyền lực trong nhà nước lý tưởng như ông đã đề cập Do vậy, đểhạn chế sự chuyển hoá rồi phân hoá và cuối cùng sẽ dẫn đến tha hoá quyềnlực nên Platôn đã có manh nha đầu tiên về việc phân chia quyền lực nhànước Platôn chia quyền lực nhà nước thành: pháp lý, hành chính, tư pháp vàngoại giao Như vậy, với những nghiên cứu sâu sắc của Platôn về nhà nước và
mô hình nhà nước lý tưởng, ông đã vẽ ra, từ đó, những nhà nước ông đã dàycông nghiên cứu đặc biệt là nhà nước lý tưởng, nhà nước được cai trị dựa trên
sự thông thái cần phải có sự bảo vệ cho sự tồn tại và phát triển của nó Vì thế,
Trang 24việc phân chia quyền lực nhà nước thành bốn cơ quan: pháp lý, hành chính, tưpháp và ngoại giao là một biện pháp mà Platôn đã đề xuất để bảo vệ chínhnhà nước đó
Sau Platôn, Arixtốt (384 – 322 TCN) là một triết gia Hy Lạp nhưng ônglại có những đóng góp đặc biệt xuất sắc cho Chính trị học, cho học thuyết vềnhà nước pháp quyền nói chung và cho học thuyết về phân chia quyền lực nhànước nói riêng
Nhà nước và quyền lực nhà nước là những vấn đề mà ông dành nhiều
tâm sức nghiên cứu, ngoài tác phẩm Chính trị như đã được nhắc đến qua các nội dung kể trên thì tác phẩm Hiến pháp Aten cũng là một phần tìm thấy được
sau này của một công trình lớn khảo cứu 158 nhà nước thành bang Hy Lạp,trong đó ông tập hợp, phân loại, nghiên cứu các loại hiến pháp và chính phủ,nghiên cứu nguồn gốc các thiết chế Aten, các thời kỳ lịch sử của nó Đặc biệt,Arixtốt đã khảo sát các thiết chế của pháp quyền hiện thực, từ đó ông đã phânloại các cơ quan nhà nước thành ba bộ phận: nghị luận, chấp hành và xét xử;phân tích cơ cấu và cách thực vận hành của các cơ quan hành chính và tưpháp Đối với bộ phận thứ nhất, bộ phận nghị luận về các việc công cộng, bộphận thứ hai là gắn liền với các pháp quan thực thi quyền lực và phương thứclựa chọn ra họ, bộ phận thứba đó là những người có thẩm quyền xét xử Tuỳthuộc vào các loại công việc trên do lực lượng nào nắm giữ sẽ hình thành nêncác mô hình tổ chức thực thi quyền lực khác nhau (các chính thể quân chủ,quý tộc, dân chủ)
Như vậy, có thể nói Arixtốt mới chính là nhà tư tưởng đầu tiên và trựctiếp nhất đặt nền móng cho tư tưởng “Tam quyền phân lâp” bằng nhữngnghiên cứu và phân loại cụ thể nhất về quyền lực nhà nước trong bối cảnh chế
độ thành bang của Hy Lạp đang suy tàn, chế độ chiếm hữu nô lệ đã lung layđến gốc rễ Arixtốt đã kế thừa sự phân chia quyền lực nhà nước của Platôn,
Trang 25nhưng cách phân chia có sự khác biệt cả về số lượng và tên gọi, Arixtốt chorằng để tránh độc tài, quyền lực nhà nước cần được phân ra ba quyền: lậppháp, hành pháp và phân xử
1.3.2.2 Những tư tưởng chính trị thời kỳ cận đại ở phương Tây
Mở đầu cho những nghiên cứu và kế thừa một cách sáng tạo và phânchia tương đối cụ thể những tư tưởng về phân chia quyền lực của các nhà tưtưởng từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đó là “người cha của chủ nghĩa tự do” – nhàtriết học duy vật người Anh J Lốccơ (1632 – 1704)
Tư tưởng phân chia quyền lực về nhà nước là nét đặc trưng trong tưtưởng chính trị của J Lốccơ, tư tưởng này đã từng được đưa vào thời kỳ cáchmạng 1640 – 1660 trong học thuyết của những người theo phái bình quân.J.Lốccơ phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hànhpháp và quyền liên hiệp của cộng đồng quốc gia, trong đó, ông cho rằng,quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước
Quyền lập pháp phải thuộc về Nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ đểthông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào công việc thực hiệnchúng Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua Nhà vua lãnh đạo việc thihành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác.Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và nhà vua không có đặcquyền nào đối với nghị viện (như quyền phủ quyết, quyền bãi miễn,…) đểnhằm không cho phép nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình vàxâm phạm các quyền tự nhiên của công dân Nhà vua cũng thực hiện quyềnliên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hoà bình và đối ngoại
So với những tư tưởng chính trị của các nhà chính trị thời kỳ Hy Lạp cổđại, ta thấy quan điểm của nhà tư tưởng lớn người Anh hết sức tiến bộ, ôngkhông chỉ phân chia quyền lực nhà nước thành các cơ quan khác nhau mà đã
có những phân tích tương đối cụ thể về việc phân chia quyền lực đó Nhưng
Trang 26cũng giống như những nhà tư tưởng đi trước, tư tưởng chính trị về phân chiaquyền lực nhà nước của J Lốccơ cũng không tránh khỏi hạn chế nhất định khiông luôn muốn biện minh và cố duy trì vĩnh viễn chế độ tư bản chủ nghĩa dựatrên bản tính “muôn đời và bất biến” của con người
Tuy nhiên, những tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước đầu tiêntrong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại kể từ thời cổ đại cho đến thờicận đại, mặc dù tồn tại những mặt hạn chế do những điều kiện khách quan vàchủ quan nhưng đó chính là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà
tư tưởng về sau tiếp cận hướng nghiên cứu này
Người phát triển một cách toàn diện thuyết phân quyền là nhà tư tưởng
vĩ đại người Pháp S Montesquieu (1689 – 1775) Chính vì vậy mà ngày nayngười ta thường gắn tên tuổi Montesquieu với thuyết “Tam quyền phân lập”
Montesquieu kịch liệt phê phán chế độ quân chủ chuyên chế ở Phápthời bấy giờ, lên án việc vua nắm toàn bộ quyền lực trong tay dẫn tới chỗ dộcđoán, lạm quyền, tuỳ tiện: quyền lực nhà vua thậm chí bao trùm cả khối óccủa thần dân, bắt thần dân phải nghĩ những gì có lợi cho nhà vua Chủ nghĩacực quyền không thể dung hoà với tự do, vì vậy, theo Montesquieu cần phảixoá bỏ chủ nghĩa cực quyền Ông cho rằng, chính thể cộng hoà có tính ưu việtnhưng ông vẫn đề cao chính thể quân chủ lập hiến Hình thức nhà nước là cáiquyết định nội dung của luật và hệ thống luật lệ
Montesquieu cho rằng yếu tố chính trị có ý nghĩa to lớn đối với nộidung của pháp luật, thậm chí có ảnh hưởng nhiều tới môi trường địa lý Tưtưởng về tự do chính trị của Montesquieu gắn bó chặt chẽ với sự tự do củacông dân Mặt khác, sự tự do của công dân chỉ có được khi pháp luật đượctuân thủ nghiêm ngặt Để đạt được mục tiêu đó, theo Montesquieu cần phải có
sự phân quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Ba quyềnnày hạn chế lẫn nhau, đối trọng với nhau và thuộc về ba cơ quan khác nhau
Trang 27Ông kêu gọi thành lập cơ quan đại diện của nhân dân để hạn chế quyền lựccủa nhà vua Nếu như cả ba quyền đều nằm trong tay nhà vua tất yếu sẽ nảysinh sự lạm quyền, chuyên chế, độc đoán Nếu như quyền hành pháp và lậppháp nằm trong tay một người, hoặc một cơ quan thì sự tự do sẽ không có,bởi vì sẽ có nguy cơ ông vua hay nghị sĩ nào đó sẽ ban hành các đạo luật tànbạo để rồi áp dụng cái đạo luật đó cũng theo kiểu tàn bạo Nếu như quyền tưpháp gắn với quyền lập pháp thì cuộc sống và tự do của công dân sẽ đặt dướiquyền lực của sự tuỳ tiện bởi vì quan toà chính là người làm luật Nếu nhưquyền tư pháp gắn với quyền hành pháp thì quan toà dễ trở thành kẻ áp bức.
Và sự tự do của công dân sẽ không thể có được nếu như cả ba quyền rơi vàotay một người
Do vậy, muốn đảm bảo quyền tự do, theo Montesquieu, ba quyền: lậppháp, hành pháp, tư pháp phải thuộc về ba cơ quan khác nhau: quyền lập pháphoàn toàn thuộc về Nghị viện – cơ quan đại diện của nhân dân được lập raqua phổ thông đầu phiếu; quyền hành pháp – thực hiện pháp luật, chấp hànhpháp luật – thuộc về Chính phủ (cũng có thể thuộc về vua trong chính thểquân chủ lập hiến); và quyền tư pháp – quyền xét xử những vi phạm phápluật, tội phạm, những tranh chấp, xung đột trong xã hội – thuộc về các Toà án(toà dự thẩm hay các toà án có sự tham gia của công dân) Sơ đồ củaMontesquieu loại trừ sự lập ra một cơ quan đứng trên “ba quyền”, phản ánhcách tiếp cận về pháp lý – tổ chức tới sự phân quyền và thoạt nhìn, dường nhưkhông đặt vấn đề về bản chất xã hội của nhà nước và quyền lực nhà nước.Tuy nhiên, trên thực tế nó củng cố địa vị của giai cấp tư sản non trẻ trong bộmáy nhà nước, trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước
Thuyết phân quyền của Montesquieu ảnh hưởng nhiều tới các quanniệm lý luận sau này về chế độ nhà nước, tổ chức nhà nước, tới quá trình lậphiến của các nhà nước tư sản và thực tiễn pháp luật – nhà nước ở nhiều nước
Trang 28Tư tưởng của Montesquieu về thành lập cơ quan đại diện của nhân dân đãchĩa mũi nhọn chống lại chế độ chuyên chế và sau này đã được ghi nhận trong
điều 16 “Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân” năm
1789: “Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và khôngthực hiện sự phân quyền thì không có hiến pháp” Tư tưởng của ông cũng đãđược vận dụng khi xây dụng Hiến pháp của Pháp năm 1789 và thể hiện rõ néttrong Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787
Để có thể đem lại những quyền cơ bản của con người một cách chínhđáng không chỉ cần sự phân chia quyền lực nhà nước như cách Montesquieu
đã chỉ ra, để có thể hiện thực hoá quyền sống, quyền tự do,…những quyền cơbản của con người đó, Montesquieu cũng nhấn mạnh đến việc phải hạn chế sựcan thiệp có thể làm tổn hại các quyền cơ bản của con người: “Để cho ngườihành pháp không áp bức được dân chúng thì quân đội trong tay cơ quan hànhpháp phải mang tính nhân dân, cùng lòng với nhân dân như ở Rome xưa dướithời Marius” [31,tr 118]
Mục đích sâu xa cuối cùng của tư tưởng chính trị “Tam quyền phânlập” của Montesquieu hướng đến đó là mang đến cho con người sự tự do thực
sự cả trong đời sống xã hội và trong đời sống chính trị bằng việc được hưởngnhững quyền cơ bản mà con người xứng đáng được nhận lấy và được trântrọng, từ đó xác lập một nền dân chủ thực sự cho con người
Sự ra đời của tư tưởng chính trị “Tam quyền phân lập” màMontesquieu là người đã hoàn thiện tư tưởng chính trị này với những nộidung cụ thể, rõ ràng và khoa học đã thực sự đáp ứng được thực tiễn chính trịđặt ra lúc đó và cho đến nay nó có tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, lâu dàinhất và trực tiếp nhất đến thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước của hầu hết cácquốc gia trên thế giới sau này
Trang 291.3.3 Cách thức phân chia quyền lực nhà nước
Khi nói đến phân chia quyền lực, ngày nay ở mỗi nhà nước đều ápdụng cách thức phân quyền ngang hay phân quyền dọc tùy theo điều kiện củatừng nước sao cho mỗi hoạt động quyền lực được thực hiện một cách có hiệuquả nhất
Phân quyền ngang là cách thức phân quyền cổ điển, theo đó quyền lựcnhà nước được phân chia thành các nhóm khác nhau Nghị viện nắm quyềnlập pháp, Tổng thống nắm quyền hành pháp, Tòa án nắm quyền tư pháp.Quyền lực giữa các cơ quan này là quyền lực cân bằng, hoạt động của các cơquan có sự chuyên môn hóa và luôn kiềm chế đối trọng, giám sát lẫn nhau Có
ba mức độ biểu hiện của cách thức phân quyền ngang trong bộ máy nhà nướchiện nay:
Một là, phân quyền cứng rắn được áp dụng trong chính thể Cộng hòa
tổng thống với nguyên tắc “quyền lực ngăn cản quyền lực” Quyền hành phápthuộc về nguyên thủ quốc gia, hành pháp không phải chịu trách nhiệm trướcluật pháp và sự phân quyền được ghi nhận trong Hiến pháp Đại diện điểnhình cho mức độ áp dụng này là Mỹ
Hai là, phân quyền mềm dẻo được áp dụng trong chính thể Cộng hòa
đại nghị Điều đó thể hiện ở chỗ, hành pháp không hoàn toàn độc lập mà cómối liên hệ thường xuyên với lập pháp do chịu trách nhiệm trước lập pháp và
sự chung nhân viên giữa hai cơ quan này Nguyên thủ quốc gia có quyền hànhpháp mang tính tượng trưng vì bộ máy hành pháp trực thuộc Thủ tướng vàThủ tướng mới phải chịu trách nhiệm trước lập pháp Tư pháp độc lập vớihành pháp trong hoạt động song không hoàn toàn độc lập trong tổ chức hoạtđộng với lập pháp Sự phân quyền này thể hiện rõ tiêu biểu ở hai nước là Anh
và Đức
Ba là, phân quyền trong chính thể Cộng hòa hỗn hợp Trong tổ chức bộ
máy nhà nước này, tư tưởng phân quyền được áp dụng ở mức độ trung gian
Trang 30giữa cứng rắn và mềm dẻo với đặc trưng cơ bản là sự độc lập của hành phápvới lập pháp cao hơn trong chính thể Cộng hòa đại nghị, song lại thấp hơntrong chính thể Cộng hòa Tổng thống Chính phủ phải chịu trách nhiệm trướcQuốc hội và Quốc hội có thể bị giải tán trước thời hạn Những đặc trưng đượcthể hiện rõ trong nhà nước Pháp và Nga
Ở nhiều nhà nước hiện nay, nguyên tắc phân chia quyền lực có một sốthay đổi Theo các nhà lập hiến ở một số nước Mỹ Latinh thì quyền lực nhànước có tứ quyền, thêm quyền bầu cử Trong dự thảo Hiến pháp Nicaragoa
1986 đưa ra còn nhắc tới ngũ quyền hay Hiến pháp 1976 của Angieri quyđịnh tới lục quyền
Phân quyền dọc là cách thức phân chia quyền lực giữa Trung ương vàđịa phương Theo cách phân chia này, bộ máy nhà nước trong hệ thống các cơquan quyền lực ở các cấp địa phương song song với bộ máy nhà nước Trungương Trong từng lĩnh vực cụ thể lại có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm,quyền hạn cụ thể giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương.Chính quyền Trung ương chủ yếu giải quyết các vấn đề công, vì lợi ích của cảcộng đồng xã hội, còn chính quyền địa phương sẽ phụ trách các vấn đề kinh
tế, giáo dục, văn hóa ở địa phương
Phân quyền dọc được thực hiện theo hai phương pháp là phân quyềntheo lãnh thổ và phân quyền theo chuyên môn Tùy theo mỗi tiêu chí và hoàncảnh cụ thể của mỗi nhà nước mà có cách phân chia cho phù hợp
Sự thể hiện và áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực trong thực tế có
sự biến dạng rất lớn tùy theo từng nhà nước và phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ nhất, hình thức chính thể nhà nước, sự áp dụng tư tưởng phân
quyền ở nhà nước Cộng hòa Tổng thống khác với Cộng hòa đại nghị hayCộng hòa hỗn hợp cho nên có thể coi các biểu hiện của sự phân quyền là mộttrong những tiêu chí phân biệt các hình thức chính thể nhà nước
Trang 31Thứ hai, hình thức cấu trúc nhà nước, nhà nước Liên bang khác với nhà
nước đơn nhất Ta không chỉ chú ý sự phân quyền giữa các cơ quantrungương của chính quyền Liên bang mà cả giữa chính quyền Liên bang với chínhquyền bang
Thứ ba, chế độ chính trị, tư tưởng phân quyền chỉ được thể hiện và áp
dụng trong chế độ dân chủ chứ không áp dụng trong chế độ độc tài, chuyên chế
Cuối cùng nguyên tắc phân quyền có thể phụ thuộc vào truyền thốngdân tộc, lịch sử tồn tại cũng như tình hình chính trị thực tế của mỗi nước
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN NGUYÊN TẮC TAM QUYỀN PHÂN LẬP TRONG TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC Ở ANH, MỸ, PHÁP VÀ
NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM
2.1 Nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh, Mỹ, Pháp
Nếu coi hệ thống chính trị như một vòng tròn bao quát những tập hợpcon cấu thành nên bản thân nó thì điểm trung tâm của vòng tròn này là nhànước Một điểm chung dễ nhận thấy giữa Anh, Mỹ, Pháp là cả ba nước đềucùng áp dụng nguyên tắc “tam quyền phân lập” trong việc tổ chức quyền lựcnhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, các nước này lại có sự vận dụng nguyên tắcnày theo những phương thức khác nhau và ít nhiều chịu sự chi phối của điềukiện lịch sử cũng như đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, thể chế chính trị ởmỗi nước
2.1.1 Nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Anh
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland theo chính thể quân chủ đạinghị là một mô hình nhà nước điển hình áp dụng tư tưởng phân chia quyềnlực một cách mềm dẻo Nó được thể hiện ở chỗ, lập pháp và hành pháp khônghoàn toàn độc lập mà có mối liên hệ mật thiết, giữa chúng vẫn có sự phối hợpvới nhau Tư pháp độc lập với hành pháp trong hoạt động song không hoàntoàn độc lập trong tổ chức và hoạt động với lập pháp
Về lập pháp, Nghị viện là cơ quan có vai trò tối cao Nghị viện cóquyền giải quyết mọi vấn đề của nhà nước, hay chí ít những vấn đề của nhànước phải được giải quyết trên cơ sở của Nghị viện Bên trong Nghị việncũng có sự phân chia quyền lực, theo đó, quyền lập pháp của Thượng viện bịhạn chế trong phạm vi quyền lực của Hạ viện Nghị viện có toàn quyền trongviệc làm luật và xây dựng các đạo luật Ở Anh vào năm 1688, luật Hiến pháp
Trang 33quy định, nghị viện có thể “thông qua bất cứ một đạo luật nào để điều chỉnhbất cứ một quan hệ xã hội nào, nếu Nghị viện cho rằng việc điều chỉnh quan
hệ xã hội đó bằng luật là cần thiết”
Về hành pháp, Chính phủ là cơ quan quyền lực cao nhất Chính phủ doNghị viện lập ra và chịu sự giám sát của Nghị viện Các Bộ trưởng hay Nộicác phải chịu cả trách nhiệm liên đới lẫn cá nhân trước Nghị viện Tuy nhiên,giữa hai quyền này vẫn có sự phối kết hợp với nhau, thể hiện qua một số điểmsau: Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện và lập pháp; Chính phủthành lập dựa trên cơ sở của lập pháp và được trình bày dự án, chính sáchtrước lập pháp; thành viên của cơ quan lập pháp có thể cùng giữ chức vụ ở cơquan hành pháp và ngược lại Đây chính là dấu hiệu của chế định Chính phủ -
cơ sở của chế độ đại nghị: lập pháp là quan trọng nhất, hành pháp luôn phải
có được sự tín nhiệm từ Nghị viện và lập pháp Trong trường hợp không cóđược sự tín nhiệm này hoặc kết quả hoạt động của Chính phủ không đượcNghị viện thông qua, điều này sẽ gây nên mâu thuẫn giữa Chính phủ và Nghịviện, thậm chí hậu quả có thể là khủng hoảng chính trị Chính phủ phải ra đi
để Nghị viện thành lập một Chính phủ mới Đây là chế định bất tín nhiệmChính phủ Mặt khác, chế định này được kiềm chế bởi quy định giải tán Nghịviện, trong trường hợp không tìm được Chính phủ mới thì Nghị viện, lập pháp
sẽ bị giải tán Bởi lẽ, theo các nhà tư sản,nếu cứ để cho Nghị viện có quyền lật
đổ Chính phủ mà không có sự chế ngự nào sẽ phát sinh ra một thứ độc tài mớinhư thứ độc tài cá nhân của chủ nghĩa phong kiến trước đây Hiến pháp một
số nước tư sản đãquy định: Nghị viện có thể bị nguyên thủ quốc gia với tưcách một người đứng đầu nhà nước giải tán theo yêu cầu của Thủ tướng hoặctheo sáng kiến của mình sau khi tham khảo ý kiến của Thủ tướng Hoặc là,nếumột nghị sĩ muốn chất vấn hay đặt vấn đề gay gắt như bất tín nhiệm Chínhphủ thì rất có thể Chính phủ lại đặt vấn đề giải tán nghị viện trước