1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017

87 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Tỷ Lệ Và Dung Mụi Trích Ly Đến Hàm Lượng Polyphenol Tổng Số, Flavonoid Tổng Số, Thiosulfinate Và Hoạt Tính Chống Oxy Húa Từ Vỏ Tỏi (Allium Sativum L.)
Tác giả Nguyễn Ái Thạch
Người hướng dẫn NGND.GS.TS Ngụ Văn Lệ, PGS.TS Đỗ Hồng Lan Chi, PGS.TS Ngụ Minh Oanh, PGS.TS Phan Thị Hồng Xuõn, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh, PGS.TS Đỗ Hạnh Nga, TS. Nguyễn Viết Dũng, TS. Nguyễn Thị Bạch Huệ, TS. Bạch Long Giang, TS. Thi Ngọc Bảo Dung
Trường học Can Tho University
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 13,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017 trình bày các nội dung chính sau: Ảnh hưởng của tỷ lệ và dung môi trích ly đến hàm lượng Polyphenol tổng số, Flavonoid tổng số, Thiosulfinate và hoạt tính chống oxy hóa từ vỏ tỏi (Allium Sativum L.); Bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải thương mại – so sánh pháp luật việt nam và luật mẫu Uncitral; Đánh giá hiệu quả loại bỏ chất ô nhiễm và đặc tính bẩn màng của hệ thống MF xử lý nước cấp an toàn cho các cơ sở y tế quy mô nhỏ;...

Trang 2

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

(Allium Sativum L.)

1

Trần Quốc Thái Nguyễn Thị Kim Thanh Bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải thương mại – so

sánh pháp luật việt nam và luật mẫu Uncitral

6

Trần Thị Giang Nguyễn Thị Diễm

Vũ Ngọc Bảo Châu

Con dấu của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam – thực tiễn

áp dụng và phương hướng hoàn thiện

19

Đỗ Thị Bích Ngọc Trương Minh Hồng Bùi Xuân Thành

Võ Thị Kim Quyên Đào Khánh Châu Trần Thanh Đại

Đánh giá hiệu quả loại bỏ chất

ô nhiễm và đặc tính bẩn màng của hệ thống MF xử lý nước cấp an toàn cho các cơ sở y tế quy mô nhỏ

28

Lâm Văn Tân Đề xuất biện pháp nâng cao

hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Cần Thơ thông qua phong trào

45

Nguyễn Thành Nhân Nguyễn Phụ Thượng Lưu

Nghiên cứu đặc tính dòng chảy không khí trong quá trình nạp động cơ xăng dựa trên mô phỏng CFD

54

Trần Thị Quỳnh Giang Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu

thuyết Đỗ Bích Thúy  

60

Huỳnh Thị Trà Phê bình văn học hiện thực

huyền ảo ở Việt Nam - những thành tựu, giới hạn và khả thể

69

Trần Văn Công Nguyễn Thị Hồng

Lý Ngọc Huyền

Tổng quan về các thang đo gây hấn trên thế giới và phát triển thang đo tính gây hấn cho học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ VÀ DUNG MÔI TRÍCH LY ĐẾN HÀM LƯỢNG POLYPHENOL TỔNG SỐ, FLAVONOID TỔNG SỐ, THIOSULFINATE VÀ

HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA TỪ VỎ TỎI (ALLIUM SATIVUM L.)

Nguyễn Ái Thạch *

Trường Đại học Cần Thơ

*Tác giả liên lạc: nguyenaithach2001@gmail.com

(Ngày nhận bài: 06/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Tỏi (Allium sativum L.), thuộc họ Liliaceae, là một loại gia vị thực phẩm phổ biến, được

sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Vỏ tỏi thường bị vứt bỏ trong nông nghiệp được trích ly bằng cách sử dụng các loại dung môi (nước, ethanol 50% và 100%) và tỷ

lệ trích vỏ tỏi/dung môi (1/5, 1/10 và 1/15) khác nhau Tất cả các dịch trích đều được xác định hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học (polyphenol tổng số, flavonoid tổng số và thiosulfinate) Hoạt tính chống oxy hóa được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp loại bỏ gốc tự do DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trích ly vỏ tỏi trong dung môi ethanol 50% với tỷ lệ nguyên liệu/dung môi là 1/10 thu được hàm lượng các hợp chất sinh học (cụ thể là polyphenol, flavonoid)

và thể hiện hoạt tính chống oxy hóa cao nhất

Từ khóa: Trích ly, dung môi, polyphenol tổng số, flavonoid tổng số, thiosulfinate, hoạt

tính chống oxy hóa, vỏ tỏi

INFLUENCE OF EXTRACTION RATIOS AND SOLVENTS ON TOTAL POLYPHENOLS CONTENT, TOTAL FLAVONOIDS CONTENT,

THIOSULFINATE AND ANTIOXIDANT ACTIVITY FROM GARLIC

(ALLIUM SATIVUM L.) HUSK

Nguyen Ai Thach*

Can Tho University

*Corresponding Author: nguyenaithach2001@gmail.com

ABSTRACT

Garlic (Allium sativum L.), belong to the Liliaceae family, is a common food spice, used widely in the word The agriculturally disposed garlic husk were extracted by using different solvents (water, ethanol 50% and 100%) and garlic husk/solvent ratios (1/5, 1/10 and 1/15), as well as determination of bioactive compounds content (total polyphenols, total flavonoids and thiosulfinate content) of all obtained extracts The antioxidant activity was evaluated using DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) radical scavenging activity The results obtained indicate that garlic husk were extracted in 50% ethanol solvent with a material/solvent ratio of 1/10 that obtained the highest levels

of bioactive compounds (such as polyphenols, flavonoids) and the highest antioxidant activity

Keywords: Extraction, solvents, total polyphenols content, total flavonoids content,

thiosulfinate, antioxidant activity, garlic husk

TỔNG QUAN

Tỏi (Allium sativum L.) đã được sử dụng

từ xưa trong thực phẩm và mục đích y học

Tỏi là một nguồn rất giàu những hợp chất

lưu huỳnh hữu cơ (nhóm hợp chất thiosulfinate) đặc biệt, các chất này đóng vai trò quan trọng trong tác dụng có lợi cho sức khỏe của tỏi Những thành phần có

Trang 4

hoạt tính sinh học trong tỏi được biết đến

sở hữu nhiều chất chống oxy hóa

(Amagase, 2006) Trong suốt thời gian thu

hoạch củ tỏi đem lại một số lượng đáng kể

vỏ, cuống lá và lá; các phần này đơn giản

chỉ bị thải bỏ gây ra vấn đề nghiêm trọng

trong môi trường cộng đồng Cuống và lá

tỏi chứa allicin, thành phần có hoạt tính

sinh học chính trong tỏi; allicin tương đối

thấp hơn trong củ tỏi (Mohsen and Shahab,

2010) Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có

thông tin nào về thành phần hóa học của

vỏ tỏi (vật liệu không ăn được) có mùi vị

cay nồng đặc trưng như một nguồn tiềm

năng polyphenol

Một vài phụ phẩm nông nghiệp và công

nghiệp đã được nghiên cứu như nguồn phụ

gia tự nhiên an toàn tiềm năng với tính chất

kháng khuẩn và/hoặc chống oxy hóa cho

ngành công nghiệp thực phẩm; nhiều hợp

chất khác nhau được phân lập, rất nhiều

trong số đó là polyphenol Ngoài ra, hợp

chất polyphenol có lợi tích cực đối với sức

khỏe trong việc ngăn ngừa nhiều bệnh ở

người liên quan đến stress oxy hóa

(Scalbert et al., 2005) Các hệ thống dung

môi khác nhau đã được sử dụng để trích ly

hợp chất phenolic từ chất thải nông nghiệp

và từ hoạt động phụ thuộc vào các hợp chất

polyphenol và thử nghiệm chống oxy hóa,

nghiên cứu so sánh nhằm lựa chọn dung

môi tối ưu cung cấp hoạt động chống oxy

hóa tối đa cần thiết cho mỗi chất nền

Trong thực tế, một số quy trình đã được đề

xuất (Pokorny and Korczak, 2001): trích ly

bằng cách sử dụng chất béo và dầu, dung

môi hữu cơ, dung dịch nước kiềm và CO2

siêu tới hạn Các hợp chất phenolic thực

vật đã được trích ly bởi nhiều hệ thống

dung môi khác nhau (Pinelo et al., 2004)

Tuy nhiên, bản chất của dung môi trích ly

ảnh hưởng mạnh đến hiệu suất trích ly và

khả năng chống oxy hóa do sự hiện diện

của các hợp chất chống oxy hóa khác nhau

với sự phân cực và đặc tính hóa học khác

nhau Điều này làm cho chúng hòa tan

hoặc không hòa tan trong một loại dung

môi cụ thể (Sultana et al., 2009) Hoạt tính

chống oxy hóa của các hợp chất phenolic

bị ảnh hưởng đáng kể bởi độ phân cực của dung môi sử dụng trích ly Vì vậy, lựa chọn dung môi thích hợp rất quan trọng đối với trích ly nguyên liệu có nguồn gốc

từ thực vật Dung môi trích ly thường được lựa chọn tùy theo mục đích trích ly, khả năng phân cực của các thành phần mục tiêu Tuy nhiên, chưa có phương pháp trích

ly chung để áp dụng cho các loại nguyên liệu do tính phức tạp của các hợp chất sinh học và sự tương tác của chúng với các hợp chất khác trong nguyên liệu Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xác định tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại dung môi thích hợp cho quá trình trích ly hợp chất polyphenol, flavonoid, thiosulfinate và hoạt động chống oxy hóa trong vỏ tỏi

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP Nguyên vật liệu

Tỏi tươi được thu hoạch và chọn lựa độ tuổi 130-135 ngày (sau khi gieo) tại phường Văn Hải, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Vỏ tỏi khô được tách ra khỏi củ tỏi Vỏ tỏi khô được thu nhận và sấy khô đến độ ẩm 3-5% Tiếp theo, mẫu vỏ tỏi khô được nghiền mịn và cho qua rây sàng 1 mm Sau đó, bột vỏ tỏi được gói trong bao bì plastic tráng nhôm

và bảo quản ở 4oC trước khi trích ly

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp công nghệ

Bột vỏ tỏi được trộn với nước, dung dịch ethanol pha trong nước cất (50% và 100%) theo các tỷ lệ nguyên liệu vỏ tỏi/dung môi

là 1/5, 1/10 và 1/15, để yên ở nhiệt độ phòng trong 1 giờ Sau đó, hỗn hợp được lọc qua giấy lọc Whatman®41 Tất cả dịch trích ly đều được giữ ở 4oC trước khi phân tích

Phương pháp phân tích

Hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) (mg acid gallic tương đương (GAE)/g chất khô): hàm lượng polyphenol tổng số được xác định bằng phương pháp Folin-

Ciocalteu (Wolfe et al., 2003) Phenol

phản ứng với acid phosphomolybdic trong

Trang 5

thuốc thử Folin-Ciocalteau, xuất hiện phức

chất có màu xanh trong môi trường kiềm

Đo độ hấp thụ của mẫu ở 765 nm bằng

máy đo quang phổ UV Căn cứ vào cường

độ màu đo được trên máy quang phổ và

dựa vào đường chuẩn acid gallic để xác

định hàm lượng polyphenol tổng số có

trong mẫu Hàm lượng polyphenol tổng

của mẫu được thể hiện qua mg đương

lượng acid gallic trên mỗi gram chất khô

(mg GAE/g)

Hàm lượng flavonoid tổng số (TFC): hàm

lượng tổng flavonoid được xác định thông

qua phương pháp tạo màu với AlCl3 trong

môi trường kiềm - trắc quang (Zhu et al.,

2010) Độ hấp thụ của dung dịch phản ứng

được đo ở bước sóng 415 nm Dựa vào

đường chuẩn quercetin để xác định hàm

lượng flavonoid tổng có trong mẫu Các

kết quả được thể hiện qua mg đương lượng

quercetin (QE) trên mỗi g chất khô mẫu

phân tích (mg QE/g)

Hàm lượng thiosulfinate tổng số (mol/g):

đo độ hấp thu ở bước sóng 412 nm của

2-nitro-5-thiobenzoate được tạo ra bằng

cách kết hợp các phương pháp của

Kinalski and Noreña (2014)

Hoạt động chống oxy hóa (%): hoạt động

loại bỏ gốc tự do được phân tích thông qua

thử nghiệm 1,1-diphenyl-2-picryl-hydrazil

(DPPH) Khả năng khử gốc tự do DPPH

được xác định theo phương pháp của Blois

(1958) Các chất có khả năng oxy hóa sẽ

trung hòa gốc DPPH bằng cách cho

hydrogen, làm giảm độ hấp thu tại bước

sóng cực đại và màu của dung dịch phản

ứng sẽ nhạt dần, chuyển từ tím sang vàng

nhạt

Phân tích thống kê số liệu

Các kết quả thực nghiệm được phân tích

bằng phần mềm Statgraphics Centurion

XVI Đồ thị được vẽ bằng phần mềm

Microsoft Excel với độ lệch chuẩn (STD)

Mỗi khảo nghiệm được thực hiện ba lần

Phương pháp phân tích phương sai

(ANOVA) được sử dụng để xác định sự

khác biệt ư nghĩa (p<0,05) giữa các trung

bình nghiệm thức

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Polyphenol là các chất chống oxy hóa nhiều nhất trong chế độ ăn uống của chúng

ta và là thành phần phổ biến trong các loại thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu vỏ tỏi/dung môi và loại dung môi được thể hiện ở Hình

1 Kết quả cho thấy hàm lượng polyphenol cao nhất ở tỷ lệ 1/10 và 1/15 (không có sự khác biệt ý nghĩa (p>0,05)) với loại dung môi ethanol 50% lần lượt là 9,60 và 10,19

mg GAE/g, tương ứng Dung môi nước cho thấy khả năng trích ly polyphenol là thấp nhất ở tất cả các tỷ lệ (4,88-7,17 mg GAE/g) Điều này có thể do sự hiện diện của các tạp chất (acid hữu cơ, glucide, protein hòa tan) Tạp chất làm ảnh hưởng đến việc xác định các hợp chất phenolic

Hình 1 Hàm lượng polyphenol tổng số

(mg GAE/g) trong dịch vỏ tỏi được trích

ly theo tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại

dung môi khác nhau Flavonoid là các cấu trúc phức tạp tùy thuộc vào sự phân bố polyphenol và có nhiều chức năng trong thực vật; đây là những hợp chất phòng vệ được sử dụng chống lại côn trùng và một số tác nhân gây bệnh và là các chất chống oxy hóa tự nhiên

lý tưởng Tương tự polyphenol, hàm lượng flavonoid thu được từ vỏ tỏi thấp nhất trong dung môi nước (0,044-0,078 mg QE/g) (Hình 2) Trong thí nghiệm này, có

sự khác biệt ý nghĩa (p<0,05) giữa hàm lượng flavonoid thu được trong ethanol (50 và 100%) và nước Điều này có nghĩa thực vật chứa nhiều flavonoid heteroside hơn aglicone

0 3 6 9 12

Trang 6

Hình 2 Hàm lượng flavonoid tổng số

(mg QE/g) trong dịch vỏ tỏi được trích ly

theo tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại

dung môi khác nhau

Hợp chất thiosulfinate (allicin là chủ yếu)

trong tỏi đảm nhiệm mùi vị cay nồng đặc

trưng của tỏi Ngược với hai hợp chất đã

nêu trên, thiosulfinate trong vỏ tỏi tan tốt

trong nước Kết quả phân tích ảnh hưởng

của tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại

dung môi đến hàm lượng thiosulfinate

được thể hiện ở Hình 3 Hàm lượng

thiosulfinate cao nhất thu được ở tỷ lệ 1/10

và 1/15 (không có sự khác biệt ý nghĩa

(p>0,05)) trong nước lần lượt là 7,60 và

7,33 mol/g, tương ứng

Lượng dung môi lớn có thể tạo ra một

gradient nồng độ cao, dẫn đến tăng tốc độ

khuếch tán, thúc đẩy nhanh quá trình trích

ly chất rắn bằng dung môi Hơn nữa, sự

tiếp xúc giữa các hợp chất có hoạt tính sinh

học và dung môi càng nhiều khi gia tăng

tỷ lệ dung môi làm tăng hiệu quả của quá

trình trích ly Tuy nhiên, hàm lượng các

chất có hoạt tính sinh học sẽ không tiếp tục

tăng khi trạng thái cân bằng diễn ra

Hình 3 Hàm lượng thiosulfinate

(mol/g) trong dịch vỏ tỏi được trích ly

theo tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại

dung môi khác nhau

Hình 4 Hoạt tính chống oxy hóa (%)

trong dịch vỏ tỏi được trích ly theo tỷ lệ nguyên liệu/dung môi và loại dung môi

khác nhau Tất cả các dịch trích thu được bằng cách

sử dụng dung môi hữu cơ tinh khiết và dung dịch dung môi hữu cơ pha loãng cho thấy khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH mạnh hơn so với dịch vỏ tỏi trích ly bằng nước (Hình 4) Trong nghiên cứu này không tìm thấy mối tương quan giữa hoạt động chống oxy hóa và hàm lượng polyphenol tổng số (flavonoid tổng số hoặc thiosulfinate) Điều này có thể do khả năng chống oxy hóa phụ thuộc vào cấu trúc và sự tương tác giữa các hợp chất này

KẾT LUẬN

Những kết quả đạt được trong nghiên cứu này cho thấy vỏ tỏi có thể được sử dụng như nguồn giàu các hợp chất có lợi như polyphenol, flavonoid và thiosulfinate Trích ly vỏ tỏi trong dung môi ethanol 50% với tỷ lệ nguyên liệu/dung môi là 1/10 thu được hàm lượng các hợp chất sinh học và thể hiện hoạt tính chống oxy hóa cao nhất Kết quả nêu lên lợi ích của vỏ tỏi

vì vỏ tỏi có thể là nguồn giàu chất chống oxy hóa hứa hẹn được sử dụng cho các ứng dụng khác nhau trong lĩnh vực sinh học, y học và thực phẩm

Ethanol 100%

0 20 40 60 80 100

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

AMAGASE, H., (2006) Clarifying the real bioactive constituents of garlic J Nutr 136

(3 Suppl.) 716S-725S

BLOIS, M S., (1958) Antioxidant determination by the use of a stable free radical

Nature 181 1199-1200

KINALSKI, T and NOREŇA, C P Z., (2014) Effect of blanching treatments on

antioxidant activity and thiosulfinate degradation of garlic (Allium sativum L.)

Food and Bio Technology (7) 2152-2157

MOHSEN, A and SHAHAB, B., (2010) Introducing of green garlic plant as a new

source of allicin Food Chem 120 179–183

PINELO, M., RUBILAR, M., SINEIRO, J., and NUNEZ, M J., (2004) Extraction of

antioxidant phenolics from almond hulls (Prunus amygdalus) and pine sawdust (Pinuspinaster) Food Chem 85 267–273

POKORNY, J and KORCZAK, J., (2001) Preparation of natural antioxidants In: Pokony, J., Yanishlieva, N., Gordon, M (Eds.), Antioxidants in Food, Practical Applications W-Publishing Ltd., Cambridge, pp 311–330

SCALBERT, A., MANACH, C., MORAND, C., REMESY, C., and JIMENEZ, L.,

(2005) Dietary polyphe-nols and the prevention of diseases Crit Rev Food Sci

Nutr 45 287–306

SULTANA, B., ANWAR, F., and ASHRAF, M., (2009) Effect of extraction Solvent/Technique onthe antioxidant activity of selected medicinal plant extracts

Molecules 14 2167–2180

WOLFE, K., WU, X., and LIU, L H., (2003) Antioxidant activity of apple peels J

Agric Food Chem 51 609-614

ZHU, H., WANG, Y., LIU, Y., XIA, Y., and TANG, T., (2010) Analysis of flavonoids

in Portulaca oleracea L by UV–vis spectrophotometry with comparative study on

different extraction technologies Food Analytical Methods 3 (2) 90-97

Trang 8

BẢO MẬT THÔNG TIN TRONG QUÁ TRÌNH HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI – SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL

Trần Quốc Thái*, Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật Dân sự - Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

*Tác giả liên lạc: quocthaihsv@gmail.com

(Ngày nhận bài: 24/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Bảo mật là nguyên tắc quan trọng của hòa giải với nội dung đề cập đến việc bảo đảm không để bất kỳ thông tin trong quá trình hòa giải được tiết lộ ra ngoài vòng kiểm soát của các bên tham gia và hòa giả viên (HGV) Lý do chính cho việc bảo vệ bí mật nhằm hướng đến tăng cường sự tin cậy của các bên trong tranh chấp và cả HGV Bằng phương pháp phân tích luật và so sánh quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) với Luật mẫu của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về hòa giải thương mại năm 2002 (Luật mẫu UNCITRAL), bài viết cho thấy dù Việt Nam đã có bước tiến dài để hội nhập xu hướng chung của pháp luật thế giới, tuy nhiên chúng ta vẫn quy định khác biệt về một số vấn đề Bài viết sẽ thực hiện hai nhiệm vụ: (1) Phân tích cách áp dụng điều luật và (2) làm rõ liệu những khác biệt trong pháp luật Việt Nam có hợp lý?

Từ khóa: Hòa giải thương mại, bảo mật, thông tin, từ chối, tiết lộ, cung cấp, chứng cứ,

bên thứ ba

CONFIDENTIALITY IN COMMERCIAL MEDIATION –

A COMPARATIVE STUDY BETWEEN THE LAW OF VIETNAM AND

UNCITRAL MODEL LAW Tran Quoc Thai*, Nguyen Thi Kim Thanh

Faculty of Civil Law – HCMC University of Law

*Corresponding Author: quocthaihsv@gmail.com

ABSTRACT

Confidentiality is the mediation’s core rule, with content of preventing all of information provided by each party from being disclosed out of the parties and mediator’s control This characteristic makes medition procedure more effective than court one The purpose hereof is to enhance trust between parties, even so mediator By analysing and comparing regulations between the Decree No 22/2017/ND-CP on Commercial Mediation and UNCITRAL Model Law on International Commercial Conciliation 2002, this paper shall point out the fact that despite having made great strides to integrate into the world trend of law, Vietnam remains some different regulations Therefore, this paper shall handle two tasks: (1) To analyse how to apply the law of Vietnam on

mediation; and (2) To clarify whether the difference hereof is reasonable

Keywords: Commercial mediation, confidentiality, information, reject, disclosure,

provide, proof, third parties

TỔNG QUAN

Trong thương mại, tình hình hoạt động

kinh doanh ổn định là thước đo uy tín và

rủi ro mà đối tác xem xét khi quyết định

hợp tác Do vậy, bất kỳ thông tin cho biết

một doanh nghiệp đang có tranh chấp, kiện tụng sẽ dễ làm tăng thang độ đánh giá rủi

ro và khiến đối tác có xu hướng trì hoãn, thậm chí dừng hợp tác đầu tư kinh doanh Hành vi kiểm soát, không tiết lộ thông tin

Trang 9

doanh nghiệp đang có tranh chấp ra ngoài

không thể xem là lừa dối doanh nghiệp đối

tác, bởi lẽ tranh chấp là hiện tượng tất yếu

trong mối quan hệ cộng sinh, cần hiểu rằng

việc bảo mật này nhằm bảo vệ uy tín doanh

nghiệp trước rủi ro bị đối thủ cạnh tranh

gièm pha, hoặc doanh nghiệp đối tác hiểu

lầm gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ

thương mại

Tính bảo mật có khả năng được thể hiện

qua hai cấp độ: (1) Bảo mật giữa các bên

tranh chấp trong quá trình hòa giải và (2)

bảo mật với bên thứ ba sau khi hòa giải

diễn ra Ngoài ra, bảo mật thông tin không

là nguyên tắc tuyệt đối, bởi trong một số

trường hợp ngoại lệ, thông tin buộc bị tiết

lộ ngoài tầm kiểm soát của các bên tranh

Thứ nhất, Luật mẫu UNCITRAL Thực

tiễn pháp lý cho thấy hòa giải đang ngày

càng được sử dụng phổ biến tại nhiều nơi

trên thế giới, kể cả những nơi mà cách đây

10 đến 20 năm phương thức giải quyết

tranh chấp này vẫn còn ít được biết đến

Đến năm 2002, UNCITRAL đã quyết định

xây dựng một luật mẫu nhằm tạo điều kiện

thuận lợi cho việc sử dụng thủ tục hòa giải

trong giải quyết tranh chấp Các quốc gia

trong quá trình nội luật hóa Luật mẫu

UNCITRAL có quyền sửa đổi, bổ sung

hoặc bỏ đi một số quy định cho phù hợp

với hoàn cảnh của nước mình Tại Việt

Nam, trình tự, thủ tục hòa giải trong Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP về cơ bản được

xây dựng trên cơ sở tham khảo Luật mẫu

UNCITRAL Dựa vào cách quy định của

Luật mẫu và Nghị định số

22/2017/NĐ-CP, vấn đề bảo mật được đặt ra trong khi

tiến hành hòa giải và sau khi hòa giải đã kết

thúc

Thứ hai, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

được ban hành trong bối cảnh đất nước

đang phát triển toàn diện về kinh tế, chính

trị, xã hội, ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đã và đang tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn nhưng cũng không kém phần phức tạp và cạnh tranh gay gắt Các tranh chấp kinh tế, thương mại phát sinh với số lượng ngày càng nhiều và phức tạp hơn đòi hỏi phải có những cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu thực tiễn của Việt Nam Theo Bộ Tư pháp (2015), trước tình hình nêu trên, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc đa dạng hóa cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, qua đó, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và ổn định, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc hội nhập quốc tế và việc thực hiện cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực dịch vụ hòa giải, Nghị định về hòa giải thương mại được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết và cấp bách trên

Ngoài ra, trong quá trình phân tích pháp luật Việt Nam, các quy định liên quan trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (Luật số: 92/2015/QH13) ngày 25/11/2015 (BLTTDS 2015), Quy tắc Hòa giải năm

1980 của UNCITRAL sẽ được đề cập

Thứ hai, phương pháp so sánh: Chúng tôi

tiến hành so sánh các quy phạm có liên quan đến hòa giải trong Luật mẫu UNCITRAL để hiểu rõ hơn pháp luật quốc gia mình Đồng thời, chúng tôi tìm hiểu các giải pháp hoặc các nhu cầu điều chỉnh pháp luật về hòa giải mà các nước đã thực hiện

Từ đó, chúng tôi đề xuất các kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Trang 10

Tùy từng mục, mỗi phương pháp sẽ được

sử dụng kết hợp với các phương pháp khác

hoặc được sử dụng với vai trò chủ đạo phù

hợp nội dung nghiên cứu

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Bảo mật giữa các bên tranh chấp trong

quá trình hòa giải

Theo nguyên tắc chung, các thông tin trong

quá trình hòa giải sẽ được bảo mật, ngay cả

giữa các bên tranh chấp Tuy nhiên, mâu

thuẫn không thể hóa giải nếu các bên

không hiểu vấn đề, xung đột của nhau Do

vậy, pháp luật về hòa giải quy định cơ chế

để thông tin, dù về nguyên tắc sẽ được bảo

mật, vẫn có thể được cung cấp cho các bên

Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này thông qua

hai khía cạnh: Khả năng công bố thông tin

và chủ thể được yêu cầu công bố thông tin

trong Luật mẫu và Nghị định số

22/2017/NĐ-CP

Khả năng công bố thông tin

Luật mẫu UNCITRAL tại Điều 8 quy định

về hoạt động công bố thông tin kèm điều

khoản bảo mật: “Khi nhận thông tin liên

quan đến tranh chấp từ một bên, HGV có

thể tiết lộ bản chất thông tin cho bất kỳ bên

nào khác trong hoà giải Tuy nhiên, khi

một bên đưa thông tin đến HGV kèm điều

kiện phải giữ bí mật, thông tin sẽ không

được tiết lộ cho bất kỳ bên nào khác”

Thông thường, mâu thuẫn chỉ được hóa

giải khi các bên tranh chấp hiểu vấn đề của

nhau Tuy nhiên, hoạt động này bị giới hạn

bởi chính bên đưa ra thông tin, trong

trường hợp chỉ muốn cung cấp sự kiện, tình

tiết cho riêng HGV thì họ có thể yêu cầu

thông tin đó phải được giữ bí mật

Theo UNCITRAL (2001), trong quá trình

soạn thảo, một số quốc gia cho rằng Điều

8 có cách tiếp cận lỗi thời và đề xuất sửa

đổi điều luật theo hướng: “Khi HGV, hội

đồng HGV hoặc một thành viên của ban

HGV nhận được thông tin liên quan đến

tranh chấp từ một bên, HGV hoặc hội đồng

HGV sẽ không tiết lộ thông tin đó cho bất

kỳ bên nào khác, trừ khi bên thông tin đồng

ý với sự tiết lộ đó” Phản hồi lập luận trên

và giải thích cho quy định tại Điều 8 Luật mẫu, UNCITRAL nhấn mạnh vào mục đích đảm bảo thông tin giữa các bên tham gia hoà giải được truyền đạt kịp thời và dễ dàng Theo đó, vai trò của HGV là thúc đẩy việc trao đổi thông tin liên quan đến tranh chấp để góp phần tăng cường lòng tin của các bên Đồng thời, HGV có quyền, chứ không có nghĩa vụ, tiết lộ thông tin cho bên kia Bởi vì, HGV không được công bố thông tin khi bên cung cấp thông tin đã đặt điều kiện rõ ràng rằng chúng phải được giữ

bí mật

Theo UNCITRAL (A/CN.9/506, 2002), không ít các quốc gia cũng thừa nhận cơ chế trao đổi thông tin này Vì vậy, nếu không muốn sự kiện, tình tiết của mình bị tiết lộ, ngay cả phạm vi chỉ giới hạn trong khuôn khổ hòa giải, thì một bên phải đưa

ra yêu cầu rõ ràng Đồng thời, theo UNCITRAL (2004), sau khi xem xét mong đợi tự nhiên và chính đáng của các bên về việc thông tin cung cấp cho HGV phải được giữ bí mật, HGV phải cho các bên biết rằng mọi thông tin mà họ cung cấp có thể được tiết lộ, trừ khi họ quyết định khác Khác biệt với Luật mẫu, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không dành một điều luật riêng biệt để quy định về việc hoà giải viên được gặp riêng một bên và cũng không quy định cụ thể vấn đề cung cấp thông tin cho bên còn lại Thay vì ghi nhận thống nhất tại một điều luật, Nghị định số 22/2017/NĐ-

CP dường như điều chỉnh vấn đề bảo mật thông tin bằng cách lồng ghép vào các điều luật về quyền, nghĩa vụ và điều cấm đối với HGV Cụ thể tại Điểm b Khoản 1 Điều 9

về quyền của HGV thương mại “từ chối

cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”, và Điểm c Khoản 2 Điều 9 ghi nhận

về nghĩa vụ của HGV “bảo vệ bí mật thông

tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”

Trang 11

Một điểm khác biệt tiếp theo đáng chú,

Luật mẫu quy định theo hướng cho phép

HGV tự quyết định rằng liệu thông tin có

nên cung cấp cho các bên hoặc giữ kín, trừ

khi các bên yêu cầu phải bảo mật Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP ghi nhận ngược

lại theo hướng thông tin luôn phải được giữ

kín, trừ khi các bên cho phép được tiết lộ

Chúng ta có thể hiểu được ý định của nhà

làm luật thông qua cách sử dụng cấu trúc

“Từ chối cung cấp thông tin […], trừ […]”

tại Điểm b Khoản 1 Điều 9, thay vì “[…]

có thể tiết lộ thông tin, tuy nhiên […]” như

các bên trao quyền hoặc cho phép thì HGV

mới được thực hiện Do đó, những thông

tin được cung cấp, dù không kèm theo ràng

buộc nào, nó cũng phải được giữ kín Chỉ

như vậy, từng bên tranh chấp mới thẳng

thắn trao đổi, cung cấp thông tin mà không

lo ngại trường hợp HGV tự ý tiết lộ với bên

còn lại Đồng thời, cách quy định như Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP vẫn đảm bảo khả

năng thông tin giữa các bên tham gia hoà

giải được truyền đạt kịp thời và dễ dàng,

bởi lẽ chính HGV phải nỗ lực khuyến

khích các bên tranh chấp cởi mở trao đổi

để hiểu rõ về nhau hơn Không những vậy,

chính việc được bảo mật thông tin sẽ giúp

họ thoải mái cung cấp các sự kiện, tình tiết

liên quan Ngoài ra, Nghị định số

22/2017/NĐ-CP cho phép hòa giải được

tiến hành bởi nhiều HGV Vì thế, việc trao

quyền cho phép tiết lộ thông tin thuộc về

các bên tranh chấp là hợp lý, nhằm loại trừ

trường hợp có từ hai HGV tham gia giải

quyết, nhưng chỉ một HGV cảm thấy cần

phải cung cấp thông tin cho bên còn lại,

dẫn đến bất đồng trong chính hội đồng

HGV, gây gián đoạn quá trình giải quyết

xung đột

Chủ thể yêu cầu bảo mật thông tin

Luật mẫu quy định bên nào đưa ra thông

tin, chính bên đó sẽ quyết định có hạn chế

tiết lộ hay không: “Khi một bên đưa thông

tin đến HGV kèm điều kiện phải giữ bí mật” (Điều 8 Luật mẫu) lúc này thông tin

sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên nào khác Ngược lại, cả Điểm b Khoản 1 Điều

9 và Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định số

22/2017/NĐ-CP đều sử dụng cụm từ “trừ

trường hợp các bên có thỏa thuận”, cụ thể

là: “Từ chối cung cấp thông tin liên quan

đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy

định của pháp luật” và “bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham

gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có

thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy

định của pháp luật”

Có thể thấy, Luật mẫu quy định theo hướng

mở rộng khả năng công khai thông tin, bằng cách ghi nhận việc quyết định bảo mật hoặc chia sẻ do một bên quyết định Trong khi đó, Nghị định số 22/2017/NĐ-

CP ghi nhận theo hướng ngược lại nhằm giới hạn khả năng tiết lộ thông tin, bằng cách buộc tất cả các bên thỏa thuận cho phép thì HGV mới được công khai thông tin hòa giải Vấn đề là, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP lại giới hạn quyền quyết định của các bên tranh chấp đối thông tin của riêng mình, cụ thể nếu một bên muốn công khai thì theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 9 và Điểm c Khoản 2 Điều

9, bên này phải thỏa thuận được với bên còn lại, nếu không, mọi điều được hòa giải

sẽ được giữ kín

Bảo mật với bên thứ ba sau thủ tục hòa giải

Nội hàm thông tin được bảo mật

Luật mẫu xây dựng Điều 9 với nguyên tắc,

các thông tin liên quan đến buổi hòa giải sẽ được giữ kín, trừ hai trường hợp ngoại lệ:

“Trừ khi có thoả thuận của các bên, tất cả

các thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp việc công bố thông tin phải được thực hiện theo yêu cầu luật pháp hoặc cho các mục đích thực hiện hoặc thi hành thỏa thuận hòa giải” Tại Điều 9, theo giải thích của

UNCITRAL (2004) thì phạm vi không

Trang 12

gian mà thông tin sẽ không được tiết lộ là

ngoài phiên hòa giải, trừ khi các bên cho

phép Đây là đặc điểm quan trọng cần phân

biệt với phạm vi tại Điều 8 Luật mẫu, nơi

thông tin sẽ được tiết lộ là trong phiên hòa

giải và giữa các bên tranh chấp: “Khi nhận

thông tin liên quan đến tranh chấp từ một

bên, HGV có thể tiết lộ bản chất thông tin

cho bất kỳ bên nào khác trong hoà giải

Tuy nhiên, khi một bên đưa thông tin đến

HGV kèm điều kiện phải giữ bí mật, thông

tin sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên nào

khác”

Có thể minh họa hai quy định này qua tình

huống sau A và B cùng tham gia hòa giải

với HGV C về tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa, trong đó A đã không thanh

toán tiền hàng cho B A cho rằng B giao

hàng có một số sản phẩm bị lỗi, không thể

sử dụng được B sau khi kiểm tra đã phát

hiện dây chuyền có lỗi và đề nghị giảm giá

trị đơn hàng Các bên tiết lộ mà không yêu

cầu phải giữ bí mật, khi đó HGV được tự

quyết định sẽ cung cấp thông tin cho bên

còn lại hoặc không (Điều 8 Luật mẫu),

nhưng sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên

nào khác ngoài các bên tranh chấp đang

hòa giải (Điều 9 Luật mẫu)

Như vậy, một khi thông tin được tiết lộ thì

nó phải được giữ kín Ngoại lệ duy nhất

trong trường hợp này xuất phát từ thỏa

thuận cho phép của tất cả các bên tranh

chấp Đồng nghĩa, đối với vụ việc có nhiều

hơn hai bên thì dù chỉ một bên phản đối,

mọi thông tin sẽ được bảo mật Vấn đề

quan trọng tiếp theo cần làm rõ là xác định

những thông tin thuộc đối tượng điều chỉnh

của Điều 9 Luật mẫu Bằng cách sử dụng

cụm từ: “Tất cả các thông tin liên quan đến

thủ tục hòa giải”, có thể nhận thấy phạm vi

thông tin rất rộng Theo giải thích của

UNCITRAL (2004), quy định trên không

chỉ bao trùm các thông tin được tiết lộ

trong quá trình hoà giải, mà còn cả diễn

biến và kết quả của các thủ tục trước đó,

cũng như các vấn đề liên quan đến hoà giải

xảy ra trước khi quá trình hòa giải bắt đầu

Ví dụ, các cuộc thảo luận liên quan đến

mong muốn hòa giải, các điều khoản thỏa thuận tham gia hòa giải, lựa chọn HGV, lời mời và chấp nhận hoặc từ chối lời mời hòa giải

Đối với Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, có

một sự khác biệt về hình thức quy định Cụ thể, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sử dụng quy định về quyền, nghĩa vụ và điều cấm đối với HGV để ghi nhận các trường hợp ngoại lệ mà theo đó, thông tin tài liệu bí mật của các bên tranh chấp có thể bị công khai Tại Điểm b Khoản 1 Điều 9 về quyền

của HGV thương mại được “Từ chối cung

cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”,

và Điểm c Khoản 2 Điều 9 ghi nhận về

nghĩa vụ của HGV “Bảo vệ bí mật thông

tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”, tiếp đó tại Khoản 1 Điều 10 về những

hành vi bị cấm đối với HGV thương mại:

“Tiết lộ thông tin về vụ việc, khách hàng

mà mình biết được trong quá trình hòa giải, trừ trường hợp được các bên tranh chấp đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật

có quy định khác” Rõ ràng tại Khoản 1

Một khác biệt quan trọng giữa Luật mẫu và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chính là nội dung thông tin được bảo mật Trong khi

Điều 9 Luật mẫu ghi nhận đó là “tất cả các

thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải”,

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định giới hạn hơn, lần lượt trong 3 điều luật trên:

“Thông tin liên quan đến vụ tranh chấp”, hay “thông tin về vụ tranh chấp” hoặc

“thông tin về vụ việc, khách hàng” Có thể

Trang 13

hiểu, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép

HGV tiết lộ thông tin được cung cấp trong

quá trình diễn ra hòa giải Mọi tài liệu hay

tình tiết, sự kiện được công khai trước hoặc

sau giai đoạn này sẽ không thuộc phạm vi

điều chỉnh của Điểm b Khoản 1 Điều 9,

Điểm c Khoản 2 Điều 9 và Khoản 1 Điều

10 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

Chúng tôi cho rằng 3 điều luật trên trong

pháp luật Việt Nam có lý khi chỉ giới hạn

lượng thông tin được bảo mật trong quá

trình hòa giải Bởi lẽ, chính thời điểm bắt

đầu hòa giải, các bên tranh chấp và HGV

sẽ hình thành mối quan hệ pháp lý, với

quyền và nghĩa vụ do Nghị định số

22/2017/NĐ-CP điều chỉnh Do vậy, thông

tin được tiết lộ trước và sau giai đoạn này

tại tòa án và trọng tài là điều rất đáng quan

tâm Bởi các bên có khả năng sẽ tiết lộ

thông tin sau hòa giải trong thủ tục giải

quyết tranh chấp tiếp theo (nếu tranh chấp

vẫn chưa được giải quyết) Thủ tục hòa giải

có thể kết thúc với một bản thỏa thuận hòa

giải thành hoặc không có bất kỳ thỏa thuận

nào Do đó sẽ có hai trường hợp xảy ra, nếu

hòa giải thành thì các bên tự nguyện thi

hành, nếu hòa giải không thành hoặc hòa

giải thành nhưng một trong các bên không

thi hành thì coi như có một tranh chấp dân

sự phát sinh và một bên có quyền khởi kiện

tại tòa án để được giải quyết theo thủ tục tố

tụng dân sự Theo đó, các bên phải cung

cấp và công khai chứng cứ phục vụ cho

mục đích giải quyết tranh chấp theo thủ tục

tố tụng Vậy, vấn đề quan trọng và được

các bên quan tâm nhất chính là liệu chứng

cứ đã tiết lộ trong hòa giải sẽ được sử dụng

như thế nào, HGV có thể bị triệu tập làm

người làm chứng không? Theo Luật mẫu,

khi quyết định chọn cơ chế hòa giải, các

bên tranh chấp mong muốn những quan

điểm, đề xuất và các thông tin khác được

trình bày sẽ không được tiết lộ ra ngoài khuôn khổ thủ tục hòa giải, đặc biệt sẽ không được sử dụng làm bằng chứng trong các phiên tòa, tố tụng trọng tài hoặc thủ tục tương tự tiếp theo Điều 10 Luật mẫu đã giải quyết nhu cầu thực tế đó:

“1 Các bên trong quá trình hòa giải, hoà

giải viên và bất kỳ người thứ ba, bao gồm

cả những người liên quan trong việc quản

lý quá trình này, sẽ không phụ thuộc vào thủ tục tiến hành trọng tài hay tư pháp hoặc các thủ tục tương tự, để cung cấp bằng chứng hoặc xác thực hoặc bằng chứng liên quan đến bất kỳ những trường hợp dưới đây: (a) Lời đề nghị tham gia thủ tục hòa giải từ một bên tranh chấp hoặc

có căn cứ rõ ràng họ đã sẵn sàng cho một

sự tham gia; (b) Quan điểm hoặc những kiến nghị từ một bên trong hòa giải đối với một giải pháp cho tranh chấp; (c) Luận điểm hoặc những gì một bên thừa nhận trong suốt quá trình hòa giải; (d) Các đề xuất của hoà giải viên; (e) Căn cứ thể hiện một bên đã sẵn sàng chấp nhận đề xuất giải quyết của HGV; (f) Một tài liệu chuẩn

bị chỉ duy nhất cho mục đích hòa giải

2 Khoản 1 Điều này được áp dụng không phân biệt các kiểu dạng của thông tin hoặc chứng cứ được nêu trong đó

3 Không Hội đồng trọng tài, tòa án hoặc bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào được yêu cầu công bố các thông tin được nêu tại khoản 1 Điều này, và nếu thông tin đó được yêu cầu cung cấp như là bằng chứng trái với khoản 1, nó sẽ không được chấp nhận Tuy nhiên, thông tin có thể được công bố hoặc thừa nhận là bằng chứng trong phạm vi được yêu cầu theo luật định hoặc cho các mục đích thực hiện hoặc

thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp

4 Các thủ tục tư pháp, trọng tài hoặc cơ chế tương tự sẽ được áp dụng theo các quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, nếu tranh chấp thuộc đối tượng của quá trình hòa giải

5 Theo các giới hạn của khoản 1 Điều này, bằng chứng nếu không được chấp

Trang 14

nhận trong tố tụng trọng tài, tòa án hoặc

cơ chế tương tự sẽ không đương nhiên

không được chấp nhận với lý do đã được

sử dụng trong quá trình hòa giải”

Theo giải thích của UNCITRAL (2004),

trong quá trình hoà giải, các bên thường

đưa ra các đề xuất và quan điểm liên quan

đến phương án giải quyết tranh chấp, sự

thừa nhận một số vấn đề và thể hiện đã sẵn

sàng hòa giải Nếu sau đó, các bên không

thể thống nhất cách giải quyết, đồng thời

một bên bắt đầu tiến trình xét xử hoặc tố

tụng trọng tài, thì những quan điểm, đề

xuất, sự thừa nhận hoặc sẵn sàng giải quyết

có thể bị lợi dụng và gây thiệt hại đến bên

đã cung cấp Đây là điểm hạn chế, rủi ro

đáng kể khiến các bên không tích cực,

thẳng thắn trao đổi thông tin Vì vậy, Luật

mẫu quy định căn cứ để ngăn chặn các bên

sử dụng thông tin được tiết lộ trong hòa

giải khi tranh chấp được tiếp tục giải quyết

tại tòa án hoặc trọng tài Các chứng cứ này

không được chấp nhận và Hội đồng trọng

tài hay tòa án không thể ra quyết định công

bố chúng Nếu hai bên đã thỏa thuận đồng

ý tiết lộ thông tin theo Điều 9 thì tòa án,

trọng tài vẫn xem xét đó là chứng cứ: “Trừ

khi có thoả thuận của các bên, tất cả các

thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải

phải được giữ bí mật”

Trước đó, để giải quyết vấn đề này, Điều

20 của Quy tắc Hòa giải năm 1980 đưa ra

một giải pháp là sử dụng điều khoản hợp

đồng, theo đó các bên cam kết không dựa

vào hoặc đưa ra làm bằng chứng các thông

tin được nêu cụ thể trong báo cáo của

HGV Giải pháp hợp đồng như vậy có thể

thỏa mãn lợi ích các bên, đặc biệt ở các

quốc gia chưa có luật về hòa giải thì đây là

cách bảo vệ khả thi nhất Tuy nhiên, hạn

chế của Điều 20 là không cung cấp một giải

pháp toàn diện trong mọi trường hợp và

mọi hệ thống pháp luật Theo Jernej

Sekolec và Michael B Getty (2003), bởi

chúng ta không hoàn toàn chắc chắn liệu

các tòa án ở tất cả hệ thống pháp luật sẽ

chấp nhận một thỏa thuận giới hạn sự thừa

nhận bằng chứng, do những thỏa thuận như

vậy có thể bị hạn chế hoặc thay thế bởi thẩm quyền của tòa nhằm tiếp cận bằng chứng, làm rõ các sự kiện của vụ án Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thừa nhận quyền của các bên tranh chấp được khởi xướng một thủ tục giải quyết tranh chấp khác như trọng tài hoặc tòa án khi không đạt được kết quả hòa giải thành tại Khoản

4 Điều 15: “Trường hợp không đạt được

kết quả hòa giải thành, các bên có quyền tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật” Theo đó, quyền khởi

kiện của các bên không hề bị mất đi khi các bên sử dụng hòa giải Khái niệm “không đạt được kết quả hòa giải thành” được giải thích tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định số

22/2017/NĐ-CP là “kết quả hòa giải thành

là thỏa thuận giữa các bên tranh chấp về

việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ

tranh chấp phát sinh” Như vậy, từ định

nghĩa về kết quả hòa giải thành ta có thể hiểu hòa giải không thành là: Các bên không thống nhất được việc giải quyết toàn

bộ tranh chấp; hoặc một phần tranh chấp bất kỳ mà các bên không đạt được sự đồng thuận

Tuy nhiên vấn đề không chỉ dừng lại ở quyền của các bên mà còn phải quan tâm đến nghĩa vụ bảo mật của các bên sau khi hòa giải không đạt và khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài? Đây được coi là vấn đề quan trọng trong thủ tục hòa giải và được ghi nhận trong pháp luật về hòa giải của các quốc gia phát triển trên thế giới Nếu các bên lo sợ rằng những điều mình tiết lộ

có thể gây bất lợi sau này thì họ sẽ không thoải mái và cởi mở khi tiến hành hòa giải, dẫn đến kết quả của việc hòa giải khó có thể đạt được

Do đó, đồng quan điểm với Nguyễn Mạnh Dũng và Đặng Vũ Minh Hà (2015), chúng tôi cho rằng quy định về hạn chế việc cung cấp hay viện dẫn chứng cứ đã được cung cấp trong quá trình hòa giải làm chứng cứ trong tố tụng trọng tài hoặc tòa án là cần thiết Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không

có bất cứ quy định nào điều chỉnh vấn đề

Trang 15

này mà chỉ dừng lại ghi nhận quyền của các

bên khởi xướng tố tụng tòa án hoặc trọng

tài Điều này sẽ gây ra nhiều rắc rối và khó

khăn trong thực tiễn áp dụng Vấn đề phát

sinh là tại phiên hòa giải trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các bên sẽ cung

cấp chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của

mình, nếu một bên không cung cấp nhưng

bên còn lại biết qua thủ tục hòa giải và cung

cấp cho cơ quan có thẩm quyền Vậy bên

đó có quyền cung cấp hay không? Tòa án

được chấp nhận không?

Đối chiếu với các quy định có liên quan

trong pháp luật tố tụng với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP, chúng tôi nhận thấy việc

hạn chế cung cấp chứng cứ có mối quan hệ

với 2 nhóm chủ thể sau: HGV và các bên

trong tranh chấp

Thứ nhất, HGV bị tòa án yêu cầu cung cấp

chứng cứ BLTTDS 2015 đã có nhiều điểm

mới trong vấn đề yêu cầu cơ quan, tổ chức,

cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ Đầu

tiên là việc quy định thêm quyền yêu cầu

cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,

chứng cứ của các đương sự tại Khoản 1

Điều 106 BLTTDS 2015 Tiếp theo là việc

bổ sung thêm thẩm quyền của tòa án trong

việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân

cung cấp tài liệu, chứng cứ Theo đó,

không chỉ khi đương sự có yêu cầu mà khi

xét thấy cần thiết, tòa án vẫn có thể ra quyết

định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân

đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu,

chứng cứ cho tòa án quy định tại Khoản 3

Điều 106 BLTTDS 2015

Dưới góc độ này thì tòa án hoàn toàn có

quyền yêu cầu HGV phải cung cấp thông

tin liên quan đến quá trình hòa giải để tòa

án giải quyết vụ tranh chấp Vậy HGV

buộc phải cung cấp hay được quyền từ

chối? Như đã phân tích, HGV có quyền từ

chối cung cấp thông tin, bảo vệ thông tin

liên quan đến vụ tranh chấp; đồng thời có

nghĩa vụ bảo vệ bí mật thông tin về vụ

tranh chấp mà mình tham gia hòa giải Tuy

nhiên nghĩa vụ này sẽ bị loại trừ nếu như

tòa án ra quyết định buộc họ phải cung cấp

thông tin Do vậy, pháp luật về hòa giải

thương mại phải có quy định chuyên biệt điều chỉnh loại trừ khả năng tiếp cận thông tin từ cơ quan tài phán

Thứ hai, HGV bị tòa án yêu cầu làm người làm chứng Theo Điều 77 BLTTDS 2015,

người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, tòa

án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là

người làm chứng Với tiêu chí “biết các

tình tiết liên quan đến nội dung vụ việc” thì

rõ ràng HGV là người biết và thậm chí biết rất rõ nội dung của vụ việc Tuy nhiên, Khoản 3 Điều 78 BLTTDS 2015 lại cho

phép người làm chứng “được từ chối khai

báo nếu lời khai của mình liên quan bí mật nghề nghiệp” Vấn đề đặt ra ở đây là liệu

những thông tin mà HGV và các bên thứ

ba có được trong quá trình hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp và họ có quyền

từ chối cung cấp những thông tin này? Pháp luật về hòa giải thương mại hiện hành không quy định cụ thể việc các thông tin, tài

liệu được các bên đưa ra trong quá trình hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp

hay không? Tuy nhiên, HGV có quyền từ

chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật; và có nghĩa vụ bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật Xem xét Điểm b Khoản 1 Điều

9 và Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, tiêu đề của Điều 9 là

“Quyền, nghĩa vụ của HGV thương mại”,

mà không có cụm từ “trong quá trình hòa giải” như Điều 13 “Quyền, nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải” Do đó, Điều 9 ràng buộc HGV ngay

cả khi hòa giải đã kết thúc Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng dù không cấm HGV được làm người làm chứng, nhưng họ sẽ không được khai báo những thông tin bí mật, trừ trường hợp pháp luật quy định Vấn đề HGV bị yêu cầu làm người làm chứng cũng đã được giải thích với phán

Trang 16

quyết Farm Assist Ltd (in liq.) v The

Secretary of State for the Environment,

Food and Rural Affairs (EWHC 1102

(TCC), 6 May 2009) Ở đây, các bên có

tranh chấp và đã tiến hành hòa giải, nhưng

nguyên đơn đã bắt đầu quá trình tố tụng để

làm vô hiệu thoả thuận hòa giải thành

Trong thỏa thuận hòa giải có điều khoản

bảo mật thông tin, quy định rằng các bên

trong hòa giải phải giữ kín thông tin liên

lạc, miễn là không bên nào yêu cầu HGV

làm người làm chứng cho bất cứ thủ tục tố

tụng tòa án hoặc trọng tài nào và HGV sẽ

không tự nguyện làm chứng mà không có

sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các bên

Tuy nhiên nguyên đơn cho rằng thỏa thuận

đó được ký kết dưới áp lực kinh tế nên

không chấp nhận sự ràng buộc bởi điều

khoản bảo mật đó Nguyên đơn đã yêu cầu

HGV làm chứng tại phiên tòa Bị đơn đã

không phản đối Tuy nhiên, HGV từ chối

làm và đã áp dụng quy định trong thỏa

thuận hòa giải để chứng minh cho hành

động từ chối của mình Thẩm phán Ramsey

J bác bỏ sự từ chối của HGV và cho rằng

HGV đã phải làm chứng tại tòa án về

những gì đã xảy ra trong quá trình hòa giải

Thứ ba, các bên tranh chấp sử dụng chứng

cứ trong hòa giải trong thủ tục tố tụng khác

Các bên tranh chấp có nghĩa vụ như thế nào

về vấn đề cung cấp chứng cứ tại tòa án hay

không? Bởi nếu khởi kiện theo thủ tục tố

tụng dân sự thì các bên phải cung cấp

chứng cứ bảo vệ cho yêu cầu của mình và

công khai cho phía bên kia biết Do đó vấn

đề xảy ra là một bên biết được những thông

tin, tài liệu thông qua quá trình hòa giải,

nhất là những thông tin có lợi cho mình và

bất lợi cho bên còn lại trong tranh chấp và

cung cấp cho tòa án thì có vi phạm nghĩa

vụ bảo mật hay không? Luật mẫu quy định

rõ ràng rằng các thông tin liên quan đến

hòa giải phải được bảo mật dù các bên khởi

xướng tố tụng tòa án hay trọng tài Trong

khi đó, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP hiện

nay không giải quyết triệt để và rõ ràng vấn

đề này bởi chỉ quy định đơn giản rằng: Từ

chối cung cấp hay phải bảo vệ thông tin

liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật

Các trường hợp ngoại lệ của bảo mật

thể trong vụ Farm Assist Ltd (in liq.) v The

Secretary of State for the Environment, Food and Rural Affairs (No 2), nguyên

đơn yêu cầu HGV làm chứng tại Tòa nhưng HGV từ chối với lý do tuân theo nguyên tắc bảo mât, thẩm phán Ramsey J bác bỏ lập luận của HGV có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, quy tắc bảo mật yêu cầu không

tiết lộ tài liệu hoặc thông tin hòa giải trong quá trình kiện tụng, nhưng tòa án chỉ buộc tiết lộ nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết hợp lý vụ án Do đó, chỉ dựa vào các quy định mà các bên đã đưa ra trong bản thỏa thuận hòa giải thì không tự ngăn cản một bên đưa ra bằng chứng về những vấn

đề trong hòa giải tại tòa, cũng không ngăn cản tòa ra lệnh cho một bên phải tiết lộ bằng chứng

Thứ hai, nghĩa vụ bảo mật không chỉ được

tuân thủ bởi một bên trong tranh chấp đối với bên kia mà cũng có thể được tuân thủ bởi các bên tranh chấp đối với HGV (nghĩa

vụ bảo mật gồm: Bảo mật giữa các bên tranh chấp với nhau và nghĩa vụ bảo mật giữa các bên tranh chấp với HGV) Do đó, ngay cả khi tất cả các bên trong tranh chấp

từ bỏ bảo mật, thì HGV có thể tự bảo đảm

về sự bảo mật của mình Do đó việc từ bỏ bảo mật của các bên không làm mất đi quyền bảo vệ sự bảo mật của HGV Tuy nhiên, nghĩa vụ bảo mật không phải là tuyệt đối Bởi các bằng chứng vẫn có thể được sử dụng tại tòa án nếu tòa án cho rằng

vì sự công bằng và công lý cho các bên

Từ phán quyết trên cũng như thực tiễn, nhóm nghiên cứu thấy rằng nghĩa vụ bảo mật trong hòa giải luôn có những ngoại lệ nhất định, một trong đó là HGV có thể trở

Trang 17

thành người làm chứng nếu việc làm chứng

đó đảm bảo sự công bằng cho các bên theo

như vụ tranh chấp trên

Trong Luật mẫu tại Điều 9 ghi nhận ba

trường hợp thông tin có thể được tiết lộ,

bao gồm: Các bên tranh chấp đồng thuận,

theo yêu cầu của pháp luật, vì mục đích

thực hiện hoặc thi hành thỏa thuận hòa giải

Trong quá trình soạn thảo, UNCITRAL dự

định ghi nhận một danh sách các trường

hợp ngoại lệ cụ thể, nhưng ban soạn thảo

cho rằng việc liệt kê có thể tạo ra nhiều vấn

đề khó giải thích, đặc biệt là không có khả

năng bao quát tất cả trường hợp Sau cùng,

UNCITRAL chấp nhận phương án quy

định một danh sách mang tính minh hoạ và

không đầy đủ các ngoại lệ về bảo mật, đồng

thời tiến hành giải thích cách hiểu về ba

trường hợp liệt kê trong hướng dẫn áp

dụng Đối với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP chỉ quy định hai trường hợp ngoại lệ,

bao gồm: Các bên tranh chấp đồng thuận;

hoặc theo yêu cầu của pháp luật Dưới đây,

chúng tôi sẽ xem xét quy định của hai văn

bản luật trên theo từng ngoại lệ

Thứ nhất, ngoại lệ do các bên tranh chấp

đồng ý cho phép Theo Luật mẫu, các bên

tranh chấp đương nhiên có quyền định đoạt

khả năng giữ kín hoặc công khai thông tin

của mình Liệu việc tiết lộ có cần tất cả các

bên đồng thuận hay không? Trong trường

hợp chỉ một bên đồng ý công khai thì họ có

được tiết lộ thông tin của riêng mình

không? Điều 9 quy định “các bên” (parties)

chứ không phải “một bên” (the party), có

thể thấy Luật mẫu chỉ cho phép thông tin

được công khai khi tất cả các bên đồng ý

Đối với Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, như

đã trình bày phía trên, cả Điểm b Khoản 1

Điều 9, Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định

số 22/2017/NĐ-CP đều sử dụng cụm từ

“[…], trừ trường hợp các bên có thỏa

thuận […]”

Ở đây, cụm từ “thỏa thuận” thể hiện phải

có từ hai chủ thể trở lên, không thể một bên

lại có quyền thỏa thuận với chính mình

Đồng thời cũng không thể một bên thỏa

thuận với HGV bởi đây là đặc quyền của

các bên tranh chấp Như vậy điều luật ghi nhận theo đúng tinh thần của Luật mẫu Có thể thấy, quy định này trước hết thể hiện nguyên tắc tự chủ, quyền tự quyết thuộc về các bên tranh chấp tồn tại xuyên suốt trong hòa giải Do vậy, việc buộc tất cả các bên phải đồng thuận giữ kín thông tin là hợp lý, bởi lẽ khi không tồn tại thỏa thuận chung, tức bên nào cũng có quyền giữ bí mật hoặc công khai tài liệu thì bất kỳ bên nào sử dụng tài liệu này và tiết lộ ra ngoài sẽ gây thiệt hại cho bên cung cấp thông tin đó Tuy nhiên đối với vấn đề cung cấp chứng

cứ tại tòa án hay trọng tài, liệu quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP có hợp lý hay không? Vì cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là nguyên tắc quan trọng và là quyền tố tụng cơ bản của đương sự Nghị định số 22/2017/NĐ-CP hiện nay không giải quyết triệt để vấn đề này

Thứ hai, ngoại lệ do theo yêu cầu của pháp

luật Theo giải thích của UNCITRAL

(A/CN.9/514, 2002), hai trường hợp pháp luật có thể quy định buộc các bên tiết lộ thông tin khi: Việc giữ kín thông tin có thể dẫn đến nguy cơ đe dọa tính mạng hoặc tổn hại sức khỏe đáng kể của con người; hoặc yêu cầu tiết lộ đó xuất phát từ lợi ích công cộng, ví dụ như để cảnh báo cho công dân biết nguy cơ về sức khoẻ, môi trường hoặc

an toàn Đối với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP tại Điểm b Khoản 1 Điều 9, Điểm c

Khoản 2 Điều 9 đều quy định “[…], trừ

trường hợp theo quy định của pháp luật”

Đây là cách quy định chung chung và rất khó xác định nội hàm cụ thể

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có một quy định tương tự với Luật mẫu, buộc công khai thông tin bí mật của khách hàng trong lĩnh vực tín dụng Trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tú (2004), đó là trường hợp hai trường hợp: (i) Tổ chức tín dụng cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật Việc cung cấp thông tin này là bắt buộc do luật

Trang 18

định nhưng cũng phải tuân thủ những thủ

tục cần thiết; và (ii) tổ chức tín dụng cung

cấp thông tin của khách hàng vì lợi ích

công cộng, xuất phát từ một trong những

nguyên tắc của luật dân sự là nguyên tắc

tôn trọng, đảm bảo lợi ích công cộng hay

lợi ích chung Tổ chức tín dụng phải cung

cấp các thông tin của khách hàng liên quan

đến những khoản tiền bất hợp pháp, hay

hành vi rửa tiền, lừa đảo… cho cơ quan nhà

nước có thẩm quyền Ngoài ra, pháp luật

ngân hàng cũng ghi nhận cụ thể điều kiện

về thủ tục để tổ chức nhận tiền gửi và tài

sản gửi của khách hàng được cung cấp

thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản

gửi của khách hàng: Theo yêu cầu của các

cơ quan Nhà nước; yêu cầu này được các

cơ quan đó đưa ra trong quá trình thanh tra,

điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thuộc

thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

yêu cầu phải thể hiện bằng văn bản do

những người có thẩm quyền ký; và văn bản

phải có đầy đủ các nội dung theo quy định

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Kết luận

Đặc trưng các thông tin trong quá trình hòa

giải được bảo mật, chúng tôi phân tích vấn

đề này dưới ba khía cạnh: (i) Bảo mật giữa

các bên trong tranh chấp trong quá trình

hòa giải; (ii) khả năng thông tin được bảo

mật trước bên thứ ba, trong đó đặc biệt chú

trọng phân tích vấn đề bảo mật thông tin

trong các thủ tục giải quyết tranh chấp tiếp

theo (nếu phát sinh); (iii) các ngoại lệ của

nguyên tắc bảo mật bảo gồm các bên thỏa

thuận, pháp luật quy định phải cung cấp

thông tin liên quan đến hòa giải

Từ các phân tích về những nội dung trên,

chúng tôi chỉ ra một số hạn chế trong Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP về nguyên tắc bảo

mật của cơ chế hòa giải Cụ thể chúng tôi

tập trung phân tích hạn chế liên quan đến

cung cấp chứng cứ, thông tin liên quan đến

hòa giải tại tòa án hoặc trọng tài của các

bên tranh chấp để đảm bảo sự hài hòa,

tránh sự xung đột giữa hai phương thức

giải quyết tranh chấp

Kiến nghị

Thông tin, tài liệu liên quan đến hòa giải có thể được các bên sử dụng làm chứng cứ trong thủ tục tố tụng tòa án hoặc trọng tài Xuất phát các phân tích về quy định bảo mật hiện nay của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và đặc biệt là sự mập mờ

về vấn đề sử dụng chứng cứ liên quan đến hòa giải trong thủ tục tố tụng tiếp theo khi hòa giải không thành Nhóm nghiên cứu kiến nghị phải có quy định rõ ràng về vấn

đề sử dụng chứng cứ đối với những tranh chấp đã qua thủ tục hòa giải

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định thông tin liên quan đến hòa giải chỉ được tiết lộ nếu như các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy đối với các thông tin hay tài liệu, chứng cứ đã được sử dụng trong hòa giải khi muốn sử dụng tại tòa án phải được bên còn lại đồng ý hoặc được pháp luật quy định cho phép cung cấp Điều này dường như khá vô lý và vi phạm quyền cơ bản của công dân Hiện nay, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chỉ dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc

là thông tin liên quan đến hòa giải phải được bảo mật trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định nên chúng ta không thể hiểu rõ trường hợp này Vấn đề cung cấp chứng cứ cho tòa án có thể tiếp cận theo hai hướng khác nhau

Cách tiếp cận thứ nhất có thể cho rằng

quy định này xâm phạm quyền của đương

sự bởi một cách dễ hiểu là thông tin, chứng

cứ thuộc “sở hữu” của bên nào thì bên đó

có quyền quyết định sử dụng tại tòa án hoặc trọng tài Có thể nói cách hiểu này tương tự như cách hiểu về quyền sở hữu vật, chúng ta chỉ có quyền sử dụng vật khi chúng ta là chủ sở hữu hoặc được chủ sở hữu cho phép

Cách tiếp cận thứ hai có thể ủng hộ cách

quy định theo hướng khi đã khởi kiện theo thủ tục tố tụng tranh chấp đã qua hòa giải thì một bên muốn sử dụng chứng cứ tại tòa

án phải được sự đồng thuận của bên kia Quy định này sẽ tạo niềm tin cho các bên mạnh dạn hòa giải vì họ tin rằng thông tin

Trang 19

của mình sẽ được bảo mật dù ở bất kỳ thủ

tục tố tụng nào Đây chính là hướng tiếp

cận của Luật mẫu và Đạo luật hòa giải

Singapore

Như đã phân tích, Nghị định số

22/2017/NĐ-CP hiện nay không giải quyết

triệt để vấn đề này Tuy nhiên cần lưu ý

rằng theo thủ tục tố tụng dân sự, các bên

muốn yêu cầu của mình được chấp nhận thì

phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh bằng

chứng cứ Do đó, cung cấp tài liệu chứng

cứ chính là điểm then chốt giúp giải quyết

tranh chấp, bảo đảm sự công bằng Vậy

nên, nhóm nghiên cứu kiến nghị pháp luật

hòa giải Việt Nam nên quy định vấn đề này

trong một điều luật riêng biệt

Qua nghiên cứu, chúng tôi đề xuất hướng

giải quyết như sau: Mọi thông tin, tài liệu

liên quan đến quá trình hòa giải đều được

bảo mật tại tòa án Tuy nhiên nếu như một

bên muốn sử dụng và cho rằng nó là chứng

cứ quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc giải

quyết tranh chấp thì thông báo với tòa án,

cụ thể là đương sự có chứng cứ chứng minh

yêu cầu của mình là có căn cứ và chứng cứ

thuộc “sở hữu” của đương sự, nhưng do nó

đã được sử dụng trong thủ tục hòa giải và

vì yêu cầu bảo mật nên đương sự không thể

cung cấp, yêu cầu tòa án ra quyết định thu

thập chứng cứ đó để đương sự có căn cứ

cung cấp cho tòa án Khoản 3 Điều 106

BLTTDS 2015 quy định không chỉ khi

đương sự có yêu cầu mà khi xét thấy cần

thiết, tòa án vẫn có thể ra quyết định yêu

cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản

lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho

tòa án Vậy nên với trường hợp tòa án chấp

nhận yêu cầu và quyết định thu thập chứng

cứ, có thể hiểu đó chính là một ngoại lệ của nguyên tắc bảo mật – “theo quy định của pháp luật”

Theo kiến nghị trên thì một bên chỉ được yêu cầu tòa án ra quyết định thu thập đối với chứng cứ thuộc “sở hữu” của mình, tức

đó là những thông tin tài liệu do mình đã cung cấp trong thủ tục hòa giải chứ không phải thông tin, tài liệu mà “biết hoặc thu thập được” từ quá trình hòa giải (sự thừa nhận của bên kia, hoặc tài liệu mà bên kia cung cấp trong hòa giải) Hướng quy định này vừa đảm bảo tôn trọng nguyên tắc bảo mật vừa bảo đảm quyền cơ bản của đương

sự Đồng thời tránh được trường hợp các bên lợi dụng hòa giải để khai thác thông tin hoặc giấu thông tin qua việc không đồng thuận tiết lộ Trong những trường hợp đó, hòa giải không phát huy được vai trò mà lại còn tạo cơ hội cho bên có mưu đồ xấu thỏa mãn những mưu tính của mình

Vấn đề phát sinh tiếp theo là làm thế nào chứng minh thông tin, chứng cứ thuộc “sở hữu” của bên cung cấp, ví dụ sau sẽ cung cấp một phương thức chứng minh: A và B

có tranh chấp và đã qua thủ tục hòa giải nhưng không thành, sau đó A khởi kiện B tại tòa án Quá trình chứng minh yêu cầu của mình A đã cung cấp thông tin, chứng

cứ nhưng không chứng minh được nguồn gốc thông tin là của mình, đồng thời B chứng minh được thông tin chứng cứ mà bên đó cung cấp là những gì mình đã thừa nhận hoặc cung cấp trong thủ tục hòa giải Khi đó chứng cứ mà A cung cấp sẽ không được tòa án sử dụng để đánh giá giải quyết tranh chấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỘ TƯ PHÁP (2015) Báo cáo tổng thuật pháp luật một số nước về hòa giải thương

mại Hà Nội

DEPARTMENT OF JUSTICE (2010) Report of The Working Group on Mediation:

The Government of the Hong Kong - Special Administrative Region

NGUYỄN MẠNH DŨNG, ĐẶNG VŨ MINH HÀ (2015) Đóng góp ý kiến cho Nghị định hòa giải thương mại

Trang 20

JERNEJ SEKOLEC, MICHAEL B GETTY (2003) UMA and the UNCITRAL Model

Rule: An Emerging Consensus on Mediation and Conciliation The Journal of

Dispute Resolution 1 (9) 175-196

NGUYỄN THANH TÚ (2004) Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức

tín dụng Tạp chí Khoa học pháp lý 1 (20) 29-35

UNCITRAL (2001) Report of the Working Group on Arbitration on the work of its

thirty-fourth session (A/CN.9/487) Vienna

UNCITRAL (2002) Report of the United Nations Commission on International Trade

Law on its thirty-fifth session (A/CN.9/514) New York

UNCITRAL (2002) Report of the Working Group on Arbitration on the work of its

thirty-fifth session (A/CN.9/506) New York

UNCITRAL (2004) UNCITRAL Model Law on International Commercial Conciliations with Guide to Enactment United Nations Publication Sales

Trang 21

CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Trần Thị Giang*, Nguyễn Thị Diễm, Vũ Ngọc Bảo Châu

Trường Đại học Luật TP.HCM

*Tác giả liên lạc: giangtrands39@gmail.com

(Ngày nhận bài: 24/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Việc sử dụng và quản lý con dấu doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa nhận được sự nghiên cứu kỹ lưỡng Luật này cho phép việc kinh doanh dễ dàng hơn bằng cách trao cho các Công ty quyền tự quyết trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong khía cạnh con dấu Tuy nhiên việc áp dụng các quy định này đã có nhiều vấn đề nảy sinh và làm ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, bài viết này tập trung chủ yếu vào việc làm rõ định nghĩa về con dấu của công ty, phân tích các quy định mới và mối quan hệ giữa luật này và các luật có liên quan khác của Việt Nam, cũng như so sánh các quy định của Việt Nam với một số quốc gia khác trên thế giới, qua đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan

Từ khóa: Con dấu chung, con dấu công ty, chữ ký điện tử và kĩ thuật số, Luật Doanh

nghiệp năm 2014, quyền tự quyết

COMPANY SEAL UNDER VIETNAMESE LAW – THE REALITY OF

APPLICATION AND DIRECTION TO COMPLETE Tran Thi Giang*, Nguyen Thi Diem, Vu Ngoc Bao Chau

Ho Chi Minh City University of Law

*Corresponding Author: giangtrands39@gmail.com

ABSTRACT

The use and management of company seal under the Enterprise Law of 2014 have not been thoroughly researched This law made starting a business easier by granting companies more self-determination rights, especially in the seal aspect However, there are many issues arising in applying these regulations when they came into force, which significantly affect the operation of enterprises By using analysis, synthesis and comparison method, this article mainly focuses on clarifying the definition of the company seal, analyzing new provisions and the relationship between this law and other Vietnam relevant laws, as well as comparing Viet Nam regulations with those of other countries in the world, thereby, proposing some solutions to improve related regulations

Keywords: Common seal, company seal, electronic and digital signature, Enterprise

Law of 2014, self-determination right

TỔNG QUAN

Đứng trước yêu cầu cấp thiết của tình hình

kinh tế quốc gia, Luật Doanh nghiệp năm

1 Luật Doanh nghiệp 2014 đã được Quốc hội chính thức

thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 có hiệu lực từ

ngày 01/7/2015

20141 đã có những thay đổi đáng kể đối với những quy định về con dấu của doanh nghiệp, trao cho doanh nghiệp các quyền

Trang 22

tự quyết về các vấn đề liên quan đến con

dấu; qua đó góp phần tạo ra một môi

trường kinh doanh tự do, thông thoáng

không phụ thuộc quá nhiều vào con dấu

như trước đây Từ đó, Luật mới đã góp

phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư

kinh doanh của Việt nam, tạo đà cho doanh

nghiệp Việt Nam được hội nhập sâu rộng

với thị trường thế giới

Tuy vậy, quy định về chế định con dấu

trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tồn

tại nhiều quan điểm trái chiều Ngay tại

quy định ở Khoản 1 Điều 44 đã gây ra sự

tranh cãi không ít từ phía các chuyên gia

Có ý kiến cho rằng “doanh nghiệp có

quyền quyết định về hình thức, số lượng và

nội dung con dấu của doanh nghiệp” nghĩa

là doanh nghiệp có quyền quyết định số

lượng con dấu bằng không Tuy nhiên,

nhiều chuyên gia cho rằng quy định trên

mở ra khả năng doanh nghiệp được tự do

quyết định số lượng con dấu có nghĩa là có

quyền có một hoặc nhiều con dấu chứ

không thể quyết định số lượng con dấu

bằng không Bởi lẽ trên thực tế nhiều văn

bản pháp luật hiện hành quy định về cơ chế

quản lý và sử dụng con dấu và đang có

hiệu lực trên thực tế Sự không đồng nhất

trên đã gây ra rất nhiều khó khăn trong việc

định đoạt và sử dụng con dấu Những bất

cập, tồn tài này hiện vẫn chưa được đem ra

nghiên cứu một cách thống nhất và toàn

diện Chính vì những lẽ trên, chúng tôi đã

mạnh dạn lựa chọn đề tài chọn đề tài “Con

dấu doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

– thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn

thiện” để tiến hành nghiên cứu chi tiết

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là con

dấu trong doanh nghiệp nên chúng tôi chỉ

tập trung nghiên cứu con dấu doanh

nghiệp trong Luật Doanh nghiệp 2014 và

các văn bản pháp luật có liên quan đến con

dấu (Nghị định 78/2013/NĐ-CP, Nghị

định 96/2015/NĐ-CP về quản lý và sử

dụng con dấu, Nghị định 99/2016/NĐ-CP)

và các văn bản pháp luật khác như: Luật

Đấu thầu 2013, Luật Nhà ở 2014, Luật Xây dựng 2014 Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghiên cứu văn bản pháp luật và thực

tế sử dụng con dấu tại các doanh nghiệp nước ngoài để có cái nhìn bao quát và rút

ra kinh nghiệm cho Việt Nam

CÁCH THỨC NGHIÊN CỨU

Đề tài sử dụng phuơng pháp phân tích và tổng hợp làm cốt lõi để làm rõ khái niệm, đặc điểm và những vấn đề khác liên quan đến con dấu được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được đưa vào công trình

để làm rõ sự khác biệt giữa chế định con dấu giữa những quy định trong pháp luật hiện hành với những quy định cũ, giữa cách thức sử dụng và quản lý con dấu tại Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê số liệu, làm rõ sự hình thành quy định của pháp luật về con dấu Công đoạn thu thập lấy số liệu thực tế cũng là phương pháp tổng hợp tình hình thực tế mà chúng tôi quan tâm thực hiện Đồng thời nêu lên thực trạng những hạn chế của việc sử dụng con dấu Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong chế định con dấu hiện nay

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khái niệm về con dấu và quyền của Doanh nghiệp đối với con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014

Con dấu xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng rộng rãi ở nhiều cơ quan, đơn vị Tuy nhiên, khái niệm con dấu nói chung và con dấu của doanh nghiệp nói riêng lại không được đề cập trong bất kỳ văn bản pháp luật nào Sau khi phân tích những tài liệu có liên quan, chúng tôi rút ra một khái niệm

khái quát về con dấu như sau: Con dấu của

doanh nghiệp là vật làm bằng gỗ, kim loại hoặc chất liệu khác, gắn liền với sự ra đời

và tồn tại của doanh nghiệp, với vai trò là công cụ hỗ trợ việc xác thực và khẳng định giá trị pháp lý một văn bản Con dấu của

doanh nghiệp có ý nghĩa: xác định người

Trang 23

đã ký tên, đóng dấu là người có thẩm

quyền đại diện cho doanh nghiệp; xác

nhận các giấy tờ giao dịch, hồ sơ, tài liệu

và ấn phẩm đã được đóng dấu là của doanh

nghiệp phát hành2 So với Luật Doanh

nghiệp 2005, những điểm đổi mới cơ bản

về con dấu của doanh nghiệp theo quy định

của Luật Doanh nghiệp 2014 thể hiện như

sau:

Một là, quyền tự quyết về hình thức và

nội dung con dấu

Trước đây, hình thức và nội dung con dấu

phải thực hiện theo quy định của Chính

phủ3 Tuy nhiên, kể từ khi Luật Doanh

nghiệp 2014 ra đời, doanh nghiệp được

quyền quyết định về hình thức và nội dung

con dấu Nội dung con dấu chỉ cần thể hiện

những thông tin cần thiết mà bất kỳ doanh

nghiệp nào cũng phải có nhằm thông tin

cho đối tác và khách hàng của doanh

nghiệp, bao gồm tên doanh nghiệp và mã

số doanh nghiệp Về hình dạng, con dấu có

thể có nhiều hình dạng khác nhau4 Như

vậy, hướng quy định trao quyền tự quyết

cho doanh nghiệp như trong Luật Doanh

nghiệp năm 2014 về hình thức và nội dung

Khác với luật Doanh nghiệp 2005, Luật

Doanh nghiệp 2014 cho phép doanh

nghiệp có quyền tự quyết về số lượng con

dấu5 Theo đó, quyền tự quyết về số lượng

con dấu có thể được hiểu là doanh nghiệp

có thể có một con dấu hoặc nhiều con dấu

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp

có quyền không sử dụng con dấu hay

không Khi xây dựng Nghị định hướng dẫn

một số điều của Luật Doanh nghiệp 2014,

Dự thảo lần 1 và 2 cho phép doanh nghiệp

2  Khoản 1, Điều 3 Nghị định 99/2016/NĐ-CP ngày 01

tháng 07 năm 2016 về quản lí và sử dụng con dấu 

3 Khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2005 và Thông

tư số 08/2003/TT-BCA ngày 12/5/2003 của Bộ trưởng

bộ Công an hướng dẫn mẫu dấu, tổ chức khắc dấu, kiểm

tra việc bảo quản, sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức

4 Khoản 1 Điều 34 Nghị định 78/2015/NĐ- CP

được quyền quyết định sử dụng con dấu hoặc không sử dụng con dấu Tuy nhiên, đến dự thảo 3,4 và 5 và nghị định hướng dẫn một số điều Luật Doanh nghiệp 20146lại bỏ ngõ vấn đề này

Ba là, quyền quản lý và sử dụng con dấu của doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp 2005 trước đây quy định con dấu phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật7 Trong trường hợp, khi doanh nghiệp thực hiện giao dịch bên ngoài trụ sở chính, có cơ hội làm ăn, kinh doanh cần ký, đóng dấu ngay thì không đảm bảo tính kịp thời Mặt khác, nếu có mang con dấu đi thì tại trụ sở chính cũng không có con dấu khác để sử dụng Hiện nay, theo Luật Doanh nghiệp 2014 việc quản lý và sử dụng con dấu theo quy định của điều lệ Công ty Về bản chất, điều lệ công ty do chính những người đóng góp vốn vào công ty soạn thảo và nó chính là

“luật của Công ty” Cho nên, khi thành lập doanh nghiệp, người thành lập người thành lập doanh nghiệp có quyền xây dựng bản điều lệ mà trong đó quyết định các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng con dấu của doanh nghiệp Việc này sẽ góp phần tăng tính chủ động cho doanh nghiệp trong quá trình quản lý và sử dụng con dấu

Những bất cập trong việc quản lý và sử dụng con dấu của doanh nghiệp

Thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp và việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà

nước còn tồn tại một số bất cập sau:

Thứ nhất, con dấu là rào cản của quá trình hội nhập

Trong xu thế phát triển mạnh về mọi mặt cùng những thay đổi lớn về mối quan hệ giữa các quốc gia, mọi hoạt động cần tiến

5 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2005 và Khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014

6 Nghị định 96/2015/NĐ- CP

7 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2005 

Trang 24

hành một cách nhanh chóng, gọn nhẹ, tác

phong công nghiệp luôn được đưa lên

hàng đầu Phát triển kinh tế thị trường đối

với nước ta là một tất yếu kinh tế, một

nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền

kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại

Theo thống kê của Nhóm Ngân hàng Thế

giới (World Bank Group), trong số 189

quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng về

môi trường kinh doanh tại báo cáo Doing

Business đã có 79 quốc gia có thủ tục làm

con dấu doanh nghiệp là một trong những

thủ tục bắt buộc của quy trình gia nhập thị

trường Trong số này, chỉ có 7 quốc gia

quy định bắt buộc doanh nghiệp phải có

con dấu, trong đó có Việt Nam; 72 quốc

gia còn lại cho phép doanh nghiệp được

lựa chọn việc có sử dụng con dấu hay

không

Bên cạnh đó cũng có 110 quốc gia không

sử dụng con dấu doanh nghiệp Ở các quốc

gia này, con dấu chỉ mang tính hình thức

và biểu tượng cho doanh nghiệp hơn là

tính pháp lý

Thứ hai, con dấu là rào cản trong quá

trình khởi nghiệp của các nhà đầu tư

Điều 33, Hiến Pháp 2013 quy định: “Mọi

người có quyền tự do kinh doanh trong

những ngành nghề mà pháp luật không

cấm” theo đó, vấn đề về quyền tự do khởi

nghiệp đã được quan tâm từ khá lâu

Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời với chủ

đích là đơn giản hóa thủ tục đăng ký doanh

nghiệp, giảm chi phí gia nhập thị trường

cho các nhà đầu tư

Theo báo cáo Doing Business năm 2015

của Ngân hàng thế giới, Việt Nam xếp

hạng thứ 125/189 nền kinh tế về thủ tục

thành lập doanh nghiệp, trong đó thủ tục

làm con dấu là thủ tục thứ hai trong mười

thủ tục để khởi sự kinh doanh với thời gian

tối đa cho thủ tục này tối đa lên tới 8 ngày8

Doing Business cũng đánh giá việc bỏ thủ

tục khắc dấu đã giúp doanh nghiệp Việt

Nam giảm được ít nhất 3 ngày làm thủ tục

8Doing business 2015, xem 26.1.2015,

<http://www.doingbusiness.org/dât/exploreeconomies/

vietnam>

khởi sự doanh nghiệp

Thứ ba, con dấu làm phát sinh những tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp

Con dấu với vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp là bằng chứng xác thực, tạo

sự tin cậy cho các giấy tờ Tuy nhiên, việc quá lạm dụng và “tôn thờ” quá mức con dấu của doanh nghiệp đã biến thành công

cụ siêu quyền lực Tâm lý phổ biến của nhiều người là coi trọng “dấu đỏ mực son” hơn chữ ký cho dù vị thế của người ký ra sao

Do vậy, ai cũng muốn nắm giữ con dấu, đó cũng là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh giành con dấu đã nổ ra ở nhiều Công

ty lớn Thành viên, cổ đông và người quản

lý doanh nghiệp thường cho rằng ai nắm giữ con dấu thì người đó có quyền lực tối thượng trong Công ty

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp

2005, con dấu do người đại diện theo pháp luật của Công ty quản lý và sử dụng Khi người này vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ người đại diện theo pháp luật thì bị Hội đồng thành viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần xử lý và chấm dứt quyền đại diện theo pháp luật

Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp người đại diện lại không chịu bàn giao con dấu cho Công ty vì người này cho rằng không có con dấu thì không thể đóng vào quyết định bãi nhiệm mình được Khi cuộc chiến nội bộ tranh giành con dấu của Công

ty xảy ra sẽ làm tình hình doanh nghiệp căng thẳng, thậm chí doanh nghiệp còn có thể bị tê liệt hoạt động, nguy cơ dẫn đến giải thể hoặc phá sản

Thứ tư, sự quy định khác nhau giữa các văn bản pháp luật

Hiện nay, con dấu của doanh nghiệp đang

bị ràng buộc ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Các văn bản này yêu cầu doanh nghiệp phải đóng dấu khi tham gia vào

Trang 25

quan hệ chịu sự điều chỉnh của văn bản đó

Chẳng hạn trong lĩnh vực chuyển giao

công nghệ, bắt buộc phải có đóng dấu9

Đối với hợp đồng xây dựng hay hợp đồng

đấu thầu mà trong đó các doanh nghiệp

cùng liên doanh với nhau thì phải đóng dấu

vào văn bản hợp đồng10 Trong nhiều

trường hợp, khi doanh nghiệp muốn khởi

kiện đối tác có hành vi xâm phạm quyền

và lợi ích hợp pháp thì người đại diện

doanh nghiệp phải ký tên và đóng dấu vào

đơn khởi kiện11 Như vậy, việc cải cách

con dấu của doanh nghiệp vẫn chưa thực

sự triệt để Luật Doanh nghiệp 2014 với

các văn bản pháp luật khác vẫn chưa chưa

có sự thống nhất

Kinh nghiệm sử dụng con dấu doanh

nghiệp của các quốc gia trên thế giới

Kinh nghiệm sử dụng con dấu của Anh

Vương quốc Anh đã chính thức bãi bỏ quy

định bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng

con dấu kể từ năm 1989 Theo quy định

của Luật Công ty 2006 của Anh: “Doanh

nghiệp không bắt buộc phải có con dấu;

tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có con dấu thì

nội dung của con dấu phải tuân thủ một số

nguyên tắc chung”

Luật này cũng quy định con dấu doanh

nghiệp và chữ ký của người có thẩm quyền

có giá trị ngang nhau trong việc khẳng

định giá trị pháp lý của văn bản do doanh

nghiệp ban hành12 Luật của nước Anh, xứ

Wales hay Bắc Ireland và Điều 43 Luật

Công ty 2006 của Anh cũng có quy định

tương tự13 Như vậy nhìn chung, pháp luật

Anh không bắt buộc doanh nghiệp cần

phải có con dấu mà có thể dùng chữ ký của

9 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 103 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày

31.12.2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công

nghệ

10 Điểm d, khoản 2 Điều 138 Luật xây dựng năm 2014

11 Khoản 2 Điều 105 Luật tố tụng hành chính 2010 

12Vấn đề về quản lí và sử dụng con dấu DN 2014, xem

Một số vấn đề khác liên quan về con dấu

sử dụng ở nước ngoài cũng được quy định khá cụ thể14 Về mặt giá trị pháp lý của văn bản, ta thấy có sự khác nhau giữa tập đoàn hợp nhất ở trong và bên ngoài nước Anh Đối với những tập đoàn (Công ty sáp nhập) tại Anh được điều chỉnh dưới Luật Công

ty, Công ty có thể đóng dấu con dấu của mình (nếu có)

Ngoài ra, và phổ biến hơn, văn bản đó có thể được ký thay mặt Công ty bởi hai Giám đốc của một Công ty hoặc bởi một Giám đốc và một người thư ký Cách mà văn bản

đó được hoàn thành phụ thuộc vào chủ thể nào đang kí văn bản15 Trong trường hợp của những Công ty sáp nhập bên ngoài nước Anh thì có ba lựa chọn như sau: Thứ nhất, Công ty có thể đóng con dấu của mình (nếu có); thứ hai, văn bản có thể có giá trị pháp lý bởi chữ ký của một người theo Luật Công ty của quốc gia của Công

ty có sự sáp nhập, đang tiến hành dưới thẩm quyền của Công ty; thứ ba, miễn là

tài liệu được trình bày là “đã có giá trị

pháp lý” bởi Công ty thì tài liệu đó sẽ

đương nhiên có giá trị pháp lý

Kinh nghiệm sử dụng của Úc

Theo Luật Công ty 200116, Công ty không bắt buộc phải có con dấu, nếu có một con dấu thì nó phải là con dấu chung của Công

ty (common seal)

Con dấu phải có tên Công ty, mã số Công

ty ACN (Australian Company Number) hoặc mã số kinh doanh ABN (Australian Business Number) Công ty có thể ký kết

d%E1%BA%A5u-doanh-nghi%E1%BB%87p.aspx

s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-con-13 Một hợp đồng có thể được tạo thành bởi một Công ty

bằng cách đóng dấu con dấu của Công ty hoặc bằng chữ ký bởi hai giám đốc hoặc bởi một giám đốc và một thư ký hoặc bất cứ người đồng thư ký nào khác hoặc (lần đầu tiên) bởi chỉ một giám đốc nếu chữ ký đó được chứng kiến và chứng thực

14 Điều 49 Luật Công ty 2006 của Anh

15Deeds 2014, xem

04.2014,http://www.nortonrosefulbright.com/files/dee ds-115024.pdf

16 Corporation Act 2001

Trang 26

hợp đồng mà không cần sử dụng con dấu

Trường hợp Công ty nhân bản con dấu

chung thì các con dấu nhân bản phải được

ghi rõ tương ứng là “duplicate seal” hoặc

“share seal” hoặc “certificate seal”17

Thêm vào đó, pháp luật Úc còn quy định

rằng quyền lực của Công ty trong việc tạo

lập, thay đổi, thông qua, chấm dứt hiệu lực

một hợp đồng có thể được thực hiện bởi

một cá nhân với tư cách đại diện cho Công

ty hoặc đã được ủy quyền Những quyền

lực trên có thể được thực thi mà không cần

con dấu chung18 Thường thì cách đơn giản

nhất cho Công ty ban hành một tài liệu có

giá trị pháp lý là khi tài liệu đó được ký

bởi: hai giám đốc của công ty; hoặc một

giám đốc và một thư ký công ty của công

ty; hoặc giám đốc đó đối với một công ty

sở hữu chủ (a proprietary company) có

một Giám đốc chính đồng thời là thư ký

chính của công ty19

KẾT QUẢ

Thông qua việc tìm hiểu, phân tích pháp

luật về con dấu của một số quốc gia trên

thế giới, chúng tôi đã thống kê được tỷ lệ

sử dụng con dấu của các doanh nghiệp ở

các nhóm quốc gia trên thế giới và cách

thức sử dụng con dấu ở 10 quốc gia trên

thế giới như sau:

Tỷ lệ và cách thức sử dụng con dấu của

các doanh nghiệp ở một số quốc gia trên

thế giới

Biểu đồ 1 Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng

con dấu ở các nhóm quốc gia trên thế giới

tính đến ngày 13/11/2014

(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh,

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Vấn đề quản lý và

sử dụng con dấu Doanh nghiệp)

Từ biểu đồ trên ta thấy, tỷ lệ công ty sử dụng con dấu ở mỗi quốc gia trên thế giới

tỷ lệ nghịch với mức thu nhập (trình độ phát triển kinh tế - xã hội) của quốc gia đó Theo đó, ở những quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ này chỉ chiếm thấp nhất (30%) trong khi đó có đến 50% doanh nghiệp ở các quốc gia có thu nhập thấp đòi hỏi phải

có con dấu trong quá trình kinh doanh Điều này được lý giải bằng việc ở những quốc gia có thu nhập cao (tức nhóm quốc gia phát triển nhất), thủ tục kinh doanh thông thoáng và gọn nhẹ để tạo điều kiện tối đa cho quá trình gia nhập thị trường của doanh nghiệp Ở các quốc gia này, chữ ký người đại diện hiệu lực ngang với con dấu

Bảng 1 Cách thức sử dụng con dấu ở một số quốc gia trên thế giới 20

buộc

Thời gian cần thiết

để có được con dấu

Chi phí

USD)

17 Vấn đề về quản lí và sử dụng con dấu doanh nghiệp,

Cổng thông tin đăng kí doanh nghiệp quốc gia

18 Điều 126 Luật Công ty Úc

19 Khoản 1 và khoản 2 Điều 127 của Luật Công ty

20 Tỷ giá USD chuyển đổi được truy cập vào ngày

11/5/2016 

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Nhóm nước có thu nhập cao

Nhóm nước có thu nhập trung bình

Nhóm nước có thu nhập dưới trung bình

Nhóm nước có thu nhập thấp

30%

41%

Trang 27

8 Hàn Quốc Không 1 30,000 KRW (25,66 USD)

10 Hong Kong

SAR, Trung

Quốc

(Nguồn: Doing Business Report – Ngân hàng thế giới)

Qua bảng thống kê trên, chúng ta càng

nhận thấy rõ rằng ở các quốc gia có trình

độ kinh tế - xã hội phát triển cao thì con

dấu hoàn toàn không phải là vật mang tính

bắt buộc trong hoạt động của các doanh

nghiệp

Thêm vào đó, trên cơ sở phân tích những

quy định mới, những bất cập trong thực

tiễn áp dụng pháp luật và kinh nghiệm

trong quá trình sử dụng con dấu của một

số quốc gia trên thế giới, chúng tôi đã đề

xuất một số giải pháp thiết thực để hoàn

thiện pháp luật Việt Nam về chế định con

dấu Để cải cách triệt để nhất về con dấu

cần có lộ trình dài phù hợp, theo từng bước

và từng giai đoạn cụ thể

Đối với cơ quan nhà nước

Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn chưa khẳng

định một cách minh thị là doanh nghiệp có

bắt buộc phải có con dấu hay không dẫn

tới việc áp dụng pháp luật của cơ quan

quản lý nhà nước và các doanh nghiệp còn

gặp nhiều lúng túng Do vậy, để tạo ra

hành lang pháp lý thông thoáng cho doanh

nghiệp, với vai trò chủ đạo trong việc điều

chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trên

phương diện pháp lý, Luật Doanh nghiệp

cần có những quy định rõ ràng, minh bạch

và chi tiết hơn về vấn đề liên quan đến con

dấu

Về mặt lập pháp, thiết nghĩ các nhà làm

luật cần thay đổi quy định của luật cho phù

hợp Cần ban hành mới các quy định về

con dấu của doanh nghiệp một cách minh

thị và rõ ràng, doanh nghiệp liệu có bắt

buộc có hay không có con dấu, hiệu lực

của hợp đồng khi không có con dấu, giải

quyết tranh chấp có liên quan đến con dấu

của doanh nghiệp Đồng thời, cần tiến

hành đồng bộ hóa các quy định của pháp

sử dụng con dấu rất phổ biến, đặc biệt là trong quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước yêu cầu tất cả văn bản hồ

sơ đều phải có con dấu mới có hiệu lực Nếu bỏ con dấu thì phải thay đổi các quy định này Do vậy, đối với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến con dấu như các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, hải quan cần có sự sửa đổi

bổ sung theo hướng không bắt buộc sử dụng con dấu; trong các biểu mẫu ban hành kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật không cần quy định nội dung đóng dấu vào các biểu mẫu Thêm vào đó, những văn bản hướng dẫn cho Luật Doanh nghiệp cũng cần phải có sự thay đổi sao cho phù hợp Trên cơ sở Luật Doanh nghiệp 2014 thì Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành cần phải khẳng định rõ con dấu không phải là yếu tố khẳng định giá trị pháp lý của văn bản, giấy tờ như hiện nay

Để tiến tới việc cải cách triệt để con dấu của doanh nghiệp, cần quy định thêm những thao tác đơn giản hơn thay cho sự hiện diện của con dấu, chẳng hạn chữ ký

số, chữ ký điện tử Muốn cải cách triệt để

về mặt con dấu, Nhà nước cần xây dựng lộ trình cụ thể và phải có sự thống nhất giữa

cá nhân trong bộ máy quản lí Nhà nước Cách thức hiệu quả nhất là phải bỏ hẳn những quy định về bắt buộc phải đóng dấu trong các đạo luật hay văn bản dưới luật khi sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới trong thời gian sắp tới21 Đây là cơ sở tạo điều kiện tiến tới việc cải cách triệt để về con dấu của doanh nghiệp

Trang 28

Đối với doanh nghiệp

Để cải cách triệt để con dấu doanh nghiệp

đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ từ phía

nhà nước và doanh nghiệp Thực tế cho

thấy, để thay đổi pháp luật đã khó, nay

muốn thay đổi thói quen sử dụng con dấu

đã tồn tại lâu đời lại càng khó hơn nữa Vì

thế, muốn đạt được hiệu quả cao thì trước

hết phải đặt ra một lộ trình cải cách chặt

chẽ và khoa học

Thứ nhất, thay đổi tư duy quá coi trọng vai

trò con dấu của doanh nghiệp Trước hết

cần phải thay đổi tư duy sử dụng con dấu

Phần lớn những nhà lãnh đạo thường có

tâm lí rằng con dấu quyết định tất cả, bất

chấp chữ ký, thẩm quyền của người ký hay

các yếu tố liên quan khác, hễ thấy có đóng

dấu là yên tâm Việc đề cao quá mức con

dấu không đem lại ích lợi gì mặc khác còn

gây ra những tranh chấp không đáng có,

dẫn đến rối loạn trong việc quản lý, thực

hiện mục tiêu kinh doanh Muốn thay đổi

tư duy sử dụng con dấu của doanh nghiệp

phải đảm bảo thay đổi dưới hai khía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất là thay đổi cách sử

dụng con dấu trong nội bộ Công ty Khía

cạnh thứ hai là, trong giao dịch dân sự, các

hai bên có thể thỏa thuận dùng hình thức

khác thay thế cho con dấu để xác lập hiệu

lực của giao dịch, chẳng hạn như chữ ký

Thứ hai, xây dựng và nâng cao vai trò của

điều lệ Công ty Khoản 3 Điều 44 Luật

Doanh nghiệp 2014 “Việc quản lý, sử

dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy

định của Điều lệ Công ty” Do đó, xây

dựng điều lệ với những điều khoản chặt

chẽ, chi tiết về con dấu sẽ giúp doanh

nghiệp khắc phục đáng kể khó khăn Một

bản điều lệ cụ thể, rõ ràng, hợp lý sẽ đảm

bảo sự hiệu quả trong hoạt động kinh

doanh của Công ty Trong trường hợp có

những vấn đề khác liên quan không được

pháp luật quy định thì doanh nghiệp cũng

có quyền tự bổ sung thêm và quy định cụ

thể như số lượng con dấu, hình thức của

con dấu, ai là người có quyền nắm giữ con

dấu hay cả những loại giấy tờ có thể đóng

hoặc không đóng dấu

Thứ ba, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa

chữ ký và con dấu trong Công ty Chữ ký

và con dấu trong mối quan hệ thống nhất

sẽ làm phát sinh hiệu lực của các loại văn bản giấy tờ trong Công ty Tuy nhiên có rất nhiều vấn đề phát sinh liên quan đến giá trị của hai hình thức này Vậy giữa chữ ký và con dấu thì hình thức nào có giá trị cao hơn? Hiện chưa có quy định pháp luật nào điều chỉnh hay hướng dẫn về vấn đề này Thiết nghĩ, nên bãi bỏ quy định bắt buộc đóng dấu để đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm bớt những rắc rối, hệ lụy không đáng có Bởi lẽ để chứng minh vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của doanh nghiệp thì ngoài con dấu ra, doanh nghiệp còn nhiều hình thức khác khẳng định điều này (chữ ký, giấy tờ giao dịch có logo của Công ty)

Thứ tư, tăng cường áp dụng những hình

thức hiện đại khác trong việc xác lập giá trị văn bản thay cho con dấu như chữ ký

số, chữ ký điện tử Đã đến lúc Việt Nam phải tiến hành đổi mới cho bắt kịp với nhịp phát triển chung của nhân loại Xu hướng của thế giới hiện đại là không sử dụng con dấu do các công cụ hỗ trợ việc xác minh nhân thân và tính pháp lý của văn bản trở nên đáng tin cậy hơn Tại nhiều nước trên thế giới, con dấu ngày càng mang tính hình thức và biểu tượng cho doanh nghiệp nhiều hơn là tính pháp lý Mặt khác, hiện nay đã có nhiều ứng dụng hỗ trợ việc xác minh nhân thân như chữ ký điện tử, chữ ký

số, văn bản điện tử, v.v… đã góp phần nâng cao tính bảo mật thông tin và do đó, việc sử dụng con dấu để xác định tính pháp

lý của văn bản trở nên không cần thiết

KẾT LUẬN

Có thể nói trong nền kinh tế nước ta hiện nay, doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng Chúng ta thừa nhận rằng sự phát triển càng mạnh của doanh nghiệp là

cơ sở của sự phồn vinh cho nền kinh tế nước nhà Đồng thời, sự phát triển đó đã nâng cao vị thế, vai trò của nước ta trên

Trang 29

trường quốc tế, nâng cao hình ảnh về một

môi trường kinh doanh thân thiện, thu hút

sự đầu tư của nước ngoài Do đó, Đảng và

Nhà nước ta đang từng bước đẩy mạnh

quyền tự do kinh doanh bằng cách đơn

giản hóa thủ tục khởi nghiệp của các nhà

đầu tư Một trong những cải cách đáng kể

và mang tính cấp thiết lúc này là thay đổi

thủ tục về con dấu của doanh nghiệp Dựa

vào những kiến thức lý luận, pháp luật một

số quốc gia và những phân tích về thực tiễn

áp dụng, chúng tôi đề xuất một số giải

pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện

hơn quy chế pháp lý về con dấu doanh nghiệp Chúng tôi cho rằng việc cải cách chế định con dấu của doanh nghiệp cần có một lộ trình cụ thể, đồng bộ, nó xuất phát

từ nhiều phía, không chỉ là cơ quan nhà nước, các nhà làm luật mà cần cải cách ngay cả trong tư duy của doanh nghiệp Trong tương lai gần, Việt Nam nên cân nhắc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới nhằm trao quyền quyết định dùng hay không dùng con dấu cho từng doanh nghiệp sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LUẬT DOANH NGHIỆP (2014) số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 NGHỊ ĐỊNH 99/2016 quy định về sử dụng và quản lý con dấu của Doanh nghiệp

NGUYỄN TUẤN VŨ (2014), Quyền của Doanh nghiệp đối với con dấu theo quy định

của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan, Tạp chí Nhà

nước và pháp luật

VÕ TRUNG TÍN, KIỀU ANH VŨ (2015), Con dấu doanh nghiệp theo quy định của

Luật Doanh nghiệp 2014 và các quy định khác có liên quan, Tạp chí Khoa học

pháp lý

CỤC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH (2015), Cải cách về con dấu Doanh

nghiệp: nguyên nhân và giải pháp

CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ ĐỐI THOẠI CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM – EU, Sổ tay

Hoạt động Thực tiễn của Công ước Apostille bởi Văn Phòng Thường trực Hội nghị

La Hay về Tư pháp Quốc tế

ELENA GILARDI (2014), Incorporation of a limited liability company under Italian

Law, BusinessJus

DEPARTMENT OF JOBS, ENTERPRISE AND INNOVATION IRELAND (2014),

Explanatory Memorandum to Companies Act 2014

IAN M RAMSAY, G P STAPLEDON, KENNETH FONG (2015), Affixing of the

Company Seal and the Effect of the Statutory Assumption in the Corporations Law

RHT TAYLOR WESSING (2016), The execution of documents – getting it right,

Commercial magazine

Trang 30

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LOẠI BỎ CHẤT Ô NHIỄM VÀ ĐẶC TÍNH BẨN MÀNG CỦA HỆ THỐNG MF XỬ LÝ NƯỚC CẤP AN TOÀN CHO CÁC CƠ

SỞ Y TẾ QUY MÔ NHỎ

Đỗ Thị Bích Ngọc 1,* , Trương Minh Hồng 1 , Bùi Xuân Thành 1 , Võ Thị Kim

Quyên 2 , Đào Khánh Châu 3 & Trần Thanh Đại 3

1Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

2Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh

3Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai

*Tác giả liên lạc: dtbngoc.dtu@gmail.com

(Ngày nhận bài: 12/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Chất lượng nước sạch cho nhu cầu hàng ngày của các cơ sở y tế đang là vấn đề bức thiết Nghiên cứu này tiến hành với mô hình màng MF kết hợp quá trình hấp phụ than hoạt tính (Powered activated carbon – PAC) xử lý nguồn nước thô cho các cơ sở y tế quy mô nhỏ Nghiên cứu được thực hiện với mô hình màng vi lọc (microfiltration – MF)

xử lý nguồn nước thô trong thời gian 40 ngày với hai chế độ vận hành màng lọc liên tục (CMF) và màng lọc liên tục kết hợp than hoat tính (CMF-PAC) Mô hình MF xuất hiện bẩn màng ở cả hai chế độ vận hành Trong đó, tốc độ bẩn màng của của quá trình CMF nhanh gấp 2 lần CMF-PAC Chất lượng nước đầu ra của mô hình MF đạt tiêu chuẩn nước uống theo QCVN01:2009/BYT và tiêu chuẩn nước uống EU 1998 Nghiên cứu còn giới hạn trong các chỉ tiêu về chất lượng nước và các quá trình màng cơ bản, cần tiếp tục các nghiên cứu mở rộng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nước uống

Từ khóa: Đặc tính bẩn màng, MF, xử lý nước cấp, cơ sở y tế

ASSESS REMOVAL EFFICIENCY AND MEMBRANE FOULING OF MF SAFETY WATER TREATMENT SYSTEM FOR SMALL-SCALE HEALTH

FACILITIES

Do Thi Bich Ngoc 1,* , Truong Minh Hong 1 , Bui Xuan Thanh 1 , Vo Thi Kim Quyen 2 ,

Dao Khanh Chau 3 & Tran Thanh Dai 3

1University of Technology, Vietnam National University – Ho Chi Minh City

2Ho Chi Minh City University of Food Industry

3Dong Nai University of Technology

*Corresponding Author: dtbngoc.dtu@gmail.com

ABSTRACT

The quality of clean water for daily necessities of health facilities is an urgent matter Research team operated MF membrane model with (Powered activated carbon – PAC) activated carbon adsorption process to treat raw water for small health facilities Research has been continuous with microfiltration (microfiltration – MF) membrane treatment of raw water for more than 40 days, two operating modes Continuous membrane filtration (CMF) and Continuous membrane filtration combined activated carbon (CMF-PAC) The MF model appeared membrane fouling in both operating modes In particular, membrane fouling speed of CMF is twice as fast as CMF-PAC The output water quality of the MF model met drinking water standards of QCVN01:2009/BYT and the EU 1998 Research is limited to basic water parameters and basic membrane processes Further research needs to be expanded to meet the

Trang 31

increasing demand of quality drinking water

Keywords: Membrane fouling, MF, supply water treatment, health care facilities

GIỚI THIỆU

Việt Nam có khoảng 68 nhà máy nước cấp

phục vụ cho sinh hoạt và cho công nghiệp

ở các khu vực đô thị trong đó 70% nguồn

nước cấp sử dụng nước mặt, còn lại 30%

Corporation, 2014) Sông Sài Gòn và

Đồng Nai đóng vai trò quan trọng trong hệ

thống nước cấp cho các thành phố nằm

trong lưu vực Tuy nhiên, sông Sài Gòn đã

bị ô nhiễm bởi những chất hữu cơ với

thông số BOD và COD (Department of

Science and Technology, 2013) vượt giới

hạn tiêu chuẩn chất lượng mặt dùng cho

cấp nước (cột A2 QCVN

08:2015/BTNMT (Ministry of Natural

Resources and Environmet, 2015))

Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,

hiện trạng xử lý và sử dụng nước trong các

cơ sở y tế rất khác nhau tùy theo điều kiện

kinh tế cũng như cách quản lý của các cơ

sở y tế Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có

đánh giá chính thức về hiệu quả xử lý của

các hệ thống xử lý hiện hữu cũng như chất

lượng nước sử dụng cho mục đích ăn uống

trong các cơ sở y tế Do đó, nghiên cứu

được thực hiện nhằm góp phần đưa ra giải

pháp công nghệ phù hợp xử lý nước cấp an

toàn ứng dụng công nghệ màng MF cho

các cơ sở y tế quy mô nhỏ

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Mô hình màng MF sử dụng nguồn nước

thô là nước mặt sông Sài Gòn tại trạm bơm

Hòa phú để tiến hành các phương pháp

phân tích và đánh giá hiệu quả của mô hình

Bảng 1 Đặc tính nguồn nước sử dụng

cho nghiên cứu

Quá trình vận hành hệ thống màng MF được chia thành 2 giai đoạn liên tục: giai đoạn xử lý màng (CMF – continuous microfiltration) và giai đoạn xử lý màng kết hợp quá trình hấp phụ than hoạt tính CMF-PAC (powder activated carbon combined continuous microfiltration)

Để xác định được nồng độ PAC cho quá trình màng kết hợp quá trình hấp hấp phụ, một thí nghiệm mẻ được tiến hành Với 3 nồng độ PAC 50 mg/l, 100 mg/l và 150 mg/l tiến hành trong các thời gian tiếp xúc

là 15 phút, 30 phút, 60 phút, 90 phút và

120 phút

Đánh giá hiệu quả xử lý của màng CMF

Tiếp theo, hàm lượng PAC xác định từ thí nghiệm mẻ được áp dụng vào quá trình vận hành nghiên cứu mô hình màng MF vận hành liên tục (CMF) kết hợp quá trình hấp phụ PAC Trong đó, giai đoạn xử lý màng CMF tiến hành trong khoảng 20 ngày và giai đoạn xử lý màng kết hợp quá trình hấp phụ than hoạt tính (CMF-PAC) tiến hành trong khoảng 20 ngày

Đánh giá tốc độ bẩn màng của hệ thống

MF

Màng MF sử dụng để xử lý nước uống từ nguồn nước mặt tự nhiên thường xảy ra hiện tượng bẩn màng do cả hai nguyên nhân là bẩn màng hạt keo (colloidal material) và chất hữu cơ tự nhiên (NOM) Đánh giá tốc độ bẩn màng theo thời gian vận hành dựa vào sự thay đổi áp suất vận hành khi duy trì thông lượng 15 l/m2.h

Trang 32

Dựa vào các thông số thời gian, thông

lượng, áp suất chuyển màng để tính xu

hướng bẩn màng theo thời gian Khi áp

suất đạt giá trị 60 đến 70 kPa thì tiến hành

rửa màng Nghiên cứu cũng tiến hành đối với các chỉ tiêu như: độ cứng, nồng độ nitrate, nồng độ nitrite, nồng độ ammonia, nồng độ sulfate

Hình 1 Sơ đồ bố trí thiết bị mô hình xử lý nước ứng dụng quá trình màng CMF và các

vị trí lấy mẫu nước

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả thí nghiệm mẻ xác định hàm

lượng PAC tối ưu

Tiến hành phân tích các chỉ tiêu độ màu,

độ đục và COD cho thấy trong khoảng pH

từ 7.5 – 7.7 mẫu nước sau khi tiếp xúc với

PAC đều có độ màu nằm trong khoảng 18

– 24 Pt-Co, trong đó mẫu nước sử dụng

PAC 100 mg/l có độ màu thấp nhất Tuy

nhiên, COD của mẫu nước sau thí nghiệm

nằm trong khoảng 5 – 11 mg/l với hiệu quả

cao nhất đối với mẫu nước sử dụng PAC

150 mg/l Do hàm lượng PAC sử dụng cao

hơn mang lại hiệu quả hấp phụ chất hữu cơ

tốt hơn nhưng sự phân tán các phần tử

PAC ảnh hưởng đến độ màu nước Độ đục

luôn nhỏ hơn 2 NTU trong tất cả các mẫu

thí nghiệm

Thời gian tiếp xúc trong thí nghiệm mẻ

được xác định trong khoảng từ 15 đến 120

phút, kết quả chưa cho thấy rõ khác biệt

hiệu quả giữa các khoảng thời gian tiếp

xúc khác nhau, tuy nhiên theo các nghiên

cứu trước đây thì trong khoảng 10 đến 120

phút là khoảng thời gian tiếp xúc thường

được áp dụng (Suzuki, 1998 và Treguer,

2008) Thậm chí thời gian tiếp xúc 300

phút đem lại hiệu quả cao đã được thử

nghiệm (Khan, 2009)

Do độ đục không phải là vấn đề lớn đối với màng MF, nên đánh giá hiệu quả thí nghiệm mẻ xác định dựa trên độ màu và COD Trong đó, hàm lượng PAC 100 mg/l

là tối ưu cho mục đích loại bỏ độ màu với hiệu suất từ 24-32%, hiệu suất loại bỏ COD trung bình từ 12-22% Như vậy, dựa trên kết quả thí nghiệm mẻ quá trình hấp phụ PAC, lựa chọn nồng độ PAC là 100 mg/l cho quá trình vận hành liên tục trên

mô hình màng MF kết hợp hấp phụ PAC (CMF-PAC)

Đánh giá hiệu quả xử lý màng CMF

Độ màu

Nước đầu vào có độ màu từ 21 – 26 Pt-Co, sau khi xử lý qua quá trình CMF giảm xuống còn 3 – 6 Pt-Co và qua quá trình CMF-PAC giảm xuống còn 2 – 6 Pt-Co Như vậy, quá trình CMF-PAC có thêm PAC mang lại hiệu quả khử màu cao hơn

do xảy ra quá trình hấp phụ của PAC, giảm

độ màu nước sau xử lý xuống 2 Pt-Co, tuy nhiên để đạt hiệu quả xử lý như vậy quá trình CMF-PAC cần vận hành đến ngày thứ 25, khi đó hàm lượng PAC tích lũy lớn Trong nghiên cứu này, màng MF có khả năng loại bỏ độ màu, quá trình màng CMF-PAC do có kết hợp quá trình hấp phụ

Trang 33

PAC có hiệu quả loại bỏ độ màu cao hơn

quá trình màng CMF

Hình 2 Độ màu (a) và độ màu trung bình

(b) của nước trước và sau xử lý qua quá

trình CMF và CMF-PAC

Độ đục

Độ đục là yếu tố được thể hiện rõ trong

hiệu quả của quá trình lọc màng Cả hai

quá trình đều mang lại hiệu quả cao khi độ

đục sau khi qua màng từ 0 – 1 NTU, hoàn

toàn nằm trong giới hạn của tiêu chuẩn

Hình 4 Hàm lượng sắt (a) và hàm lượng

sắt trung bình (b) của nước trước và sau

xử lý qua quá trình CMF và CMF-PAC

Chất hữu cơ

Hàm lượng chất hữu cơ (được tính qua CODMn) trong nước thô có nhiều biến động trong quá trình nghiên cứu, từ 5 – 12 mg/L Hiệu quả xử lý tăng lên và duy trì

ổn định ở 58 – 68% từ ngày vận hành thứ

15 đối với quá trình CMF-PAC, trong khi quá trình CMF qua 20 ngày vận hành vẫn chưa ổn định loại bỏ COD và hiệu quả xử

Trang 34

Hình 5 COD (a) và COD trung bình (b)

của nước trước và sau xử lý qua quá trình

CMF và CMF-PAC

Theo tiêu chuẩn nước uống QCVN

01:2009/BYT và của châu Âu năm 1998

đối với COD là 10 mg/L, như vậy hàm

lượng COD sau khi qua quá trình

CMF-PAC nằm trong khoảng 2 đến nhỏ hơn 4

mg/L là đạt tiêu chuẩn chất lượng nước ăn

uống

Hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm của mô

hình màng CMF

Mô hình xử lý bằng công nghệ màng MF

với 2 quá trình CMF và CMF-PAC có hiệu

quả cao đối với các chỉ tiêu như độ đục, độ

màu, Sắt tổng và COD Quá trình màng

CMF-PAC luôn có hiệu quả xử lý cao hơn

so với quá trình màng CMF, tuy nhiên

chênh lệch hiệu quả không lớn

Hình 6 Hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm

của quá trình màng CMF và CMF-PAC

Đối với chi tiêu độ màu, quá trình màng

CMF đạt hiệu suất 83% trong khi quá trình

màng CMF-PAC đạt hiệu suất hơn 85%

Tương tự, đối với các chỉ tiêu độ đục, sắt

tổng và COD, hiệu suất của quá trình màng

CMF và CMF-PAC tương ứng cho mỗi chỉ

tiêu chất lượng nước là 93 và 95%, 65.5 và

68%, 38 và 48%

Như vậy, ứng dụng quá trình màng CMF

kết hợp quá trình hấp phụ PAC mang lại

hiệu quả xử lý COD cao Trong khi đó,

hiệu quả xử lý các chỉ tiêu chất lượng nước khác không thay đổi đáng kể

Đánh giá tiến trình bẩn màng

Hình 10 mô tả tiến trình thay đổi của áp suất chuyển màng TMP theo thời gian vận hành hệ thống màng trong điều kiện duy trì thông lượng 15 lít/m2.ngày Áp suất chuyển màng tăng hàng ngày cho thấy hiện tượng bẩn màng xảy ra trên cả hai quá trình CMF và CMF-PAC, tuy nhiên quá trình bẩn màng trên hệ thống CMF xảy ra với tốc độ lớn hơn

Sau 4 ngày vận hành đầu tiên, áp suất vận hành trên hệ thống CMF đã tăng hơn gấp đôi từ khoảng 9.5 kPa lên 21 kPa, trong khi

hệ CMF-PAC đạt đến giá trị áp suất vận hành tương tự sau 6.5 ngày vận hành Xét trên cả quá trình vận hành của hai hệ thống, tốc độ bẩn màng của hệ thống CMF xảy ra nhanh gấp hơn 2 lần so với hệ thống CMF-PAC

Nguyên nhân của sự khác biệt về tốc độ bẩn màng giữa hai hệ thống là do trong hệ thống CMF-PAC, than hoạt tính dạng bột

có kích thước hạt nhỏ, trong quá trình lọc màng PAC có thể hình thành một lớp trên màng, các hạt PAC sẽ nhanh chóng tích lũy trên màng để tạo thành một lớp, giúp

ngăn chặn bẩn màng (Williams, 2005)

Hình 7 So sánh tốc độ bẩn màng của hệ

thống CMF và CMF-PAC Đối với màng MF khi TMP lên tới từ 60 đến 70 kPa nên tiến hành quá trình rửa màng, như vậy có thể ước tính thời gian vận hành 16 ngày đối với hệ thống CMF

và khoảng 24 ngày đối với hệ thống PAC thì tiến hành rửa màng

CMF-a)

b)

Trang 35

Hiệu quả xử lý của quá trình màng

CMF-PAC luôn cao hơn quá trình màng CMF,

chất lượng nước các chỉ tiêu nghiên cứu

đạt các tiêu chuẩn về nước uống QCVN01:2009/BYT và tiêu chuẩn nước uống của châu Âu năm 1998

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tiến

hành trong khuôn khổ của RESCIF, theo tài trợ số Tc-MTTN-2016-01/Truong – Care Tác giả xin cảm ơn sinh viên Chi và Thịnh vì những trợ giúp trong phòng thí nghiệm

CARE-TÀI LIỆU THAM KHẢO

2013 Annual sector report on Vietnam water supply (2014), StoxPlus Corporation Ha Noi, Vietnam

American public health association (APHA) (2005): Standard methods for the examination of water and wastewater Washington DC

Bartram, J., Brocklehurst, C., Fisher, M.B., Luyendijk, R., Hossain, R., Wardlaw, T., Gordon, B., (2014) Global monitoring of water supply and sanitation: history,

methods and future challenges International journal of environmental research

and public health 11(8):8137-8165

Bick, A and Oron, G., (2001) Assessing the linkage between feed water quality and

reverse osmosis membrane performance Desalination 137(1):141-148

Bodzek, M., Konieczny, K., Kwiecinska, A., (2011) Application of membrane

processes in drinking water treatment–state of art Desalination and Water

Treatment 35(1-3):164-184

Khan (2009) Continuous and efficient removal of THMs from river water using MF

membrane combined with high dose of PAC Desalination 249.713–720

National surface water quality standards 08:2015/BTNMT (2015) Ministry of Natural Resources and Environment, Ha Noi, Vietnam

Report on impact of climate change on discharge water quality and saline water intrusion

of Sai Gon River and suggestion of feasible adaptive measures (2013) Department

of Science and technology Ho Chi Minh City, Vietnam

Trang 36

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

THÔNG QUA PHONG TRÀO “SINH VIÊN 5 TỐT”

Lâm Văn Tân*

Thành Đoàn thành phố Cần Thơ

*Tác giả liên lạc: lamvantan@cantho.gov.vn

(Ngày nhận bài: 10/8/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Nghiên cứu này tập trung mô tả thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua phong trào“Sinh viên 5 tốt” của Hội Sinh viên thành phố Cần Thơ Từ đó, xác định nguyên nhân ảnh hướng đến công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua phong trào này Trên cơ sở nghiên cứu, người nghiên cứu dựa vào 04 nhóm nguyên tắc để đề xuất 04 nhóm biện pháp nhằm góp phần làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua phong trào “Sinh viên 5 tốt” của Hội Sinh viên thành phố Cần Thơ

Từ khóa: Giáo dục, giáo dục đạo đức, phong trào “Sinh viên 5 tốt”

SUGGESTIONS ON HOW TO ENHANCE THE EFFECTIVENESS OF EDUCATING CAN THO CITY STUDENTS' MORALITY THROUGH THE “STUDENTS WITH FIVE GOOD MERITS” MOVEMENT

Lam Van Tan*

Youth Office of Can Tho City

*Corresponding Author: lamvantan@cantho.gov.vn

ABSTRACT

This study focuses on describing the status of ethical education for students through the

“Student with five good merits” movement of Student Association of Can Tho city For this reason, the researcher will identify the cause affects ethical education for students through this movement On the basis of the research, the researcher will research through 4 groups of principles to propose 4 kinds of measurement to contribute to the moral education of students through the “Student with five good merits” movement Student Association of Can Tho city

Keywords: Education, ethical education, the “Student with five good merits” movement

TỔNG QUAN

Sinh viên là bộ phận thanh niên ưu tú, có

lòng yêu nước nồng nàn, có năng lực sáng

tạo, tiếp thu tri thức mới, hăng hái đi đầu

trong các phong trào hành động cách mạng

của tuổi trẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh và

Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của thanh

niên và xác định “Bồi dưỡng thế hệ cách

mạng cho đời sau là một việc rất quan

trọng và rất cần thiết” Do đó, hơn lúc nào

hết việc tăng cường giáo dục lý tưởng cách

mạng, đạo đức cho sinh viên là yêu cầu cần

thiết, đòi hỏi Nhà trường và các tổ chức

đoàn thể trong trường học cần tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần “Xây dựng lớp sinh viên thời kỳ mới có lý tưởng cao đẹp, đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống lành mạnh, luôn

đi đầu trong học tập, nghiên cứu khoa học, nắm bắt công nghệ mới; có kiến thức chuyên môn, lịch sử, xã hội phong phú; hiểu biết, tôn trọng và chấp hành luật pháp” như mục tiêu Nghị quyết Đại hội IX Hội Sinh viên Việt Nam đã đề ra

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên, đề tài tiến

Trang 37

hành nghiên cứu, nhằm làm rõ thực trạng,

tìm hiểu nguyên nhân từ đó đề xuất các

biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả

công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên

thành phố Cần Thơ thông qua phong trào

“Sinh viên 5 tốt”

PHƯƠNG PHÁP

Phạm vi nghiên cứu

Hội Sinh viên các trường đại học, cao đẳng

trên địa bàn thành phố Cần Thơ có nhiều

hoạt động giáo dục sinh viên, trong đề tài

này chỉ tìm hiểu Công tác giáo dục đạo

đức, lối sống cho sinh viên thông qua các

hoạt động của phong trào “Sinh viên 5 tốt”

(học tập tốt, đạo đức tốt, thể lực tốt, hội

nhập tốt và tình nguyện tốt) để giáo dục 03

nội dung, gồm: giáo dục lòng yêu nước,

tinh thần tự hào dân tộc; giáo dục đức tính

cần cù siêng năng, tự giác trong học tập

cho sinh viên; giáo dục sinh viên hình

thành các giá trị sống, giá trị văn hóa tốt

đẹp trong học đường Trong đề tài này, các

hoạt động của Hội Sinh viên tại các trường

được xem là một trong những hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp, tham gia tích

cực vào con đường giáo dục đạo đức cho

sinh viên

Hội Sinh viên Việt Nam là một tổ chức

chính trị xã hội của sinh viên Việt Nam

Hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và

pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt Nam và Đoàn Thanh

niên Cộng sản Hồ Chí Minh, có vai trò làm

nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh Là thành viên của

Hội Liên hiệp Thanh Niên Việt Nam và

Hội Sinh viên Quốc tế [2] Trong đề tài

này, Hội Sinh viên được xác định là một

trong các tổ chức chính trị trong Nhà

trường, cùng với các tổ chức khác, tổ chức

các hoạt động (chủ yếu hoạt động ngoài

giờ lên lớp), góp phần giáo dục đạo đức,

lối sống cho sinh viên

Phong trào “Sinh viên 5 tốt”, theo hướng

dẫn của Trung ương Hội Sinh viên Việt

Nam, phong trào “Sinh viên 5 tốt” nhằm

xây dựng môi trường, động lực cho sinh viên rèn luyện, phấn đấu toàn diện trên các mặt: đạo đức, học tập, thể lực, tình nguyện, hội nhập; góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học, Học viện, Cao đẳng Là giải pháp thiết thực phát huy vai trò người bạn đồng hành của Hội sinh viên với sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện; tham gia tích cực cuộc vận động xây dựng các giá trị hình mẫu thanh niên Việt Nam do Trung ương Đoàn phát động, với các nhóm nội dung và giải pháp, cụ thể: công tác triển khai, tuyên truyền, giới thiệu phong trào đến hội viên, sinh viên; tổ chức các hoạt động tạo môi trường để sinh viên tham gia phong trào (trong đó, nhóm giải pháp tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện đạo đức tốt; Nhóm giải giáp tạo môi trường cho sinh viên học tập tốt; Nhóm giải pháp tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện thể lực tốt; Nhóm giải pháp tạo môi trường cho sinh viên tình nguyện tốt và nhóm giải pháp tạo môi trường cho sinh viên hội nhập tốt) [3]

Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua phong trào

“Sinh viên 5 tốt” của Hội Sinh viên thành phố, đề tài đã tập trung vào các nội dung như sau:

Nghiên cứu tài liệu: để làm rõ cơ sở lý luận

về công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên của Hội Sinh viên

Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua phong trào

“Sinh viên 5 tốt” bằng hình thức khảo sát bằng bảng hỏi đối với 257 cán bộ Hội và

597 sinh viên tại 03 trường (Đại học Cần Thơ, Đại học Tây Đô và Cao đẳng Kinh tế

- Kỹ thuật Cần Thơ), với các nội dung: nhận thức của Cán bộ Hội Sinh viên và Sinh viên về phong trào “Sinh viên 5 tốt”, thực trạng giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động giáo dục tư tưởng cho sinh viên, giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động giáo dục ý thức học tập cho sinh viên và giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động tình nguyện sinh viên

Trang 38

Phương pháp phỏng vấn sâu: nhằm để thu

thập thêm các thông tin và tìm hiểu nguyên

nhân các vấn đề về thực trạng đạo đức của

sinh viên, công tác giáo dục đạo đức sinh

viên thông qua phong trào “Sinh viên 5

tốt”, nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn

cán bộ Hội và sinh viên tại các trường

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt

động: đề tài sẽ tiến hành tìm hiểu, phân

tích bản kế hoạch, tổng kết hoạt động thực

hiện phong trào “Sinh viên 5 tốt” của Hội

Sinh viên các trường

Phương pháp thống kê xử lý số liệu, sử

dụng phần mềm Microsoft Office Excel

2003 để tổng hợp, phân tích kết quả khảo

“Sinh viên 5 tốt” là “để tìm việc làm dễ dàng hơn” Bên cạnh đó, qua bảng khảo sát, có đến 82,4% ý kiến của sinh viên cho rằng tham gia phong trào “sinh viên 5 tốt”

là để “Phấn đấu toàn diện trên các mặt: đạo đức, học tập, thể lực, tình nguyện, hội nhập”

Thực trạng giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động giáo dục tư tưởng cho Sinh viên

Để tìm hiểu về thực trạng công tác giáo dục tư tưởng cho sinh viên thông qua các hoạt động của Hội Sinh viên tổ chức, đề tài

đã khảo sát trên đối tượng cán bộ Hội và sinh viên, kết quả thu được theo bảng 1 như sau:

Bảng 1 Mức độ tham gia các hoạt động giáo dục tư tưởng của Cán bộ Hội và sinh

viên thành phố Cần Thơ

TT Các hoạt

Mức độ Không tham gia Thỉnh thoảng Thường xuyên

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng

Trang 39

Qua bảng 1, có đến 99,6% cán bộ Hội và

99,2% sinh viên “thường xuyên” tham gia

hoạt động “Tuần lễ sinh hoạt chính trị đầu

khóa”, đây là tín hiệu tích cực cho thấy

tính chấp hành rất tốt của sinh viên và Cán

bộ Hội trong hoạt động này Kế đến mức

độ “thỉnh thoảng” tham gia vào các

chương trình, hội diễn, liên hoan văn nghệ

cũng thu hút không kém (lần lượt là 81,3%

và 57,8%) và cuối cùng là tham gia hoạt

động “Hội thi Olympic lý luận chính trị,

chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí

Minh” chiếm tỷ lệ thấp nhất (lần lượt là

56,4% và 39%) Trong khi đó, chúng ta

cũng thấy rằng, có tới 9,7% Cán bộ Hội và

27,3% sinh viên không tham gia Hội thi

Olympic lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác

- Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, đây rõ ràng

là một điều đáng quan tâm Có một nghịch

lý, mặc dù được đánh giá mức độ tham gia

nhiều, nhưng khi đánh giá về mức độ thu

hút thì hoạt động “Tuần lễ sinh hoạt chính

trị đầu khóa cho sinh viên” được cán bộ

Hội và sinh viên cho rằng “không thu hút”

lần lượt chiếm 78,2% và 68% Kết quả này cho thấy, việc sinh hoạt đầu khóa không mấy “hấp dẫn” đối với sinh viên Trong khi đó, hoạt động “Chương trình, hội diễn, liên hoan văn nghệ” lại được cán bộ Hội

và sinh viên đánh giá “Rất thu hút” chiếm

tỷ lệ cao nhất, lần lượt 72,8% và 69,3% Điều này cũng dễ hiểu, vì sinh viên là lứa tuổi thanh niên, nhạy bén thích cái mới, dễ hòa mình vào các hoạt động cộng đồng, tập thể, do đó các Chương trình hội diễn, liên hoan văn nghệ nhằm tạo sân chơi lành mạnh, là nơi giao lưu, học hỏi, góp phần cho phong trào Văn hóa-Văn nghệ trong học sinh, sinh viên ngày càng phát triển nên dễ thu hút sinh viên

Thực trạng giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động giáo dục ý thức học tập cho sinh viên

Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề ý thức học tập của sinh viên trong việc tham gia sinh hoạt vào các CLB, đề tài đã tiến hành khảo sát cán bộ Hội và sinh viên, kết quả được trình bày trong bảng 2 như sau:

Bảng 2 Mức độ cán bộ Hội và sinh viên thành phố Cần Thơ tham gia các hoạt động

nâng cao ý thức học tập

Mức độ Không

tham gia

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Số lượng

Tỷ

lệ

Số lượng

Tỷ

lệ

Số lượng

Trang 40

Trong số 257 cán bộ Hội và 597 sinh viên

được khảo sát, cho rằng thường xuyên

tham gia vào các CLB học thuật (lần lượt

74,7% và 54,9%), bên cạnh đó, sự tham

gia của đối tượng được khảo sát vào “các

diễn đàn trao đổi phương pháp học tập” ở

mức độ “thỉnh thoảng” chiếm tỷ lệ khá cao

(61,1% cán bộ Hội và 53,3% sinh viên)

Trong khi đó, tỷ lệ cán bộ Hội và sinh viên

“thỉnh thoảng” tham gia vào hoạt động

“chia sẻ đồ dùng học tập” và “các nhóm

học phụ đạo, nhóm sinh viên tự học” lại

chiếm tỷ lệ rất cao Trao đổi với về vấn đề

này Chủ tịch Hội Sinh viên của một trường

Đại học chia sẻ “Với cơ chế linh hoạt, dựa

trên sự lựa chọn chủ động của sinh viên là

phù hợp Hội Sinh viên trường phát triển

những hình thức hoạt động đa dạng như tổ

chức, hướng dẫn sinh hoạt thông qua các

CLB ngành học, CLB kỹ năng học tập,

CLB giúp nhau cùng tiến, CLB chia sẻ tài

liệu học,…trong đó Chủ nhiệm một số

CLB do Ban Chủ nhiệm Khoa giao cho

một giảng viên nào đó phụ trách Bên cạnh

đó, các CLB này cũng tổ chức các diễn đàn

trao đổi về kiến thức chuyên môn cho sinh

viên, ví dụ: diễn đàn sinh viên với thủy

sản, diễn đàn trao đổi phương pháp để học

tốt ngoại ngữ, diễn đàn “Bác sỹ máy tính”

do CLB Tin học tổ chức,…đã thu hút rất

nhiều sinh viên tham gia Từ những hoạt

động như thế, phần nào đó sẽ thúc đẩy cho

sinh viên say mê và có ý thức tự giác học

tập”, cùng nhận định về vấn đề này, Hội

Sinh viên thành phố đánh giá “Hiện nay,

mô hình hoạt động theo hình thức CLB đội

nhóm sinh viên đã đang tồn tại ở hầu hết

các trường Đại học, Cao đẳng trên thành

phố Với các hoạt động đa dạng và phong

phú tùy theo mỗi trường và tính chất của

từng CLB Tham gia vào những CLB này,

các bạn sinh viên sẽ được học hỏi, giao lưu, trao đổi rất nhiều về chuyên ngành của mình học” Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với nhóm tổ chức các hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử kết hợp với nhóm các phương pháp kích thích tính tích cực hoạt động và điều chỉnh hành vi, Hội Sinh viên các trường đã chỉ đạo các CLB trực thuộc tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng với các loại hình CLB học thuật, diễn đàn trao đổi phương pháp học tập tại các trường đã thu hút phần lớn sinh viên tham gia, từ đó góp phần giáo dục đức tính cần cù siêng năng, tự giác trong học tập cho sinh viên

Thực trạng giáo dục đạo đức thông qua nhóm hoạt động tình nguyện cho sinh viên

Theo đánh giá của Hội Sinh viên thành phố, trong những năm qua Hội Sinh viên

đã tổ chức nhiều hoạt động tình nguyện vì cộng đồng để sinh viên tham gia như: Chiến dịch sinh viên tình nguyện hè, hoạt động “Ngày Chủ nhật xanh”; hiến máu tình nguyện; thăm Mẹ Việt Nam anh hùng, các di tích lịch sử; các hoạt động quyên góp, ủng hộ đồng bào lũ lụt, thiên tai; các hoạt động thăm trại trẻ mồ côi, người già neo đơn, trẻ em nhiễm chất độc Đioxin, trẻ

em cơ nhỡ đường phố,… qua đó, đã góp phần xây dựng, bồi dưỡng, hình thành những giá trị giá trị sống, giá trị văn hóa tốt đẹp trong học đường [1] Bằng nhiều hình thức khác nhau các hoạt động tình nguyện gần như đã thu hút đông đảo các bạn sinh viên tham gia, cụ thể qua bảng 5, chúng ta cũng thấy rằng đa phần cán bộ Hội và sinh viên đều tham gia đầy đủ 04 nhóm tình nguyện mà người nghiên cứu đưa ra

Bảng 3 Mức độ tham gia các hoạt động tình nguyện của cán bộ Hội và sinh viên

Mức độ Không

tham gia

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Số lượng

Tỷ

lệ

Số lượng

Tỷ

lệ

Số lượng

Tỷ

lệ

Ngày đăng: 10/03/2022, 09:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hàm lượng polyphenol tổng số - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 1. Hàm lượng polyphenol tổng số (Trang 5)
Hình 3. Hàm lượng thiosulfinate - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 3. Hàm lượng thiosulfinate (Trang 6)
Hình 2. Hàm lượng flavonoid tổng số - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 2. Hàm lượng flavonoid tổng số (Trang 6)
Hình 4. Hoạt tính chống oxy hóa (%) - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 4. Hoạt tính chống oxy hóa (%) (Trang 6)
Bảng 1. Cách thức sử dụng con dấu ở một số quốc gia trên thế giới 20 - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Bảng 1. Cách thức sử dụng con dấu ở một số quốc gia trên thế giới 20 (Trang 26)
Hình 1. Sơ đồ bố trí thiết bị mô hình xử lý nước ứng dụng quá trình màng CMF và các - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 1. Sơ đồ bố trí thiết bị mô hình xử lý nước ứng dụng quá trình màng CMF và các (Trang 32)
Hình 2. Độ màu (a) và độ màu trung bình - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 2. Độ màu (a) và độ màu trung bình (Trang 33)
Hình 3. Độ đục (a)và độ đục trung bình - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 3. Độ đục (a)và độ đục trung bình (Trang 33)
Hình 4. Hàm lượng sắt (a) và hàm lượng - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 4. Hàm lượng sắt (a) và hàm lượng (Trang 33)
Hình 6. Hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 6. Hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm (Trang 34)
Hình 5. COD (a) và COD trung bình (b) - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình 5. COD (a) và COD trung bình (b) (Trang 34)
Hình màng CMF - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Hình m àng CMF (Trang 34)
Bảng 1. Mức độ tham gia các hoạt động giáo dục tư tưởng của Cán bộ Hội và sinh - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Bảng 1. Mức độ tham gia các hoạt động giáo dục tư tưởng của Cán bộ Hội và sinh (Trang 38)
Bảng 3. Mức độ tham gia các hoạt động tình nguyện của cán bộ Hội và sinh viên - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Bảng 3. Mức độ tham gia các hoạt động tình nguyện của cán bộ Hội và sinh viên (Trang 40)
Bảng số liệu 8, hoạt  động hiến máu tình - Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (2) - 2017
Bảng s ố liệu 8, hoạt động hiến máu tình (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w