1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở tỉnh Hà Tĩnh và một số giải pháp

15 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 29,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở tỉnh Hà Tĩnh...3 1.1 Những kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

B NỘI DUNG 3

1 Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở tỉnh Hà Tĩnh 3

1.1 Những kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 3

1.2 Những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 4

1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp 6

2 Những kiến nghị và giải pháp giảm ô nhiễm môi trường nước, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp 10

C KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới và phát triển ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xem mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một trong những mục tiêu được quan tâm hàng đầu Hiện nay chúng ta đã và đang phát triển nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm phát huy tiềm năng kinh tế của từng địa phương, đồng thời tạo ra một lượng lớn nhu cầu việc làm cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà các ngành công nghiệp mang lại thì nước ta đang phải đối diện với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước do chất thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất thải ra không qua xử lý gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của người dân xung quanh Công tác quản lý môi trường ở các cơ quan chức năng nhiều địa phương còn nhiều hạn chế nên các doanh nghiệp vi phạm hơn nữa gây ô nhiễm đến mức báo động Đó là lý do tôi chọn đề tài

“Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp

ở tỉnh Hà Tĩnh và một số giải pháp”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Qua đó, đưa

ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng ô nhiễm, bảo vệ môi trường sống và góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở tỉnh Hà Tĩnh

Môi trường và bảo vệ môi trường từ lâu đã trở thành một vấn đề quan

trọng và cấp bách của toàn cầu, mà một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu hiện nay là môi trường sống của con người Nước là thành phần môi trường gắn với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như sự sống của hành tinh Hoạt động của con người có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, lượng nước đang dần bị cạn kiệt và ô nhiễm mà nguyên nhân chính là do hoạt động sản, xuất kinh doanh có đặc thù là sử dụng nguồn nước tập trung với lượng nước lớn dẫn đến suy thoái cạn kiệt nguồn nước ở những khu vực nhất định Đặc biệt, hoạt động sản xuất ở các khu công nghiệp thải ra một lượng lớn nước thải và các chất thải khác Lượng nước thải và chất thải này thường chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, được thải trực tiếp và các nguồn nước mặt, hoặc ngấm qua đất tới các mạch nước ngầm là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước Ô nhiễm nguồn nước trong các KCN ở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang ngày càng trở nên nghiêm trọng Điều này dẫn đến nhiều hệ qủa đối với cuộc sống của con người ở nơi đây Hàng năm, Sở Tài nguyện và Mội trường tỉnh Hà Tĩnh cùng với Ban quản lý các KCN đã tiến hành kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN chấp hành nghiêm túc Luật Bảo vệ môi trường

1.1 Những kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh.

Việc áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường ở các KCN trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Tất cả các doanh nghiệp,

dự án trong KCN đều thực hiện quy định của pháp luật về lập báo cáo ĐTM

và kế hoạch bảo vệ môi trường UBND tỉnh, Sở Tài Nguyên và Môi trường,

Trang 4

Ban Quản lý KKT Vũng Áng và các KCN tỉnh Hà Tĩnh, các chủ thể được ủy quyền đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm thẩm định, phê duyệt kịp thời, giám sát thường xuyên nên các công trình xử

lý nước thải ở KKT Vũng Áng và các KCN trên địa bàn tỉnh Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tích cực đầu tư sản xuất, đổi mới trang thiết

bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm từng bước đầu tư hệ thống xử lý

ô nhiễm môi trường, cố gắng xây dựng trạm xử lý nước thải cục bộ nước thải Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở các khu công nghiệp cũng được đẩy mạnh, đã tổ chức nhiều cuộc thanh tra đem lại hiệu quả rõ rệt Thông qua việc thanh tra, kiểm tra đã yêu cầu các cơ sở phải thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường nước, xúc tiến xây dựng hệ thống xử lý nước thải Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã được quan tâm chỉ đạo kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhìn chung trong những năm gần đây, công tác bảo vệ môi trường ngày càng được coi trọng, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đều thống nhất quan điểm chỉ đạo không đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế Quá trình thẩm định chủ trương đầu tư các dự án luôn coi trọng đến phương án bảo vệ môi trường được xây dựng trong Dự án Các dự án lớn đặc biệt là dự án Formosa được giám sát chặt chẽ, các cơ sở có quy mô xả thải lớn đã hoàn thành việc kết nối

hệ thống quan trắc tự động, liên tục và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường để kiểm soát, giám sát. 

1.2 Những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh.

Việc áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở các khu công nghiệp

đã được triển khai thực hiện và đạt được kết quả khả quan tuy nhiên vẫn còn

Trang 5

nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện do những nguyên nhân cả chủ quan

và khách quan việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường 2014:

Các KCN, KKT, cụm công nghiệp, hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; hầu hết các đô thị chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước mưa còn chung với nước thải sinh hoạt (mới chỉ có thị xã Hồng Lĩnh đầu tư hệ thống thu gom, hồ điều hòa để xử lý nước thải đô thị)

 Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa ưu tiên đầu tư cho công tác bảo

vệ môi trường hoặc có đầu tư công trình bảo vệ môi trường nhưng không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình, hoạt động mang tính chất đối phó; vẫn còn nhiều đơn vị chưa thực hiện chế độ quan trắc môi trường định kỳ hoặc có quan trắc nhưng chậm gửi hoặc không gửi kết quả cho

cơ quan quản lý nhà nước theo quy định Tỷ lệ các doanh nghiệp trong các KCN có hệ thống xử lý nước thải sơ bộ đạt tiêu chuẩn môi trường có tỷ lệ rất thấp, hầu hết nước thải của doanh nghiệp được thải trực tiếp ra môi trường,

mà đa số các khu công nghiệp này đều nằm gần khu dân cư đô thị nên nước thải đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân Qua khảo sát

sơ bộ của Sở tài nguyên và môi trường thì các khu công nghiệp, nhiều nhà máy đã đi vào hoạt động song nước thải vẫn chưa được thu gom triệt để, hệ thống xử lý nước thải đã được thiết kế, phê duyệt nhưng chưa được xây dựng hoặc đã được các doanh nghiệp xử lý nước thải sơ bộ trước khi thải vào hệ thống nước thải của KCN

Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở một số địa phương, một

số lĩnh vực còn yếu; Hồ sơ kế hoạch bảo vệ môi trường nhất là hồ sơ môi trường cấp huyện từ các năm qua chất lượng không cao gây khó khăn cho công tác kiểm tra, giám sát; Số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh được xác

Trang 6

nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường còn ít (số đơn vị được xác nhận hoàn thành là 19 đơn vị trên toàn tỉnh; số đơn vị được kiểm tra vận hành thử nghiệm năm 2020 là 05 đơn vị) Việc cưỡng chế lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và tuân thủ quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa nghiêm Vì vậy mà mặc dù trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ đầu tư có trình bày các phương án hạn chế tác động (ví dụ:

Hệ thống xử lý rác thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại,…) nhưng khi xây dựng và hoạt động, nhiều chủ dự án sợ đầu tư tốn kém nên không chịu thực hiện đúng hoặc hoàn toàn không thực hiện các phương án hạn chế ô nhiễm được trình bày trong báo cáo đánh giá tác động môi trường

đã được xét duyệt

Mặc dù đã triển khai nội dung luật bảo vệ môi trường qua nhiều hình thức song không tổ chức đánh giá xem nội dung thông tin, chất lượng thông tin đến được với các doanh nghiệp như thế nào Việc thông tin đến được với các doanh nghiệp hầu như chỉ một chiều Hơn nữa, việc đôn đốc, nhắc nhở chưa thật sát sao khiến cho việc chấp hành luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường nước, cũng như ý thức được trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước một cách nghiêm túc, dẫn đến tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm

1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp.

Thứ nhất, do ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật chưa cao, tình trạng thiếu kiến thức về lĩnh vực môi trường còn khá phổ biến nên nhiều chủ thể còn chưa thể xác định được việc thực hiện pháp luật môi trường là quyền và nghĩa vụ của mình Do đó giữa nhận thức và hành động chấp nhận pháp luật

về bảo vệ tài nguyên chưa có sự đồng bộ Hầu như các doanh nghiệp, cán bộ

Trang 7

quản lý đều nhận thức được rõ sự tác hại của ô nhiễm môi trường nói chung

và ô nhiễm môi trường nước nói riêng nhưng trong thực tế thì hành động còn tùy tiện theo ý chí chủ quan của mình, chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật

Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường có thực hiện nhưng chưa sâu rộng, hiệu quả chưa cao, nhiều nội dung chậm đi vào cuộc sống; Ý thức bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp còn hạn chế, chưa chấp hành các quy định về môi trường nước; Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường nước của nhiều doanh nghiệp chưa thực sự nghiêm túc

Thứ ba, Pháp luật bảo vệ môi trường còn bất cập, thiếu thống nhất trong hoạt động quản lý xả thải vào môi trường nước Từ góc độ quản lý có thể thấy, đối với một nguồn xả thải có tiềm năng gây ô nhiễm cho nguồn nước chịu sự điều chỉnh và quản trị của các cơ quan quản lý khác nhau, theo các luật khác nhau sẽ khó kiểm soát được toàn diện và triệt để Ví dụ như việc cấp phép xả thải được phân ra theo nguồn nước trực tiếp nhận thải và nguồn phục

vụ tưới tiêu Giấy phép xả thải vào hệ thống nước tự nhiên do ngành tài nguyên và môi trường cấp (Điều 73 Luật Tài nguyên nước năm 2012), trong khi giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi, trừ xả nước thải với quy

mô nhỏ và không chứa chất độc hại, chất phóng xạ lại do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND cấp tỉnh thực hiện (Điều 44 Luật Thủy lợi năm 2017)

Điều 4 Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải cũng quy định quy chuẩn kỹ thuật về nước thải do các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành Cụ thể, nước thải từ các hộ thoát nước, KCN xả vào hệ thống thoát nước đô thị phải bảo đảm các quy chuẩn kỹ thuật về nước thải do Bộ xây

Trang 8

dựng ban hành; nước thải xử lý phi tập trung, căn cứ vào khả năng tiếp nhận

và mục đích sử dụng của nguồn tiếp nhận do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Còn nước thải từ hệ thống thoát nước đô thị, KCN, khu dân cư nông thôn tập trung xả vào hệ thống công trình thủy lợi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Ô nhiễm từ hệ thống thủy lợi kênh mương nội đồng hoàn toàn dễ dàng lưu chuyển vào hệ thống sông ngòi tự nhiên

Bên cạnh đó, cơ quan cấp phép xả thải khác nhau, nhưng về kiểm soát, giám sát ô nhiễm nước chủ yếu lại là trách nhiệm của ngành tài nguyên và môi trường Điều 101 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 cũng chỉ quy định chung chung rằng “Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô xả thải lớn

và có nguy cơ tác hại đến môi trường phải tổ chức quan trắc môi trường nước thải tự động và chuyển số liệu cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường”

Trong Luật Tài nguyên nước 2012, Luật Bảo vệ môi trường 2014, đều có các quy định chung về việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm môi trường nước thông qua hoạt động quan trắc, cấp phép phát thải, thanh tra, kiểm tra, Nhưng nhiều vụ việc ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng xảy

ra thời gian qua như vụ Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa xả thải ra biển (năm 2016) gây cá chết hàng loạt và ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng cho thấy công tác phát hiện và ngăn chặn ô nhiễm còn nhiều thiếu sót và lỗ hổng từ phía pháp luật Để phát hiện ô nhiễm cần có các số liệu quan trắc môi trường để đối chiều Nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa

có hệ thống thống kê đầy đủ về chất lượng nước nê chưa có cơ sở để khẳng định chất lượng nước Các số liệu quan trắc hiện nay cũng chỉ mang tính cục

bộ, thời vụ

Trang 9

Theo Điều 37 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu quy định các KCN phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường Hệ thống xử lý nước thải phải bảo đảm đủ công suất xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh của các cơ sở trong KCN và phải được xây dựng, vận hành trước khi các cơ sở trong KCN đi vào hoạt động Các KCN gần nhau có thể kết hợp sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải tập trung Thế nhưng, trạm

xử lý nước thải tập trung chỉ là đơn vị cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, mối quan hệ giữa các trạm xử nước thải tập trung với doanh nghiệp hoạt động trong KCN chỉ đơn thuần là cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp không bắt buộc dùng Còn làm thế nào để bắt buộc doanh nghiệp đấu nối về công tác xử lý nước thải thì không phải thuộc thẩm quyền của trạm mà thuộc các cơ quan chức năng và quy định về chế tài xử lý các doanh nghiệp trong KCN không

sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung này hoàn toàn không có

Thứ tư, đối với các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường nói chung, hệ thống pháp luật nước ta quy định 2 mức xử lý, bao gồm xử phạt hành chính

và xử lý hình sự Tuy nhiên, quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường nước còn hạn chế, nằm rải rác trong các văn bản luật khác nhau Luật bảo vệ môi trường 2014 có một chương về bồi thường thiệt hại nhưng chưa có quy định cụ thể xác định thiệt hại về môi trường nước, phục hồi hiện trạng môi trường nước Nghị định số 03/2015/NĐ-CP của Chính phủ về xác định thiệt hại môi trường cũng chưa có quy định về xác định thiệt hại môi trường nước nên khó áp dụng trên thực tiễn Điều 160 Luật bảo vệ môi trường

2014 quy định về xử lý vi phạm có dẫn chiếu tới pháp luật liên quan nhưng bản thân các chế tài xử lý khác được quy định trong các văn bản luật cũng còn nhiều bất cập Theo Điều 235 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi tội gây ô nhiễm môi trường có điểm mới là chuyển sang cấu thành hình thức, tức là chỉ cần có

Trang 10

hành vi xả nước thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự Mặc dù vậy, theo quy định thì hành vi xả thải phải đạt một tải lượng nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng việc xác định tải lượng này với môi trường nước là không hề dễ dàng Về trách nhiệm kỷ luật với cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường cũng chưa được quy định rõ ràng và thực tiễn áp dụng chưa thật khách quan, công khai, minh bạch Về xử phạt hành chính với hành vi làm ô nhiễm môi trường nước ngày càng hoàn thiện hơn nhưng mức xử phạt với một hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân làm ô nhiễm môi trường mức phạt tiền tối đa đối với một hành

vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức (Điều 4 Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường) Thực tiễn cho thấy cũng chưa chủ nguồn thải nào phải chịu mức phạt cao nhất này nên chưa đảm bảo tính răn đe, thậm chí có trường hợp cá nhân, pháp nhân chấp nhận nộp phạt để vi phạm

2 Những kiến nghị và giải pháp giảm ô nhiễm môi trường nước, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp

Một là, sửa đổi Luật bảo vệ môi trường 2014 và các quy định liên quan đến

xử lý vi phạm trong quá trình xả thải nước thải Phát huy đồng bộ sức mạnh của các biện pháp hành chính, hình sự, dân sự, kinh tế trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xả thải vướt mức tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt

là các biện pháp kinh tế để bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và yêu cầu bảo vệ nguồn nước và bảo vệ môi trường nói chung Bên cạnh đó, việc ban hành các văn bản pháp luật cần có sự đồng bộ, ổn định, có tính điều chỉnh

và răn đe cao hơn nữa, đặc biệt là các quy định về thuế, phí môi trường và các

Ngày đăng: 10/03/2022, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w