LỜI MỞ ĐẦU Vấn đề chất lượng đào tạo báo chí đã được đặt ra từ nhiều năm nay ở nước ta. Tuy nhiên, khi xã hội có sự thay đổi căn bản – từ thời bao cấp chuyển sang thời hội nhập, nhất là khi nước ta ngày càng mở cửa, hội nhập sâu rộng với khối ASEAN, TPP, WTO và nhiều tổ chức quốc tế thuộc các lĩnh vực khác thì vấn đề xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí truyền thông sẽ là kim chỉ nam cho việc hiện thực hóa hoạt động dạy và học trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng báo chí. Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo báo chí cần được xây dựng trên nhiều khía cạnh với các lĩnh vực đánh giá khác nhau. Chúng ta cần một bộ tiêu chí khoa học được thực hiện bởi sự đóng góp của các khoa học liên ngành. Ngôn ngữ với tư cách là một trong những công cụ quan trọng vào bậc nhất của sáng tạo báo chí; dưới góc độ của ngôn ngữ học, tham luận đề xuất một số ý kiến trong việc xây dựng tiêu chí sử dụng ngôn ngữ trong phong cách báo chí. Không chỉ xuất phát từ những vấn đề lý luận chung, tham luận căn cứ trên cơ sở khoa học của những đánh giá về giá trị sử dụng ngôn ngữ theo phong cách báo chí của nhà báo Hữu Thọ để đề xuất tiêu chí với hy vọng góp thêm ý kiến có tính thực tiễn, khả thi trong việc định hướng đánh giá chất lượng đào tạo và bồi dưỡng báo chí truyền thông. Trong một bài tham luận, người viết không thể trình bày hết những thành công của nhà báo Hữu Thọ, mà chỉ chọn lọc một số thành công tiêu biểu, có tính thực tiễn (nếu nhìn từ yêu cầu hiện nay của xã hội đối với báo chí). Hy vọng từ những thành công của ông, các nhà hoạch định chính sách đào tạo bồi dưỡng báo chí có những cơ sở đưa ra các tiêu chí cụ thể trong hệ thống yêu cầu về ngôn ngữ báo chí. I. Nhà báo (NB) Hữu Thọ và những thành công tiêu biểu trong sáng tạo tác phẩm báo chí – nhìn từ góc độ ngôn ngữ học 1. Sự nghiệp báo chí của NB Hữu Thọ Nhà báo Hữu Thọ sinh ngày 8 tháng 1 năm 1932 (tức 1 tháng 12 năm Tân Mùi) tại Hà Nội. Tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thọ. Trong quá trình làm báo, ông lấy nhiều bút danh: Hữu Thọ, Nhân Nghĩa, Nhân Chính... Từ tháng 8 năm 1957, nhà báo Hữu Thọ bước vào con đường làm báo chuyên nghiệp. Trong suốt quá trình làm báo, ông có nhiều tích lũy về nghề nghiệp, về quan điểm làm báo, viết báo. Có thể khái quát tư tưởng xuyên suốt trong quá trình làm báo của ông trong lời “tự bạch” sau đây: “Tôi không biết viết thế nào để thành công vì mỗi bài báo là một sự thử thách, nhưng tôi chắc chắn bài báo sẽ thất bại nếu làm vừa lòng mọi người” Đề từ tập Người hay cãi Nhà báo Hữu Thọ đạt được nhiều giải thưởng: các Giải Nhất hoặc A của Hội Nhà báo Việt Nam (08 giải); các giải thưởng của thành phố Hải Phòng; giải thưởng Hùng Vương (tỉnh Vĩnh Phú) về các bài viết ủng hộ các sáng kiến, mô hình đổi mới; giải báo chí Quốc gia 2009. Ghi nhận những đóng góp của ông, nhà nước đã giành tặng ông những danh hiệu, huân huy chương cao quý, xứng đáng, điển hình như huy chương “Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam”, huân chương Kháng chiến hạng Nhất, huân chương Kháng chiến hạng Ba, huân chương Lao động hạng nhất, huân chương Độc lập hạng nhất.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề chất lượng đào tạo báo chí đã được đặt ra từ nhiều năm nay ở nước ta Tuy nhiên, khi xã hội có sự thay đổi căn bản – từ thời bao cấp chuyển sang thời hội nhập, nhất là khi nước ta ngày càng mở cửa, hội nhập sâu rộng với khối ASEAN, TPP, WTO và nhiều tổ chức quốc tế thuộc các lĩnh vực khác thì vấn đề xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí truyền thông sẽ là kim chỉ nam cho việc hiện thực hóa hoạt động dạy và học trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng báo chí
Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo báo chí cần được xây dựng trên nhiều khía cạnh với các lĩnh vực đánh giá khác nhau Chúng ta cần một
bộ tiêu chí khoa học được thực hiện bởi sự đóng góp của các khoa học liên ngành Ngôn ngữ với tư cách là một trong những công cụ quan trọng vào bậc nhất của sáng tạo báo chí; dưới góc độ của ngôn ngữ học, tham luận đề xuất một số ý kiến trong việc xây dựng tiêu chí sử dụng ngôn ngữ trong phong cách báo chí
Không chỉ xuất phát từ những vấn đề lý luận chung, tham luận căn cứ trên
cơ sở khoa học của những đánh giá về giá trị sử dụng ngôn ngữ theo phong cách báo chí của nhà báo Hữu Thọ để đề xuất tiêu chí với hy vọng góp thêm ý kiến có tính thực tiễn, khả thi trong việc định hướng đánh giá chất lượng đào tạo và bồi dưỡng báo chí truyền thông
Trong một bài tham luận, người viết không thể trình bày hết những thành công của nhà báo Hữu Thọ, mà chỉ chọn lọc một số thành công tiêu biểu, có tính thực tiễn (nếu nhìn từ yêu cầu hiện nay của xã hội đối với báo chí) Hy vọng từ những thành công của ông, các nhà hoạch định chính sách đào tạo bồi dưỡng báo chí có những cơ sở đưa ra các tiêu chí cụ thể trong hệ thống yêu cầu về ngôn ngữ báo chí
Trang 2I Nhà báo (NB) Hữu Thọ và những thành công tiêu biểu trong sáng tạo tác phẩm báo chí – nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
1 Sự nghiệp báo chí của NB Hữu Thọ
Nhà báo Hữu Thọ sinh ngày 8 tháng 1 năm 1932 (tức 1 tháng 12 năm Tân Mùi) tại Hà Nội Tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thọ Trong quá trình làm báo, ông lấy nhiều bút danh: Hữu Thọ, Nhân Nghĩa, Nhân Chính
Từ tháng 8 năm 1957, nhà báo Hữu Thọ bước vào con đường làm báo chuyên nghiệp Trong suốt quá trình làm báo, ông có nhiều tích lũy về nghề nghiệp, về quan điểm làm báo, viết báo Có thể khái quát tư tưởng xuyên suốt trong quá trình làm báo của ông trong lời “tự bạch” sau đây:
- “Tôi không biết viết thế nào để thành công vì mỗi bài báo là một sự thử thách, nhưng tôi chắc chắn bài báo sẽ thất bại nếu làm vừa lòng mọi người” [Đề từ tập Người hay cãi]
Nhà báo Hữu Thọ đạt được nhiều giải thưởng: các Giải Nhất hoặc A của Hội Nhà báo Việt Nam (08 giải); các giải thưởng của thành phố Hải Phòng; giải thưởng Hùng Vương (tỉnh Vĩnh Phú) về các bài viết ủng hộ các sáng kiến, mô hình đổi mới; giải báo chí Quốc gia 2009
Ghi nhận những đóng góp của ông, nhà nước đã giành tặng ông những danh hiệu, huân huy chương cao quý, xứng đáng, điển hình như huy chương
“Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam”, huân chương Kháng chiến hạng Nhất, huân chương Kháng chiến hạng Ba, huân chương Lao động hạng nhất, huân chương Độc lập hạng nhất
2 Những thành công tiêu biểu trong sáng tạo tác phẩm báo chí
của NB Hữu Thọ – nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
2.1 Thành công trong cách xử lý từ ngữ theo hướng “đại chúng hóa”
Một trong những đặc điểm cần yếu của ngôn ngữ báo chí là tính đại chúng Làm thế nào để ngôn ngữ có tính đại chúng, đây là cách xử lý ngôn từ theo nguyên tắc vừa tôn trọng cái chung vừa thể hiện cái riêng của mỗi tác giả
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ông có các biện pháp sau:
Trang 3Thứ nhất: ít sử dụng các loại từ gây nên sự khó tiếp nhận cho người đọc.
Đó là các loại từ: biệt ngữ, tiếng lóng, từ địa phương, từ ngoại lai (từ mượn)
Đầu tiên, là sự chọn lọc trong cách dùng biệt ngữ, tiếng lóng
Đây là nhóm từ thuộc lớp từ xét theo phạm vi xã hội Tiếng lóng, biệt ngữ
có phạm vi hoạt động hẹp, vì vậy, phần lớn công chúng sẽ khó hiểu nghĩa của tiếng lóng (nếu như không chú thích) Tiếng lóng, biệt ngữ làm hạn chế tốc độ tiếp nhận bài báo, hạn chế mức độ hiểu nội dung tác phẩm, đó là chưa kể tới việc
có thể hiểu sai, lạc vấn đề nhà báo muốn nói - vì tiếng lóng, biệt ngữ cũng là một loại “mã” , không phải độc giả nào cũng “giải mã” giống nhau
Tất nhiên, không thể nói tiếng lóng, biệt ngữ không có giá trị trong việc làm báo Tuy nhiên, cách dùng tiếng lóng, biệt ngữ như thế nào, dùng với mật độ
ra sao, còn cần đến độ nhạy cảm trong tay viết của nhà báo Tiếng lóng, biệt ngữ vẫn được Hữu Thọ sử dụng nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể
NB Hữu Thọ hạn chế tối đa việc dùng chêm, xen từ ngoại lai
Việc chêm, xen từ ngoại lai là hiện tượng thường gặp trên các trang viết hiện nay Nhiều nhà báo cho rằng, đó là vì độc giả trẻ hiện nay yêu cầu một cách viết mới, lạ, phong cách, cho nên việc chêm, xen các tiếng ngước ngoài - chủ yếu là tiếng Anh - đã trở thành “mốt” ; mặt khác do sự hội nhập,
xã hội nhiều thay đổi, nhiều khái niệm mới được gọi bằng tên nước nên việc chêm, xen là điều dễ được chấp nhận Tuy nhiên, với nhà báo Hữu Thọ, ông luôn tìm được những biện pháp ngôn ngữ phù hợp để hạn chế tối đa việc phải dùng từ ngữ ngoại lai Đó là các cách: chọn lựa và chỉ sử dụng những từ ngữ không có vốn từ tiếng Việt thay thế; chọn lựa những từ nước ngoài đã trở nên quen thuộc, đã được đưa vào vốn từ dân tộc; tìm các cách diễn đạt đồng nghĩa
để tạo điều kiện tối đa cho việc dùng vốn từ thuần Việt, thậm chí, nếu không cần thiết, từ Hán - Việt cũng được thay thế bằng từ thuần Việt, ví dụ:
Dùng “hao” “ngót” thay cho “lãng phí” (“Lại chuyện hao” , “Vẫn lại chuyện hao” ); “Tính” thay cho “nghĩ” “cảm thấy” (Anh tính có xấu hổ không?)
Trang 4“gạn” thay cho “cố gắng” (Tôi gạn hỏi) ; “tiếng” thay cho “danh nghĩa” (Dù sao thì cũng được tiếng là bảo vệ sản xuất tập thể)
Thêm nữa, NB Hữu Thọ ít dùng từ địa phương
Từ địa phương được dùng trong một phạm vi không gian nhất định Do
đó, báo chí khi dùng từ địa phương cũng sẽ hạn chế cách hiểu của công chúng Nhiều từ địa phương có nghĩa tương đương với từ vựng toàn dân (TVTD), nhưng khi vỏ ngữ âm khác biệt sẽ gây nên sự khó hiểu cho người đọc; hơn nữa, nhiều từ địa phương không có từ tương đương với TVTD Như vậy, việc dùng từ địa phương để truyền tải thông điệp mang tính phổ thông, đại chúng trong phong cách báo chí là không phù hợp
Thứ hai: NB Hữu Thọ ưu tiên dùng từ thuần Việt và từ ngữ theo cách nói/tư duy dân gian/nhân dân
Từ thuần Việt và những từ ngữ theo cách nói của nhân dân/dân gian được lựa chọn sử dụng trong tác phẩm mang lại sự dễ hiểu, dễ tiếp nhận đối với bạn đọc
Theo kết quả khảo sát, nhà báo Hữu Thọ sử dụng từ thuần Việt rất đặc sắc Tỷ lệ từ Hán - Việt trung bình trên bốn thể loại tiểu phẩm, bình luận, ghi chép, điều tra là 51,3% cho thấy sự không quá chênh lệch giữa từ Hán - Việt và từ thuần Việt (tỷ lệ từ Hán - Việt trong vốn ngôn ngữ dân tộc chiếm hơn 70%)
Việc lựa chọn lời ăn tiếng nói của nhân dân được thể hiện thông qua sự lựa chọn vốn từ khẩu ngữ toàn dân, các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ được vận dụng theo phương thức của phong cách viết Với sự lựa chọn và xử lý như vậy, lối diễn đạt của ông trở nên không chỉ giàu sắc thái biểu cảm, sinh động mà còn giúp công chúng dễ dàng trong việc tiếp nhận thông tin
Ví dụ các thành ngữ “năm bỏ làm ba, chín bỏ làm mười”, “một điều nhịn là chín điều lành” trog câu “Cái này (bệnh “an phận”) cũng có nguồn gốc
sâu xa của người Việt Đó là bệnh xuê xoa, “năm bỏ làm ba, chín bỏ làm mười”, rồi “một điều nhịn là chín điều lành”
Trang 5Nói một cách khái quát, vốn từ vựng dân tộc đã được Hữu Thọ sử dụng với tinh thần “đại chúng hóa” Đó là một trong các nguyên nhân lý giải về sức lan tỏa các tác phẩm của ông trong xã hội
Thứ 3: NB Hữu Thọ có sự chọn lọc từ mượn trong cách sử dụng.
Trước hết là sự chọn lọc trong cách sử dụng từ Hán - Việt Hữu Thọ
chỉ sử dụng từ Hán - Việt với tỷ lệ lớn trong những thể loại/loại mà bản thân
nó yêu cầu một lượng lớn từ Hán - Việt như thể loại bình luận Với các thể loại khác, căn cứ vào từng mảng nội dung để ông sử dụng từ Hán Việt Bên cạnh đó, trong những ngữ cảnh cụ thể, Hữu Thọ sẽ chọn dùng hay không dùng từ Hán - Việt Chẳng hạn như, trong loại câu bình luận, từ Hán - Việt thuộc khả năng lựa chọn đầu tiên, song ở các loại câu như câu tường thuật, câu cảm thán…từ thuần Việt là loại từ được ưu tiên
Với từ mượn gốc Ấn – Âu (không xét đến trường hợp từ được quốc tế hóa), sự lựa chọn của Hữu Thọ chỉ dành khi trong tiếng Việt không có từ tương đương về nghĩa
Với các biện pháp sử dụng từ ngữ như vậy, Hữu Thọ đã không chỉ đáp ứng được yêu cầu về tính đại chúng trong phong cách báo chí mà còn góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
2.2 Thành công trong việc góp phần bảo vệ và làm giàu, đẹp hơn vốn từ dân tộc
Thông qua các bài viết của mình, ông đã góp phần làm giàu thêm vốn
từ dân tộc, bằng cách bổ sung một lượng lớn và mới các từ văn hóa, trong đó,
không thể không nói đến các định danh quốc tế, các viết tắt quốc tế và từ mới
Có hai con đường cơ bản làm giàu vốn từ dân tộc Một là tạo từ mới (hoàn toàn) và khẳng định giá trị của chúng bằng cách sử dụng các từ đó với tần suất lớn trong các hoàn cảnh giao tiếp linh hoạt với những tiện ích giao tiếp không thể phủ nhận Dần dần, từ mới sẽ có vị trí trong vốn từ dân tộc Thứ hai, tạo từ mới theo cách làm mới từ cũ hoặc “điển tích hóa” tác phẩm
Trang 6báo chí/văn học bằng các định danh cố định Nhà báo Hữu Thọ đã làm giàu thêm vốn từ dân tộc bằng hai con đường cơ bản đó
Không bàn đến lớp từ mới được tạo ra từ xã hội được ông chủ động vận dụng theo phong cách cá nhân, với nhóm các từ mới do chính ông sáng tạo nên cũng có nhiều điều để thế hệ cầm bút thế hệ sau học tập Tất nhiên, đó là
những từ mới lâm thời Tuy nhiên, ông thường đặt chúng vào những ngữ
cảnh có điều kiện để thoát từ trang viết đi vào đời sống ngôn ngữ văn hóa toàn dân Năng lực ngôn ngữ tiềm ẩn khả năng góp phần làm giàu vốn từ dân
tộc như vậy, không phải nhà báo nào cũng thực hiện được
Việc từ ngữ trong tác phẩm đi vào xã hội cần sự sàng lọc của thời gian, tuy nhiên, ta có thể nhận ra khả năng làm giàu vốn từ dân tộc của một nhà báo thông qua cách dùng từ của họ: cách dùng đó có đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hay không, có phù hợp với tư duy, văn hóa dân tộc hay không
Trong hệ thống từ của mình, Hữu Thọ đã vận dụng nhiều phương thức
chuyển nghĩa từ theo tư duy, văn hóa, truyền thống dân tộc, ví dụ: báo (vừa là
con báo, vừa là nhà báo - trong tiểu phẩm “Sợ báo hơn sợ hổ” – văn hóa chơi
chữ; đồng ca (chỉ những người không làm được việc hoặc chỉ làm những việc
vô nghĩa lý nhưng vẫn được hiện diện trong “tập thể” , khó có thể truy cứu
trách nhiệm cho những người này) – kiểu nói tránh; đổi ngôi (chỉ sự “chuyển vai” giữa người lãnh đạo và các “tay chân” trong những công việc tư lợi) - ẩn
dụ dân gian (Sao đổi ngôi)
Thêm nữa là khả năng tạo mới các ngữ cố định (NCĐ) Trong tác phẩm, nhiều NCĐ chỉ có tính chất lâm thời, nhưng khả năng hoạt động độc lập của chúng trong giao tiếp cũng rất lớn Bởi lẽ, do khái niệm mà các kết hợp này tạo nên đã và đang phù hợp với thực tiễn cuộc sống Đây là “nguồn”
của việc bổ sung từ mới vào từ vựng dân tộc Có thể kể đến các kết hợp: GDP xanh, GDP sạch; công nghệ “dìm”, phí ngoại giao, đầu tư quan hệ…
Trang 7Qua việc sử dụng ngôn từ, nhà báo Hữu Thọ đã góp phần khẳng định
vẻ đẹp của từ ngữ tiếng Việt, mà trước hết là góp phần khẳng định sự chuẩn mực trong cách dùng từ tiếng Việt
Vấn đề “chuẩn trong cách dùng từ” là một khía cạnh trong yêu cầu dùng chuẩn tiếng Việt- là mục đích cần không ngừng phấn đấu của các thế hệ người Việt, đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra trong mục tiêu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”
Trong việc dùng từ, yêu cầu dùng vốn từ văn hóa dân tộc là yêu cầu bắt buộc Các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng các khái niệm: “từ phổ thông”,
“từ toàn dân”, “từ dân tộc” hoặc “từ văn hóa dân tộc” không chỉ có nội hàm là chỉ tính chất và phạm vi sử dụng mà còn có ý nghĩa của sự giàu tính văn hóa trong vốn từ của toàn dân tộc, dùng cho mọi công dân Việt
Tuy nhiên, trong thực tế dùng từ, các chủ thể khác nhau sẽ chọn lựa các lớp từ khác nhau để tạo nên một phong cách riêng cho cá nhân Với nhà báo Hữu Thọ, ông dùng vốn TVTD làm nền tảng, trên đó, ông vận dụng một cách vừa tự nhiên lại vừa chọn lọc các từ thuộc lớp TVTD Sự dùng từ kết hợp giữa cách chọn lọc tự nhiên và cách chọn lọc có ý thức đã khiến cho các từ trong sáng tạo báo chí của ông về cơ bản là lớp TVTD - kết tinh của văn hóa công chúng - ghi dấu của một tầm hiểu biết sâu rộng
Dấu ấn trong vốn từ Hữu Thọ là sự “kết tinh của văn hóa công chúng”
Văn hóa công chúng không phải là văn hóa của số đông; không phải là kiểu
văn hóa đại trà Văn hóa công chúng có sự dung hòa của những cái chung, có thể “cuốn” theo nó là những nhóm văn hóa khác
Từ trong tác phẩm Hữu Thọ được chắt lọc trên cơ sở ngôn từ toàn dân, dưới ánh sáng của tầm tư duy, trí tuệ, sự hiểu biết, nhạy cảm xã hội sâu sắc Tất cả các đặc điểm đó đã không chỉ đánh dấu được sự “chuẩn xác” trong cách dùng từ của ông mà còn góp phần tôn vinh vẻ đẹp ngôn từ dân tộc
Cũng về chuẩn của việc dùng từ, cần phải nói đến sự vận dụng các nguyên tắc kết hợp về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các thành tố trong từ, trong
Trang 8tổ hợp Sự kết hợp đúng chuẩn ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt đã góp phần tạo nên các từ mới với những nghĩa chuyển độc đáo
Thêm nữa, những vận dụng sáng tạo của Hữu Thọ tạo nên những đơn
vị tương đương từ như NCĐ mới đã gây ấn tượng mạnh trong độc giả (chẳng hạn như: 99 chuyện đời, người hay cãi, cơn mưa thử thách, máy công máy tư,
“chiếu cầu hiền” thời cách mạng, bệnh ham ghế, quyền lực mềm, nền dân chủ thương mại, xâm lăng văn hóa…)
Chuẩn mực về từ trong phong cách của ông còn là chuẩn mực của việc dùng từ phù hợp với phong cách thể loại
Xuyên suốt tinh thần dùng từ, ông luôn dùng từ có trong vốn từ dân tộc Điều đó cho thấy vốn từ của ông lớn Có như vậy Hữu Thọ mới đủ sức thay thế các từ mà theo dòng chảy hiện đại, nhiều nhà báo trẻ đang sử dụng như là một “mốt” trong cách nói/viết hôm nay Tuy vậy, ông cũng không phải
là người “bảo thủ” Hữu Thọ không có thái độ cực đoan với từ mới Ngược lại, trong các bài báo, nhất là thể loại bình luận, nhiều từ mới với nghĩa mới
đã được ông vận dụng Sự tôn trọng vốn từ dân tộc luôn đi cùng với việc làm cho vốn từ dân tộc không chỉ phong phú hơn mà còn là làm cho vốn từ đó
“hòa nhịp” được cùng với “nhịp” hiện đại, đổi mới của dân tộc Do vậy, chỉ riêng về vấn đề dùng từ, từ nhà báo Hữu Thọ, các nhà báo trẻ cũng sẽ rút ra được nhiều bài học, mà đầu tiên là tinh thần tích cực - chủ động - sáng tạo trên cơ sở của sự kế thừa kết hợp với kiến thức ngôn ngữ, kiến thức xã hội để góp phần giữ gìn, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần làm giàu có vốn từ tiếng Việt
II Tiêu chí đánh giá ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí – nhìn từ những đóng góp về ngôn ngữ của nhà báo Hữu Thọ
1 Tiêu chí về năng lực đại chúng hóa ngôn ngữ báo chí
Trang 9Cần phân biệt: đại chúng hóa ngôn ngữ trong phong cách báo chí khônng phải là sự nôm na, phổ thông hóa cách nói/ viết; không phải là sự dễ dãi, chạy theo lối nói/ viết đời thường
Đại chúng hóa ngôn ngữ báo chí là sự vận dụng ngôn từ một cách sáng tạo để biểu đạt thông tin bằng tư duy của công chúng; là sự “điều khiển” ngôn ngữ trên cơ sở của tư duy công chúng Do đó, yêu cầu này đòi hỏi nhà báo phải hiểu rất rõ nhân dân/ công chúng ở từng địa hạt xã hội
Nhà báo Hữu Thọ luôn đặt câu hỏi “viết cho ai” Do đó, câu chữ của ông được “vận hành” trong tay viết của một nhà báo nghiêm túc với công việc nhưng được xử lý thông qua sự am hiểu tư duy của đối tượng tiếp nhận Do
đó, những tổng kết theo kiểu thành ngữ dân gian sau đây lại được chính nhà báo tạo nên: hoa hồng kiểu thông đồng; bạn và “bè”, “cán bộ đi bằng bốn chân”…
Các thành ngữ, tục ngữ, ca dao thể hiện ngôn ngữ dân gian/công chúng nhưng sự trong sáng, hàm súc, giàu ý nghĩa của ngôn ngữ trong các thể loại dân gian này luôn là tấm gương để ngôn ngữ viết hướng tới Do vậy, sự “đại chúng hóa” ngôn ngữ báo chí cũng là sự học tập cách diễn đạt trong sáng, cô đúc của nhân dân
Yêu cầu về sự đại chúng hóa ngôn ngữ báo chí cần thể hiện cụ thể ở những tiêu chí sau:
a Tiêu chí về việc vận dụng các lớp từ
Cần hạn chế những lớp từ tạo nên sự khó tiếp nhận đối với người đọc, như thuật ngữ, từ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ Với lớp từ mới, chỉ nên sử dụng những từ nào đã được phổ biến trong cộng đồng (vd: sống ảo, mạng xã hội, lướt Web, lên face), với những từ chưa ổn định trong cách tiếp nhận thì chưa sử dụng trong ngôn ngữ báo chí (thả thính, bánh bèo, soái ca…)
b Tiêu chí về việc vận dụng vốn từ vựng văn hóa dân tộc
Nền tảng của việc huy động vốn từ là vốn từ vựng dân tộc, nhưng phong cách báo chí yêu cầu cao trong việc chọn lọc từ vựng văn hóa dân tộc
Trang 10Nghĩa là, cần loại trừ lớp từ có lối sử dụng dễ dãi Ví dụ, hiện nay, trong lớp
từ mới, có một số từ như: vãi (sợ vãi), girl bánh bèo, thả thính…Những từ kiểu như vậy không nên xuất hiện trên báo chí
c Tiêu chí về việc vận dụng chính xác nguồn ngôn ngữ sẵn có trong dân gian
Đó là các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ca dao cũ, mới Việc vận dụng nhóm ngôn ngữ này không chỉ cho thấy sự am hiểu văn hóa dân tộc mà còn thể hiện được khả năng bám sát đời sống thực tiễn của nhà báo, khả năng
“bắt” được tư duy dân gian của báo chí Như vậy, báo chí tránh được sự nói/viết nhảm, nhàm chán, hời hợt
d Yêu cầu về tính phong cách
Bên cạnh phong cách thể loại, nhà báo cần tạo cho mình dấu ấn cá nhân Yêu cầu về việc xây dựng phong cách là một “áp lực” khiến nhà báo phải trăn trở tìm cái riêng khi cầm bút Ngôn ngữ không của riêng ai Nhưng không phải ai cũng dùng được ngôn ngữ như một tấm thẻ cá nhân Áp lực xây dựng phong cách yêu cầu nhà báo không chỉ vận dụng cái sẵn có mà còn phải sáng tạo trên cơ sở hiểu xã hội và lấy văn hóa dân tộc làm chuẩn mực trong thẩm mỹ sáng tạo
2 Tiêu chí trong việc bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Đây cần là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của báo chí Tốc
độ, mức độ ảnh hưởng của báo chí đối với công chúng rất lớn và mạnh mẽ Báo chí là một bộ phận góp phần chuẩn hóa tiếng mẹ đẻ Tuy nhiên, vì áp lực tốc độ - thời gian trong công việc, báo chí cũng góp phần “phát tán” những tạp chất ngôn từ trong xã hội
Tiêu chí này cần được thực hiện trên các mục tiêu cụ thể sau:
a Khả năng củng cố và phát huy vốn ngôn ngữ dân gian (thành ngữ, tục ngữ, điển tích, điển cố, giai thoại, truyện, các loại thơ ca dân gian)
Yêu cầu về sự củng cố vốn ngôn ngữ dân gian đòi hỏi nhà báo sử dụng đúng và chính xác nhóm ngôn ngữ này