Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ: Số 3 (1) - 2017 trình bày các nội dung chính sau: Bước đầu nghiên cứu phân giải màu Congo Red bằng các chủng vi sinh được lựa chọn và phân lập từ nước thải dệt nhuộm; Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Mê Công; Sự phát triển của Bèo Tấm, Lemna minor L., phơi nhiễm với Đồng và Crôm trong điều kiện phòng thí nghiệm;...
Trang 2Lê Thị Ánh Hồng Trần Thành
Bước đầu nghiên cứu phân giải màu Congo Red bằng các chủng vi sinh được lựa chọn và phân lập từ nước thải dệt nhuộm
1
Đoàn Mỹ Duyên Nguyễn Thị Hạnh Huỳnh Thị Diễm
Các yếu tố tác động đến việc kết hôn của nữ công nhân nhập
cư
9
Lèo Thị Kính Nguyễn Thị Trinh
Đỗ Thị Thúy Lưu Thị Nga Thân Thị Hương
Công tác xã hội với thanh thiếu niên lạm dụng Facebook 14
Trương Thảo Sâm Đánh giá hiện trạng tài nguyên
nước lưu vực sông Mê Công 20
Đỗ Quang Lĩnh Phạm Thị Thảo Nhi Lưu Thị Thúy Hằng
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy thượng
lưu lưu vực sông Đồng Nai
27
Đàm Thị Huệ Phan Thùy Linh
Vũ Thị Mai Mai Kim Ngân
Hoạt động ngoại giao nhân dân trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam hiện nay
37
Ngô Ánh Hồng Hoàng Trâm Anh Nguyễn Như Đạt
Lê Thị Uyên Linh Ngô Bình Dương
Nâng cao nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới 42
Vũ Nguyên Trịnh Hoàng Phúc
Hồ Diễm Châu Đặng Văn Sơn Đào Thanh Sơn
Sự phát triển của Bèo Tấm,
Lemna minor L., phơi nhiễm
với Đồng và Crôm trong điều kiện phòng thí nghiệm
47
Huỳnh Văn Sơn Nguyễn Lê Bảo Hoàng Nguyễn Phan Nhật Lam Giang Thiên Vũ Vòng Và Kíu Đàng Năng Hòa
Thử nghiệm một số biện pháp nâng đỡ cảm xúc cho trẻ bị lạm dụng tình dục
Thực trạng và giải pháp phát triển thực phẩm HALAL tại TP.HCM trong điều kiện hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
54
59
Nguyễn Trọng Quân Xây dựng đường cong SDF
cho hạn hán ở lưu vực sông Srepok bằng phương pháp Copula
Trang 3BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN GIẢI MÀU CONGO RED BẰNG CÁC
CHỦNG VI SINH ĐƯỢC LỰA CHỌN VÀ PHÂN LẬP
TỪ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM Nguyễn Hồ Cát Dung 1 , Nguyễn Xuân Bình 1 , Phan Thị Mỹ Hạnh 1 ,
Lê Thị Ánh Hồng 2 , Trần Thành 1*
1 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
2 Viện Sinh học Nhiệt đới – Viện Hàn lâm và Khoa học Việt Nam
*Tác giả liên lạc: tthanh@ntt.edu.vn
(Ngày nhận bài: 11/04/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật từ nước thải dệt nhuộm có khả năng phân giải màu Congo Red Các chủng vi sinh được nuôi cấy và thử nghiệm hoạt tính trên môi trường PDA, độ màu suy giảm được đánh giá bằng cách so màu UV-VIS trên thang màu nồng độ Congo Red và Pt-Co, các thí nghiệm về đánh giá hình thái và định danh cũng được triển khai Kết quả bước đầu cho thấy từ nguồn nước thải dệt nhuộm đầu ra đã phân lập được 8 chủng vi sinh vật có khả năng phân giải màu và có đường kính phân giải từ 17 – 47mm Thử nghiệm định lượng trong môi trường tăng sinh có bổ sung Congo Red nồng độ 1 mg/L ban đầu cho thấy sau bảy ngày các chủng đã phân giải làm giảm độ màu đi khoảng 4 lần so với nồng độ ban đầu
Từ khóa: Congo Red, vi sinh vật khử màu
INITIAL STUDY ON CONGO RED DECOLORATION BY
MICROORGANISM STRAINS ISOLATED FROM DYE TEXTILE
WASTEWATER Nguyen Ho Cat Dung 1 , Nguyen Xuan Binh 1 , Phan Thi My Hanh 1 ,
Le Thi Anh Hong 2 , Tran Thanh 1*
1 NTT Hi-Tech Institute - Nguyen Tat Thanh University
2 Institute of Tropical Biology, Vietnam Academy of Science and Technology
*Corresponding Author: tthanh@ntt.edu.vn
ABSTRACT
This research aims to isolate and select microbial strains from dyeing textile dyes capable of degrading the color of Congo Red Microbial strains cultured and tested for activity in PDA medium, degradation of colors were evaluated by UV-VIS on Congo Red and Pt-Co concentration scale, morphological tests and identifiers are also deployed Initial results showed that from the source of textile wastewater isolated 8 species of microorganisms were capable of color decolorization with resolution of 17-47mm diameter Quantitative testing in PDA medium with initial Congo Red concentration of 1 mg/L showed that after seven days, the strains resolved reduced the color to about 4 times that of the original concentration
Keywords: Congo Red, biodecolourization
TỔNG QUAN
Thuốc nhuộm tổng hợp được sử dụng
rộng rãi trong ngành dệt, giấy, thực phẩm,
mỹ phẩm và dược phẩm Bên cạnh những
đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước thì các thuốc nhuộm tổng hợp cũng mang lại không ít nhũng tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái
Trang 4Sự thất thoát thuốc nhuộm trong quá trình
nhuộm đã dẫn đến 10-15% chất nhuộm
không sử dụng vào trực tiếp nước thải
(Spadarry, Isebelle, & Renganathan,
1994) Độ màu có trong nước thải cho
thấy cảm quan rõ ràng về nước bị ô
nhiễm và có thể trực tiếp làm hỏng nguồn
nước tiếp nhận Trong số đó, thuốc
nhuộm azo đặc biệt được quan tâm khi đi
vào nguồn nước tự nhiên sẽ dẫn đến sự
chuyển đổi nhóm azo sang các amin thơm
tạo thành việc tích tụ sinh học có thể gây
ra các tác động độc hại lên sinh vật thủy
sinh và thậm chí gây ra các tác động gây
ung thư và gây biến đổi gen trên người,
điển hình như Congo Red là một loại
thuốc nhuộm diazo dựa trên benziđin
([1,1'-biphenyl]-1,4' diamin) được biết
đến là chất gây ung thư (Zollinger, 2003)
Các sinh vật trong nước khi phơi nhiễm
lâu dài những thuốc nhuộm này có thể
gây ra những ảnh hưởng lâu dài như tổn
hại đến di truyền và khả năng sinh sản (JS
& HS, 2007)
Hiện nay, xử nước nước dệt nhuộm đặc
biệt là màu nhuộm thường bằng các quá
trình xử lý vật lý hoặc hóa học để đạt
được sự khử màu tốt hơn, nhưng các
phương pháp này nói chung là tốn kém,
kém hiệu quả và có hạn chế là tạo ra
nhiều các chất thải nguy hại (bùn hóa
phẩm) khó phân huỷ Do đó để thay thế
và khắc phục các nhược điểm của quá
trình hóa lý, việc xử lý bằng phương pháp
sinh học đã ngày càng nhận được sự quan
tâm do hiệu quả về chi phí của chúng, khả
năng tạo ra ít bùn hơn và thân thiện môi
trường hơn (Banat, Nigam, Singh, &
Marchant, 1996) Do đó, để phát triển
một quy trình phương pháp sinh học thực
tế để xử lý nước thải có chứa chất nhuộm
có ý nghĩa rất quan trọng
Hiệu quả của việc khử màu bằng vi sinh
vật phụ thuộc vào khả năng thích ứng với
điều kiện môi trường và khả năng hoạt
động của từng loại vi sinh được chọn
Trong thập kỷ qua, nhiều vi sinh vật có
khả năng phân hủy chất nhuộm azo đã
được nghiên cứu, bao gồm vi khuẩn (Sani
& Banerjee, 1999), nấm (Swamy & Ramsay, 1999), xạ khuẩn (Zhou & Zimmermann, 1993) và tảo (Dilek, Taplamacioglu, & Tarlan, 1999) Hầu hết các thuốc nhuộm azo đều được giảm xuống bằng phương pháp kị khí với các amin tương ứng thông qua sự phân chia liên kết azo bằng azoreductase vi khuẩn nhưng chúng rất khó phân hủy sinh học hiếu khí (Banat et al., 1996) Do đó, có rất nhiều nghiên cứu về xử lý nước thải dệt nhuộm bằng phương pháp sinh học nhiều năm gần đây như Ruijing Li, Xun-
an Ning và cộng sự (2015) đã nghiên cứu
sự phai màu và phân hủy sinh học của
màu Congo Red bởi Acinetobacter
baumannii YNWH 226 với mục đích làm
giảm Congo Red (CR) trong điều kiện hiếu khí (Li et al., 2015), Mohamed S.Mahmoud và cộng sự (2016) đã nghiên cứu về xử lý sinh học thuốc nhuộm Red Azo trong nước thải dệt nhuộm bằng
Aspergilus Niger strain (S.Mahmoud, K.Mostafa, A.Mohamed, A.Sobhy, & Nasr, 2016), M-X Wang và cộng sự (2014) đã
nghiên cứu về một phương pháp xử lý sinh học được thực hiện bằng cách sử dụng có nguồn gốc từ vi sinh vật -
janthinellum Penicillium căng P1 (Wang, Zhang, & Yao, 2014), Hala Yassin El-
Kassas, Laila Abdelfattah Sallam (2014)
đã nghiên cứu xử lý sinh học nước thải
dệt nhuộm bằng Chlorella Vulgaris
(El-Kassas & H.Y., 2014),… Nhìn chung, quá
trình thử nghiệm xử lý sinh học các màu nhuộm đang được nghiên cứu phát triển mạnh mẽ ở các nước để tìm ra phương pháp xử lý thân thiện môi trường cho màu nói riêng và nước thải dệt nhuộm, in ấn nói chung, tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế
Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi báo cáo về những bước đầu trong quá trình phân lập và thử nghiệm khả năng phân giải màu Congo Red với mục đích tìm ra các chủng vi sinh thích hợp để thử
Trang 5nghiệm trong phòng thí nghiệm phương
pháp xử lý bằng sinh học từ đó làm tiền
đề để mở rộng và mở ra lối đi cho
phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm
bằng các chế phẩm sinh học an toàn, thân
thiện môi trường và kinh tế hơn cho
ngành dệt nhuộm ở Việt Nam
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nguồn vi sinh và môi trường
Nguồn vi sinh vật để phân lập từ nước
thải dệt nhuộm của Công ty TNHH Dệt
Nhuộm Hưng Phát Đạt - Khu Công
Nghiệp Xuyên Á (Long An) Mẫu nước
thải được lấy về trong can nhựa 2L và
bảo quản lạnh 4oC
Môi trường sử dụng phân lập là PDA
(Potato Dextrose Agar) được chuẩn bị và
Các chủng vi sinh được phân lập bằng
phương pháp pha loãng nối tiếp và cấy
trên đĩa thạch PDA Các khuẩn lạc xuất
hiện trên đĩa thạch có tạo vòng phân giải
hoặc biến đổi màu đỏ (Congo red) ban
đầu sẽ được ghi nhận về đặc điểm hình
thái và địa hình như hình dạng, bề mặt, độ
cao, sắc tố, cạnh, độ mờ đục (vi khuẩn -
xạ khuẩn), màu sắc bào tử và phân bào,
phân bố bào tử (nấm)
Quá trình đánh giá khả năng phân giải
màu của các chủng
- Xác định khả năng phân giải màu bằng
phương pháp định tính: cấy ziczac
Nguyên tắc chung: Cấy ziczac các khuẩn
lạc từ ống giống lên đĩa petri để test hoạt
tính sơ bộ và sàng lọc lựa chọn những
chủng có khả năng phân giải cao nhất lần
1 với số lần lặp lại thí nghiệm là 3
đĩa/mẫu Tiêu chí để xác định hoạt lực
mạnh hay yếu của enzym dựa vào đường
kính phân giải sơ bộ D (mm)
- Xác định hoạt tính phân giải màu bằng
phương pháp định lượng màu biểu kiến:
Nguyên tắc chung: Các ống nghiệm môi trường tăng sinh loãng 10 ml có bổ sung 1ml màu nhuộm Congo Red (50mg/L) Các chủng được nuôi lắc tăng sinh và được sử dụng ở nồng độ 107 (bằng pp trải đĩa thạch với vi khuẩn và cấy trên môi trường bán rắn với nấm) mỗi chủng được hút 50 l dịch tăng sinh bổ sung vào ống nghiệm Từ đó sau các khoảng thời gian chu kỳ 1 ngày/lần sẽ đánh giá sự thay đổi màu và đánh giá trên đường chuẩn đơn màu của màu đỏ So màu ở bước sóng =
498 nm (Congo Red)
Ngoài ra, theo tiêu chuẩn xả thải của Việt
Nam về nước thải dệt nhuộm (QCVN 13) quy định về độ màu được tính trên đơn vị
Pt – Co Để thử nghiệm hiệu quả phân giải màu gần thực tế nhất, nghiên cứu cũng đồng thời đánh giá độ màu phân giải dựa vào phương trình đường chuẩn màu
Pt – Co (bước sóng 455nm)
Đo độ hấp thu Abs của mẫu và tính toán nồng độ màu phân giải bằng máy so màu UV-VIS Thermo scientific- Evolution
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả phân lập và sàng lọc chủng
Sau khi phân lập từ nước thải dệt nhuộm, chúng tôi đã thu được 8 chủng vi sinh có khả năng phân giải màu nước thải dệt nhuộm Tất cả 8 chủng vi sinh đó đều là nấm và được kí hiệu từ R1 đến R8 Các chủng đã tìm thấy được trình bày ở bảng
1
Bảng 1 Các chủng vi sinh vật có khả
năng phân giải sinh học nước màu dệt
nhuộm
Trang 6Ký
Ký hiệu Mô tả
bề mặt, rìa mép méo, lan rộng, nhân tròn đỏ
Đánh giá khả năng phân giải màu
Sau phân lập, chúng tôi tiến hành đánh
giá định tính khả năng phân giải màu của
các chủng bằng phương pháp cấy trên
thạch Agar Đánh giá khả năng phân giải màu dựa vào đường kính phân hủy được trình bày tại bảng 2:
Trang 7Bảng 2 Đường kính của các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải màu nước dệt
nhuộm Congo Red
Từ kết quả định tính phân giải màu trên
môi trường thạch tạm cho thấy, đường
kính phân giải các chủng trung bình dao
động từ 17 mm đến 47 mm trong đó
chủng R2 và R6 có khả năng phân giải
thấp nhất với đường kính phân giải là 17
mm và chủng R7 có khả năng phân giải màu tốt nhất là 47 mm
Tiếp theo, chúng tôi tiến hành định lượng các chủng có khả năng phân giải màu nước thải dệt nhuộm Congo Red và kết quả cho được là:
Hình 1 Kết quả phân giải màu bằng phương pháp định lượng màu biểu kiến
Trang 8Dựa trên kết quả phân giải màu bằng
phương pháp định lượng màu biểu kiến
(hình 1), màu đỏ của các nghiệm thức
nhạt dần so với mẫu Control Sau 7 ngày,
có thể nhận thấy độ màu của các chủng
khác biệt hẳn so với Control, đặc biệt chủng R7 cho kết quả màu tốt nhất, màu
đỏ gần như được phân giải hết và còn lại màu xám trong
Hình 2 (A) Đồ thị thể hiện hàm lượng màu tính theo Pt-Co; (B) Đồ thị thể hiện hàm
lượng màu tính theo mg/l Congo Red của các chủng phân giải màu
Kết quả đồ thị (A) cho thấy quá trình
giảm màu của các nghiệm thức, sau 7
ngày thử nghiệm tất cả các chủng đều có
khả năng phân giải màu trong đó chủng
R4 cho kết quả kém nhất (từ R7 4.467
Pt-Co ban đầu xuống còn 2.217 Pt-Pt-Co) và
chủng R1 có khả năng phân giải màu tốt
nhất từ 4.467 Co ban còn gần 1.000
Pt-Co ở ngày thứ 7 (giảm hơn 4 lần)
Kết quả đồ thị (B) cho thấy, sau 7 ngày
thử nghiệm tất cả các chủng đều có khả
năng phân giải màu trong đó chủng R7 có
khả năng phân giải màu tốt nhất từ nồng
độ 1 mg/l ban đầu còn gần 0,3 mg/l ở ngày thứ 7 (giảm hơn 3 lần)
Xem xét hình thái và định danh
Dựa vào kết quả định lượng và định tính cho thấy hiệu quả phân giải màu ở thuốc nhuộm Congo Red ở chủng R7 đạt hiệu quả tốt nhất, chúng tôi tiến hành đánh giá hình thái và định danh chủng Chủng vi sinh vật R7 được nuôi cấy trong đĩa petri
và sau ba ngày, kết quả hình thái và soi bào tử trên kính hiển vi (x100) như sau:
Hình 3 (A) Kết quả hình thái của chủng R7 nuôi cấy trên đĩa pettri; (B) Hình ảnh soi
bào tử chủng R7 trên kính hiển vi
So sánh chuỗi 16S rRNA và 28S rRNA
của vi sinh vật với các ngân hàng dữ liệu
di truyền sử dụng các chương trình BLAST, kết quả cho thấy như sau:
Trang 9Hình 4 Kết quả so sánh dữ liệu di truyền trên BLAST search của chủng R7
Như vậy, dựa vào kết quả giải mã gen và
so sánh với cơ sở dữ liệu thông qua
BLAST search cho thấy chủng R7 có
tương thích cao với chủng vi nấm
Aspergillus niger Chủng nấm này cũng
đã được vài nghiên cứu quan tâm ghi
nhận và đánh giá cao về khả năng phân
giải màu
KẾT LUẬN
Qua quá trình phân lập các vi sinh vật
phân giải màu trong nước thải dệt nhuộm,
nghiên cứu đã thu thập được tổng cộng 8
chủng có khả năng phân giải màu Congo
Red có đường kính phân giải từ 17 mm
đến 47 mm trong đó tốt nhất là chủng R7
(47mm) Thử nghiệm định lượng phân
giải màu sau 7 ngày cho thấy tất cả các
chủng đều có khả năng phân giải màu Congo Red nhưng trong đó chủng R7 có khả năng phân giải màu tốt nhất Tính theo nồng độ màu 1mg/l ban đầu, chủng R7 phân giải còn gần 0,3 mg/l ở ngày thứ
7 (giảm hơn 3 lần) và tính theo độ màu Pt-Co, chủng R7 cũng cho kết quả tốt nhất hạ màu từ 4467 Pt-Co ban còn gần
1000 Pt-Co ở ngày thứ 7 (giảm hơn 4 lần) Qua đánh giá đặc điểm hình thái, phân tích 28S rRNA và tra cứu BLAST search cho thấy chủng R7 tương tự như
Aspergillus niger Mặc dù, nghiên cứu
cần phải trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm và phát triển, nhưng những lợi ích cho nó về môi trường và tiềm năng ứng dụng xử lý sinh học độ màu cho các nước thải là rất hứa hẹn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BANAT, I M., NIGAM, P., SINGH, D., & MARCHANT, R (1996) Microbial
decolorization of textile dye-containing effluents: a review Bioresource
Technology, 58(3), 217 -227 doi:
https://doi.org/10.1016/S0960-8524(96)00113-7
DILEK, F B., TAPLAMACIOGLU, H M., & TARLAN, E (1999) Colour and AOX
removal from pulping effluents by algae Applied Microbiology and
Biotechnology, 52(4), 585 - 591 doi: 10.1007/s002530051564
EL-KASSAS, & H.Y., S (2014) L.A Bioremediation of the textile waste effluent by
Chlorella vulgaris Egyptian Journal of Aquatic Research
JS, B., & HS, F (2007) Aquatic toxicity evaluation of new directdyes to the Daphnia
magna Dyes Pigments, 73, 81–85
LI, R., NING, X.-A., SUN, J., WANG, Y., LIANG, J., LIN, M., & ZHANG, Y (2015) Decolorization and biodegradation of the Congo red by Acinetobacter baumannii YNWH 226 and its polymer production’s flocculation and dewatering
potential Bioresource Technology
S.MAHMOUD, M., K.MOSTAFA, M., A.MOHAMED, S., A.SOBHY, N., & NASR,
M (2016) Bioremediation of red azo dye from aqueous solutions by aspergillus
niger strain isolated from textile wastewater Journal of Environmental Chemical
Engineering
Trang 10SANI, R K., & BANERJEE, U C (1999) Decolorization of triphenylmethane dyes
and textile and dye-stuff effluent by Kurthia sp Enzyme and Microbial
Technology, 24(7), 433 - 437 doi:
http://dx.doi.org/10.1016/S0141-0229(98)00159-8
SPADARRY, J T., ISEBELLE, L., & RENGANATHAN, V (1994) Hydroxyl radical mediated degradation of azo dyes: evidence for benzene generation
Environ Sci Technol, 28(7), 1389-1393 doi: 10.1021/es00056a031
SWAMY, J., & RAMSAY, J A (1999) The evaluation of white rot fungi in the
decolorization of textile dyes Enzyme and Microbial Technology, 24, 130 - 137
WANG, M.-X., ZHANG, Q.-L., & YAO, S.-J (2014) A novel Biosorbent formed of marine-derived Penicillium janthinellum mycelial pellets for removing dyes from
dye-containing wastewater Chemical Engineering Journal
ZHOU, W., & ZIMMERMANN, W (1993) Decolorization of industrial effluents
containing reactive dyes by actinomycetes FEMS Microbiology Letters, 107
(2-3), 157 - 161
ZOLLINGER, H (2003) Color Chemistry: Syntheses, Properties, and Applications of
Organic Dyes and Pigments Switzerland: Wiley-VCH
Trang 11CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC KẾT HÔN CỦA NỮ
CÔNG NHÂN NHẬP CƯ Đoàn Mỹ Duyên*, Nguyễn Thị Hạnh, Huỳnh Thị Diễm
Trường Đại học Văn Hiến
*Tác giả liên lạc: myduyencrv@gmail.com
(Ngày nhận bài: 10/03/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)
TÓM TẮT
Vấn đề kết hôn là vấn đề khó nói đối với nữ công nhân nhập cư và họ đang gặp nhiều trở ngại, khó khăn trong việc đi tìm hạnh phúc cho riêng mình Nghiên cứu chủ yếu phân tích về các yếu tố tác động đến việc kết hôn của nữ công nhân nhập cư Với dung lượng mẫu là 300, bài nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lý kết quả thu thập được Ngoài ra, bài nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn sâu 05 nữ công nhân nhập cư để làm rõ kết quả nghiên cứu Trong phần phân tích có 06 các yếu tố tác động bao gồm: (1) Quan niệm về hôn nhân của nữ công nhân, (2) Thu nhập và việc làm, (3) Thời gian và môi trường làm việc của nữ công nhân, (4) Tỷ lệ nam nữ tại nơi làm việc và khu nhà trọ, (5) Các mối quan hệ xã hội của nữ công nhân, (6) Một số hỗ trợ từ Công đoàn Việc kết hôn của nữ công nhân hiện nay đang gặp nhiều khó khăn
và chịu nhiều sự tác động, thông qua kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu hy vọng số liệu nghiên cứu có thể đưa ra những con số thiết thực về vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư Đồng thời, những khuyến nghị đề ra sẽ góp phần hỗ trợ nhiều hơn về mặt đời sống tinh thần cho nữ công nhân nhập cư
Từ khóa: Kết hôn, công nhân, công nhân nhập cư, quan niệm sống, quan hệ xã hội
FACTORS AFFECTING THE MARRIAGE
OF IMMIGRANT WOMEN WORKERS Doan My Duyen*, Nguyen Thi Hanh, Huynh Thi Diem
Van Hien University
*Corresponding Author: myduyencrv@gmail.com
ABSTRACT
Getting married is a really difficult issue for female migrant workers There are a lot
of obstacles that they are facing to pursue their own happiness This study mainly analysed the factors which impact on marriage of these workers The data comes from total 300 female migrant workers in which SPSS for Windows software is used to process the result In addition, it also conducted five in-depth interviews to clarify the findings There are six impactful elements in the analysis including: (1) The marriage concept of female workers, (2) Income and employment opportunities, (3) Working time and environment, (4) The ratio of men to women in the workplace and boarding house, (5) Social relationships of female workers, (6) Support from Trade Union Getting married of female workers becomes now even harder and is affected by many elements Through this analysis, the research team hopes that those figures could provide the practical numbers of problems associated with getting married of female migrant workers At the same time, the recommendations would contribute more support in terms of their spiritual life
Keywords: Marriage, worker, migrant worker, conception of life, social relationship
Trang 12TỔNG QUAN
Nghiên cứu về công nhân nhập cư tuy đã
có nhiều chủ đề được nghiên cứu nhưng
đi sâu về mảng tình cảm và hôn nhân thì
vẫn còn rất ít Ở đề tài này, chúng tôi
muốn đi sâu vào mặt đời sống tinh thần
của nữ công nhân nhập cư, cụ thể là
những yếu tố tác động đến việc kết hôn
của họ Một công trình của tác giả Phạm
Duy Khánh đã nghiên cứu về chủ đề tình
yêu - quan niệm về hôn nhân của nữ công
nhân mang tên:“Tìm hiểu nhu cầu bạn
khác giới và định hướng hôn nhân của nữ
công nhân nhập cư” - Nghiên cứu tại
Khu công nghiệp Sóng Thần 1, tỉnh Bình
Dương (2003) Công trình này đã cung
cấp một số kết quả sau: Thứ nhất, nữ
công nhân có cái nhìn khá tích cực về tính
chủ động của phụ nữ trong việc tìm kiếm
bạn khác giới Thứ hai, tình yêu vẫn là
động cơ chính để nữ công nhân quyết
định đi đến kết hôn Thứ ba, đa số nữ
công nhân đều mong đợi người chồng
tương lai của mình phải là người chung
thủy, quan tâm đến gia đình và yêu
thương vợ con Thứ tư, tác giả cho rằng
vì hầu hết nữ công nhân đều phải làm
tăng ca và thời gian làm việc liên tục nên
họ có rất ít thời gian nhàn rỗi Thời gian
rảnh ngoài giờ làm việc, nữ công nhân
chủ yếu dành cho việc nghỉ ngơi để tái
tạo sức lao động Ngoài ra, còn có một
khóa luận tốt nghiệp cử nhân xã hội học
của Nguyễn Thị Thu Hồng, nghiên cứu
về “Hạnh phúc của phụ nữ lao động”:
nhận thức và các yếu tố tác động (Nghiên
cứu tại một số quận nội thành TP.HCM)
Đề tài này đã cung cấp một số kết quả
sau: Thứ nhất, yếu tố tác động mạnh nhất
đến hạnh phúc của phụ nữ trong gia đình
là sự hòa thuận trong gia đình, gia đình
nào hòa thuận thì sẽ mang lại niềm vui và
hạnh phúc Thứ hai, giữa sự hòa thuận
trong gia đình và mối quan hệ của phụ nữ
với người khác có tương quan với nhau,
gia đình càng hòa thuận thì người phụ nữ
càng quan hệ tốt với xã hội Thứ ba, qua
kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ khá
hạnh phúc trong cuộc sống Thứ tư, các yếu tố tác động đến hạnh phúc của phụ nữ gồm các yếu tố bên ngoài như: gia đình, nâng đỡ xã hội, quan hệ xã hội, sức khỏe, công việc, thu nhập, học vấn và các yếu
tố bên trong như: sự quan tâm giúp đỡ người khác, tính tự lập, tự tin, vững vàng trước những khó khăn, tình cảm
Tóm lại, trong quá trình đọc và tổng kết các công trình và bài viết của các tác giả khác, chúng tôi thấy rằng, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến vấn đề kết hôn của công nhân nữ đang làm việc tại khu công nghiệp và khu chế xuất trong bối cảnh hiện nay là hoàn toàn thích hợp
PHƯƠNG PHÁP Phương pháp thu thập thông tin có sẵn (phân tích tư liệu sẵn có)
Đề tài thu thập thông tin có sẵn từ các công trình nghiên cứu khoa học của các sinh viên đi trước hoặc đăng tải trên các tạp chí khoa học, báo chí, mạng Internet, dựa vào đó sử dụng các thông tin phù hợp
để phân tích, so sánh kết quả nghiên cứu
Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát không tham dự để tránh hiện tượng nhóm đối tượng nghiên cứu bị nhà nghiên cứu
vô tình tác động hoặc chính nhóm đó tác động đến nhà nghiên cứu làm giảm tính khách quan của cuộc nghiên cứu Qua phương pháp quan sát này, đề tài có thể tìm hiểu được các yếu tố tác động đến việc kết hôn của nữ công nhân nhập cư hiện nay
Phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng bảng câu hỏi
Dung lượng mẫu khảo sát là 300 theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phát ngẫu nhiên cho 300 công nhân nữ tại khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM Các phiếu thu thập thông tin này đều được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows
Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn sâu ngẫu nhiên 05 nữ công
Trang 13nhân tại khu phố 3, phường Linh Xuân,
quận Thủ Đức, TPHCM, tất cả trường
hợp phỏng vấn sâu đều nằm trong dung
lượng mẫu khảo sát định lượng
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Quan niệm về hôn nhân của nữ công
nhân
Biểu đồ 1 Quan niệm về nhóm tuổi phù
hợp để kết hôn của nữ công nhân
(Nguồn: Kết quả khảo sát về việc kết hôn
của nữ công nhân nhập cư tháng 4/2016)
Từ biểu đồ 1, phần lớn nữ công nhân
quan niệm rằng từ 23 đến 25 tuổi là nhóm
tuổi phù hợp nhất cho việc kết hôn chiếm
tỷ lệ 57.3%, tiếp đến là nhóm tuổi trên 26
tuổi cũng chiếm tỷ lệ khá cao 40% Qua
đó ta nhận thấy rằng nữ công nhân đã có
định hướng khá tương đồng với người trẻ
hiện nay về xu hướng kết hôn muộn thể
hiện ở quan niệm về độ tuổi kết hôn phù
hợp
Thu nhập và việc làm
Biểu đồ 2 Mức lương hiện nay trong
việc chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày
Ở biểu đồ 2, đa số nữ công nhân cho rằng
với mức lương như vậy là vừa đủ để trang
trải cuộc sống, chiếm tỷ lệ cao nhất với
63.7% Kế đến, có 25.3% nữ công nhân
cho biết với mức lương đó không đủ để
trang trải cho cuộc sống Và tỷ lệ nữ công
nhân cho rằng mức lương đủ để có tích
lũy chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể
(10.3%) Kết quả khảo sát về mức lương
so với mức sống hiện tại của nữ công
nhân cho thấy phần lớn công việc hiện tại
chỉ đủ đáp ứng nhu cầu hàng ngày chứ
chưa đủ để họ có thể tích lũy cho tương lai
Thời gian và môi trường làm việc của
nữ công nhân
Biểu đồ 3 Thời gian làm việc trong tuần
chi tiết theo số giờ của nữ công nhân Chia sẻ của nữ công nhân về việc tăng ca:
“Có, tôi có tăng ca, tôi tăng ca để kiếm thêm thu nhập Vì sau giờ làm việc chính tôi cũng không làm gì nên tăng ca để kiếm thêm thu nhập” Một nữ công nhân
may đã cho chúng tôi biết: “Chúng tôi
làm hơn 9 giờ đêm mới về đến nhà, lúc đó chỉ muốn ăn xong là đi ngủ liền để lấy lại sức khoẻ mai đi làm tiếp Việc tăng ca về trễ không chỉ riêng tôi đâu mà hầu hết nữ công nhân ở khu chế xuất này đều chung một nhịp sống như thế”
Đối với những nữ công nhân nào đã tìm được tình yêu và kết hôn có thể được xem
là những người rất may mắn và hạnh phúc Bởi vì, hầu hết nữ công nhân khác còn lại trong mẫu đều đang gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề tìm kiếm hạnh phúc riêng Có rất nhiều nguyên nhân gây nên sự khó khăn này, nhưng có một khó khăn không thể không nhắc đến chính là
do nữ công nhân phải dành quá nhiều thời gian cho công việc mưu sinh
Tỷ lệ nam nữ tại nơi làm việc và khu nhà trọ
Bên cạnh áp lực về thời gian làm việc, một yếu tố mất cân bằng giới tính nam –
nữ ở nơi làm việc cũng đang gây ra một khó khăn rất lớn trong việc kết hôn của
nữ công nhân Đa số nữ công nhân cho rằng số lượng nam tại nơi làm việc là rất
ít Với số lượng nam như vậy, cơ hội để
2.7%
57.3%
40%
Từ 18 đến 22 tuổi
Từ 23 đến 25 tuổi
69.2
29.7 80
20 0
20 40 60 80 100
5 ngày 6 ngày 7 ngày Khác
Tỷ lệ phần trăm (%)
8 giờ
Từ 9 giờ đến 10 giờ
Trên 10 giờ
Trang 14nữ công nhân có thể gặp gỡ giao lưu tìm
hiểu hầu như là rất thấp, thậm chí là
không có Trong khi đó, nơi làm việc lại
là nơi có môi trường tiếp xúc hằng ngày,
nữ công nhân sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp
với nam giới ở chính nơi làm việc hơn
Tìm hiểu nguyên nhân vì sao công ty nữ
công nhân đang làm việc lại có quá ít
nam công nhân thì chúng tôi đã nhận
được rất nhiều ý kiến chia sẻ của họ như
sau: “Do đặc tính công việc của công ty
may là trong công việc đòi hỏi người
công nhân phải tỉ mỉ, chịu khó và chịu
tăng ca nhiều nên công việc này không
thích hợp với nam”
Qua đó có thể cho thấy mất cân bằng giới
tính tại nơi làm việc là nguyên nhân cốt
lõi nhất dẫn đến khó khăn trong việc kết
hôn của nữ công nhân
Các mối quan hệ xã hội của nữ công
nhân
Nữ công nhân thiết lập mối quan hệ với
những người xung quanh thông qua vài
người quen trong dãy nhà trọ, nơi làm
việc Ngoài ra, mạng Internet cũng là một
cách để nữ công nhân thiết lập mối quan
hệ xã hội được lựa chọn khá nhiều Mức
độ gặp gỡ và giao tiếp với nam giới tại
nơi làm việc, tại khu nhà trọ và với nam
đồng hương của nữ công nhân đều có
mức độ giống nhau, chỉ ở mức độ thỉnh
thoảng Bên cạnh đó, nữ công nhân có
mức độ thường xuyên gặp gỡ và giao tiếp
với nam giới tại khu nhà trọ khá nhiều
Tuy nhiên, họ vẫn gặp khó khăn trong
việc tìm kiếm đối tượng kết hôn từ mối
quan hệ này Nhìn chung, đa số số nữ
công nhân có mức độ gặp gỡ và giao tiếp
với nam giới chỉ dừng lại ở mức độ thỉnh
thoảng Đây cũng là một trong những khó
khăn lớn gây cản trở đến việc kết hôn của
nữ công nhân Bên cạnh đó, mục đích
giao tiếp với nam của nữ công nhân qua
từng nhóm tuổi chủ yếu chỉ là để xã giao
và trao đổi công việc tạo thêm một trở
ngại khá lớn trong việc tìm kiếm đối
tượng kết hôn của nữ công nhân
Bảng 1 Hoạt động cuối tuần của nữ công nhân
Các tiêu chí Tần
số
Phần trăm (%)
Qua kết quả khảo sát tại bảng 1 cho thấy, ngày cuối tuần, đa số nữ công nhân chủ yếu là ở phòng nghỉ ngơi chiếm tỷ lệ cao nhất 64.7%, kế đến, tỷ lệ nữ công nhân đi chơi trong những cuối tuần cũng có tỷ lệ tương đối cao với 47% Kết quả khảo sát cho thấy, nữ công nhân sau một tuần làm việc, đa số họ chỉ dành ngày cuối tuần của mình vào việc nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe chuẩn bị cho một tuần công việc
kế tiếp
Một số hỗ trợ từ Công đoàn công ty nơi
nữ công nhân đang làm việc
Đa số nữ công nhân cho rằng các Công đoàn tại nơi làm việc tổ chức các buổi hoạt động giao lưu, giải trí cho họ Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều nữ công nhân chia sẻ Công đoàn tại công ty không tổ chức hoặc ít tổ chức các buổi hoạt động giao lưu, giải trí cho công nhân Cuối cùng, mong muốn của nữ công nhân về các chính sách hỗ trợ từ nơi làm việc của Công đoàn và công ty phần lớn đó là hỗ trợ nhiều hơn về thu nhập cá nhân và cải thiện tỷ lệ nam nữ tại nơi làm việc
Trang 15KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Từ kết quả phân tích của đề tài, chúng tôi
xin đưa ra một số kết luận sau:
Quan niệm về hôn nhân nữ công nhân
Xu hướng kết hôn muộn của thanh niên
hiện nay để ổn định công việc và cuộc
sống cũng thể hiện khá rõ trong quan
niệm về độ tuổi kết hôn của nữ công
nhân Với nữ công nhân, mạng Internet
và nơi làm việc được cho là nơi dễ tìm
bạn trai nhất Khó khăn gây trở ngại hàng
đầu đối với nữ công nhân trong việc tìm
kiếm đối tượng kết hôn là vấn đề về kinh
tế, thu thập thiếu thốn, chưa ổn định
Thu nhập và mức sống nữ công nhân
Với thu nhập từ công việc hiện tại, đa số
nữ công nhân nhập cư chỉ vừa đủ để trang
trải cuộc sống
Thời gian và môi trường làm việc nữ
công nhân
Hầu hết nữ công nhân đang làm việc tại
các công ty thuộc khu chế xuất đang phải
chịu áp lực về thời gian rất lớn Ngoài ra,
việc tăng ca cũng đồng thời là tăng thu
nhập nên hầu hết nữ công nhân đều dành
rất nhiều thời gian cho công việc mưu
sinh của mình Như vậy, nữ công nhân sẽ
không có thời gian tìm kiếm, tìm hiểu,
gặp gỡ bạn khác giới để kết hôn
Tỷ lệ nam nữ và mối quan hệ xã hội
của công nhân
Sự chênh lệch về giới tính quá lớn đang
dẫn đến một thực trạng là rất nhiều nữ
công nhân không tìm được đối tượng để kết hôn Về việc thiết lập mối quan hệ xã hội hiện nay, đa số nữ công nhân chọn mạng Internet (Facebook, Zalo, Viber…)
là nơi dễ dàng tìm bạn trai nhất Hầu hết
nữ công nhân đều cho rằng tổ chức Công đoàn đã chú trọng đến việc chăm lo đời sống vật chất cho người lao động
Một số khuyến nghị Đối với các công ty, tổ chức Công đoàn
Các công ty cần xây dựng một mức lương
cơ bản hợp lý để công nhân có điều kiện sống tốt hơn và có tích lũy riêng cho mình nhằm đảm bảo cuộc sống đặc biệt là cuộc sống sau khi đã kết hôn Các tổ chức Đoàn hội, Công đoàn của các công ty nên thành lập các câu lạc bộ giao lưu kết bạn, thường xuyên tổ chức các hoạt động giải trí cho công nhân nữ
Đối với nữ công nhân
Nữ công nhân nên tự tổ chức các buổi sinh hoạt giao lưu với nhau, tự tìm kiếm
và mở rộng các mối quan hệ xã hội cho bản thân mình Ngoài ra, nữ công nhân cần phải biết tự cân đối giữa công việc và cuộc sống riêng tư, cố gắng sắp xếp công việc để có thêm nhiều thời gian rảnh rỗi
mà chăm lo hạnh phúc riêng cho bản thân Các nữ công nhân trong quá trình làm việc cần cố gắng tích lũy nguồn vốn cho bản thân để đảm bảo cuộc sống sau khi đã kết hôn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
VŨ QUANG HÀ (2002), Các lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
LÊ NGỌC HÙNG (2002), Lịch sử và lý thuyết xã hội học NXB Đại học Quốc gia Hà
HOÀNG TRỌNG, CHU NGUYỄN MỘNG NGỌC (2008), Phân tích dữ liệu SPSS,
trường Đại học Kinh tế TP.HCM NXB Hồng Đức
Trang 16CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI THANH THIẾU NIÊN LẠM DỤNG FACEBOOK Lèo Thị Kính, Nguyễn Thị Trinh*, Đỗ Thị Thúy, Lưu Thị Nga, Thân Thị Hương
Trường Đại học Công Đoàn
*Tác giả liên lạc: trinhnguyenctxh@gmail.com
(Ngày nhận bài: 07/04/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)
TÓM TẮT
Đề tài “Công tác xã hội đối với thanh thiếu niên lạm dụng Facebook” là một công trình nghiên cứu khoa học góp phần chỉ ra thực trạng lạm dụng Facebook cũng như phân tích, làm rõ sự ảnh hưởng tiêu cực nếu sinh viên không kiểm soát được thời gian cũng như mục đích sử dụng Facebook hiện nay của mình Những nguyên nhân tác động mà nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu chính là những lý giải mang tính khoa học và logic về thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên đại học Công đoàn nói riêng và thanh thiếu niên nói chung Điểm mới của công trình nghiên cứu khoa học này là nhóm tác giả đã tiến hành xây dựng một mô hình can thiệp giúp cho sinh viên sử dụng Facebook đúng cách và hiệu quả Là một mô hình học tập, giải trí lành mạnh cho sinh viên, câu lạc bộ “I LOVE FACEBOOK” sẽ cung cấp cho sinh viên cơ hội và môi trường cho các thành viên nhận thức, mở mang và thay đổi suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của mình để sử dụng Facebook hiệu quả nhất Công trình mặc dù chỉ là một cuộc nghiên cứu trường hợp tại trường đại học Công đoàn, nhưng đề tài vẫn có độ tin cậy cao bởi những dữ liệu định tính và định lượng mang ý nghĩa đại diện cho nhóm thanh thiếu niên hiện nay Chúng tôi hy vọng mô hình thử nghiệm về công tác xã hội nhóm cho sinh viên lạm dụng Facebook sẽ có độ lan tỏa cao và được áp dụng ở khắp các trường đại học
Từ khóa: Công tác xã hội, facebook, thanh thiếu niên
SOCIAL WORK TOWARD TEENAGER WHO ABUSE FACEBOOK Leo Thi Kinh, Nguyen Thi Trinh*, Do Thi Thuy, Luu Thi Nga, Than Thi Huong
Viet Nam Trade Union University
*Corresponding Author: trinhnguyenctxh@gmail.com
ABSTRACT
Our subject “Social work toward teenager who abuse Facebook” is a scientific research which not only partly shows the reality of abusing Facebook but also analyzes and makes clear the bad effects if students can’t control their time and purpose of using Facebook nowadays The causes impacting on abusing Facebook which our team has investigated are scientific and logic explanations for the state of using Facebook of Trade Union University’s students in particular and teenager in general The progress of this subject is the model interfering and helping students use Facebook in a right way which the authors have built To be a healthy model to study and entertain for students, the club “I LOVE FACEBOOK” will provide students with opportunities and environments to expand their awareness, change their thought, emotion and behavior to use Facebook in the most effective way Although our study is only a circumstantial research at Trade Union University, it still has the high reliance because of its qualitative and quantitative data which has representative role of teenager currently We hope our experiment model in social work with groups for students abusing Facebook will spread and be applied to every university
Keywords: Social work, facebook, teenager
Trang 17TỔNG QUAN
Hiện nay, mạng xã hội Facebook dần trở
nên thông dụng, đặc biệt đối với các bạn
trẻ nhằm đáp ứng nhu cầu: làm việc, học
tập, giải trí, Tuy nhiên, do tính năng hấp
dẫn của mình, Facebook đã khiến cho
một bộ phận người sử dụng “lạm dụng”
nó điều này mang lại những hậu quả
ngoài mong đợi Bạn có thể tạo ra một tài
khoản Facebook nhưng việc sử dụng
Facebook một cách có hiệu quả lại không
hề đơn giản Để tìm hiểu rõ hơn về thực
trạng, nguyên nhân cũng như cách khắc
phục việc “lạm dụng Facebook”, nhóm
NCKH đã thực hiện đề tài “Công tác xã
hội với thanh thiếu niên lạm dụng
Facebook” nghiên cứu tại trường Đại học
Công Đoàn
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài có sử dụng các phương pháp thu
thập thông tin như quan sát tình hình thực
tiễn, điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và
tìm thông tin trên internet nhằm phân
tích, tổng hợp, so sánh kết quả nghiên
cứu Đề tài còn vận dụng phương pháp
can thiệp Công tác xã hội nhóm trong quá
trình hỗ trợ nhóm thân chủ
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Nhằm tìm hiểu về thực trạng sử dụng
Facebook của sinh viên trường Đại học
Công Đoàn nhóm nghiên cứu chúng em
đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả
dưới đây:
Biểu đồ 1 Tỷ lệ sử dụng mạng xã hội của
sinh viên trường Đại học Công Đoàn
Từ bảng phân tích số liệu ta thấy được
100% sinh viên trả lời cho biết có sử
dụng mạng xã hội Facebook, 73,3% sinh viên được hỏi cho biết sử dụng mạng Zalo; và 17,8% cho rằng các bạn sử dụng mạng Viber Vậy ta có thể thấy được mạng xã hội Facebook đã trở nên phổ biến với đời sống của sinh viên trường Đại học Công Đoàn Cùng với sự lan truyền của các mạng xã hội, các mối quan hệ đã trở nên gần gũi hơn và rộng hơn so với trong quá khứ, và các trang web xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống của giới trẻ hiện nay
Mục đích, mức độ và biểu hiện của sinh viên khi sử dụng Facebook
Bảng 1 Bảng tương quan giữa việc làm
và số lần kiểm tra Facbook một ngày
Số lần kiểm tra FB/ngày
và tiện lợi như smartphone, ipad, laptop, Cần thay đổi tần suất truy cập Facebook sao cho hợp lý và phù hợp với hoàn cảnh học tập và môi trường sống của sinh viên Từ kết quả nghiên cứu trên nhóm nghiên cứu thấy rằng tần suất truy cập Facebook 30 phút/lần của sinh viên
có đi làm thêm chiếm 48,8% cao hơn sinh viên không đi làm thêm (41,3%) Còn lại các tần suất truy cập Facebook khác thì sinh viên không đi làm thêm chiếm tỷ lệ cao hơn sinh viên có đi làm thêm Qua
đó, ta nhận thấy việc đi làm thêm có ảnh hưởng tới mức độ truy cập Facebook của sinh viên Do sinh viên có đi làm thêm sẽ
bị hạn hẹp thời gian rảnh rỗi nên sẽ có tần suất truy cập Facebook thấp hơn sinh viên không đi làm thêm
Trang 18Biểu đồ 2 Mục đích và mức độ sử dụng
Facebook của sinh viên phân theo ngành học
Nhìn chung từ bảng số liệu trên ta đã thấy
được sự chênh lệch giữa mục đích và
mức độ sử dụng Facebook của sinh viên
phân theo ngành học Mức độ thường
xuyên trò chuyện cùng bạn bè của sinh
viên ngành xã hội cũng cao hơn so với
sinh viên tham gia trả lời câu hỏi đang
theo học ngành kinh tế và ngành khoa học
kỹ thuật Từ đó, chúng ta thấy được rằng
hiện nay các bạn sinh viên đã biết tận
dụng thế mạnh của Facebook để vừa có
thể giải trí vừa có thể học tập, tìm kiếm
tài liệu Trong những năm gần đây, các
hội, nhóm học tập được mở ra và có đông
đảo các bạn sinh viên nhiệt tình tham gia
mà đặc biệt là có rất nhiều sinh viên
trường Đại học Công Đoàn Với phương
pháp dạy theo kiểu “mở” của giảng viên
từ đó tạo lập cho sinh viên tác phong chủ
động trong học tập, tự tìm và trao đổi
kiến thức với bạn bè Mà đặc thù của
ngành xã hội thì lượng kiến thức mà
giảng viên cung cấp chỉ là một phần nhỏ
trong tổng số rất nhiều các tài liệu, danh
mục sinh viên cần phải biết Cho nên việc
sinh viên ngành xã hội lên Facebook tìm
kiếm thông tin, tài liệu ở mức cao là điều
dễ hiểu
Theo kết quả thu được từ cuộc nghiên
cứu khoa học này cho thấy tỷ lệ sinh viên
ở ngành khoa học kỹ thuật truy cập
Facebook để chơi game là khá cao ở mức
thường xuyên chiếm 56,7% trên tổng số
người tham gia trả lời cho câu hỏi này
Nếu như sinh viên ngành xã hội sử dụng
Facebook để trò chuyện cùng bạn bè và truy cập thông tin, tìm kiếm tài liệu ở mức cao nhất thì sinh viên ngành kinh tế lại sử dụng Facebook để tìm kiếm việc làm và bán hàng chiếm tỉ lệ 39,4% số người tham gia trả lời câu hỏi
Trên cơ sở của những tài liệu được phân tích chúng ta có thể thấy rằng Facebook chính là công cụ hấp dẫn có thể giúp sinh viên giải trí, học tập, là nơi gắn kết mọi người, là không gian mà sinh viên có thể thay đổi cách nhìn nhận về cuộc sống, nơi
có thể giúp sinh viên định hướng nghề nghiệp Tuy nhiên phân tích trên còn cho thấy thực trạng dùng Facebook để làm ảnh hưởng tới người khác trong bộ phận sinh viên ở mức khá cao, nếu như không
có một biện pháp giáo dục và ngăn chặn kịp thời thì các bạn sinh viên đó sẽ trở thành con mồi của Facebook Do đó việc tạo ra một môi trường lành mạnh trên Facebook để các bạn sinh viên có thể cùng nhau học tập giao lưu và lĩnh hội kiến thức là điều cần thiết
Bên cạnh những điểm thuận lợi mà Facebook mang lại thì mạng xã hội này cũng gây ra những tác động tiêu cực tới người dùng Dưới đây là một số điểm bất lợi mà nhóm nghiên cứu đã thu thập được
Bảng 2 Đánh giá của sinh viên về điểm
bất lợi của Facebook
Điểm bất lợi của Facebook
N Tỷ lệ (%)
Sống khép mình, không muốn giao tiếp với người xung quanh
Dễ truy cập vào các trang web đồi trụy
(Nguồn: Kết quả điều tra năm 2016)
Phần lớn các sinh viên này cho rằng điểm bất lợi nhất khi dùng Facebook là dễ bị kẻ xấu lợi dụng (59,8%) và dễ bị theo dõi
Chơi game
Đe dọa, làm hại người khác
Tìm việc làm thêm Ngành xã hội Ngành kinh tế
Ngành kĩ thuật
Trang 19(57,5%) trong tổng số những người đã
tham gia trả lời Chỉ có một số ít ý kiến
cho rằng việc dùng Facebook khiến cho
người dùng sống khép mình và không
muốn giao tiếp với những người xung
quanh Bên cạnh đó 23,0% cho rằng việc
sử dụng Facebook gây ra những bất lợi
như kết bạn bừa bãi hay dễ truy cập vào
các trang wed đồi trụy,… Thông qua
bảng số liệu có thể thấy khi sử dụng FB
bên cạnh những lợi ích mà Facebook đem
lại thì trang mạng xã hội này còn xuất
hiện những điểm bất lợi và nó ảnh hưởng
không nhỏ tới đời sống cũng như là công
việc học tập của sinh viên
Bảng 3 Cảm giác của sinh viên khi
không được dùng Facebook
Cảm giác khi không
(Nguồn: Kết quả điều tra năm 2016)
Theo điều tra cho thấy có 15,5% sinh
viên trả lời cho rằng họ cảm thấy khó
chịu khi không được dùng Facebook,
24.6% là tỷ lệ những người tham gia trả
lời cho họ cảm thấy tò mò rằng không
biết có ai trò chuyện, like ảnh và status
của mình khi mình không được sử dụng
Facebook hay không và 55,5% trong số
những sinh viên trả lời cho biết họ cảm
thấy thật bình thường khi không được sử
dụng mạng xã hội này Trong các giờ học
nhiều sinh viên tỏ ra thờ ơ với bài vở,
ngồi hết 4 tiết chỉ để điểm danh còn trong
giờ học họ mải “chém gió” với mọi người
trên Facebook và than thở bài khó quá
không hiểu, giảng viên thì khó tính, họ
cảm thấy áp lực khi ngồi trên giảng
đường
Có thể trong tương lai một thế hệ sinh
viên sẽ bị trượt dài bởi sự phát triển của
khoa học công nghệ khi mà Facebook
ngày có nhiều thu hút giới trẻ, khi đó
chính sinh viên là người phải chịu những
hệ lụy khó lường mà mình tạo ra Bởi vì
họ đang ngày càng bị Facebook tha hóa
và chi phối
Biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.2
(Nguồn: Kết quả điều tra năm 2016)
Theo số liệu điều tra thì việc sinh viên thừa nhận mình đang lạm dụng Facebook chiếm 35,9% và 64,1% sinh viên trả lời rằng họ không hề lạm dụng Facebook Nhưng khi nhóm tiến hành dùng phương pháp thống kê những sinh viên có các biểu hiện của hiện tượng lạm dụng Facebook thì thu được kết quả sau: Tỷ lệ thực sinh viên tham gia trả lời câu hỏi lạm dụng Facebook chiếm 70% và tỷ lệ
về việc sinh viên tham gia trả lời câu hỏi này trả lời là không lạm dụng Facebook chiếm 30% Như vậy, có những bạn sinh viên tham gia trả lời câu hỏi không nghĩ rằng mình đang có những hành vi lạm dụng Facebook và chính điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc sử dụng Facebook của các bạn sinh viên sau này Vậy tại sao lại có sự chênh lệch như thế?
Có thể thấy có rất nhiều TTN chưa phân biệt được đâu là sử dụng Facebook và đâu
là lạm dụng Facebook, hoặc do tâm lý dễ chối bỏ những gì mình làm nên rất nhiều thanh thiếu niên không muốn chấp nhận mình là người đang lạm dụng Facebook
Trang 20KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Qua kết quả phân tích cho thấy Facebook
đóng vai trò quan trọng trong đời sống
của sinh viên trường ĐH Công Đoàn
Những sinh viên có hành vi lạm dụng
Facebook có các biểu hiện như có nhiều
thời gian rảnh rỗi, không đi làm thêm và
nơi ở thường là nhà trọ hoặc ký túc xá
Công Đoàn điều này đã chứng minh cho
giả thuyết chúng em đưa ra ở phần đầu là
có căn cứ Nội dung hay mục đích truy
cập Facebook của sinh viên rất phong phú
và đa dạng nhưng nhìn chung sinh viên
sử dụng Facebook với mục đích chính là
cập nhật thông tin cá nhân, trò chuyện
cùng bạn bè và chơi game Một số ít sinh
viên sử dụng mạng Facebook để kinh
doanh, buôn bán một số mặt hàng phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt của sinh viên,
cũng có khá nhiều sinh viên sử dụng
Facebook là công cụ để giải tỏa căng
thẳng, áp lực
Qua kết quả của cuộc nghiên cứu còn cho
thấy: Có sự khác biệt giữa mục đích và
mức độ sử dụng Facebook theo các khối
ngành là khác nhau Những sinh viên
ngành xã hội có xu hướng lên Facebook
tìm kiếm thông tin cho học tập, những
sinh viên ngành kinh tế thì tận dụng lợi
thế của Facebook để tìm việc làm thêm và
kinh doanh, còn những sinh viên ngành
khoa học kĩ thuật thì lên Facebook để
chơi game và trò chuyện cùng bạn bè Và
kết quả điều tra còn cho thấy tính hấp dẫn
và bất lợi của Facebook theo các quan
điểm khác nhau
Có nhiều sinh viên đang có hành vi lạm
dụng Facebook nhưng lại không biết điều
đó và khi được hỏi có muốn bỏ Facebook
không thì câu trả lời là không Từ đó ta có
thể thấy được rằng việc nhận thức về
hành vi lạm dụng Facebook của sinh viên
là rất quan trọng Từ thực trạng đáng báo
động đó có rất nhiều sinh viên đã nêu lên
quan điểm của mình đưa ra các biện pháp
để sử dụng Facebook một cách hiệu quả
Trong xu hướng hội nhập hiện nay, tự do
cá nhân luôn được đề cao, nhưng không
có nghĩa là hòa tan, là làm tất cả những điều mình thích, là làm tất cả những gì ngoài tầm kiểm soát vượt qua mọi chuẩn mực của Xã hội Với đề tài: Công tác xã hội với thanh thiếu niên lạm dụng Facebook, chúng tôi hi vọng rằng các bạn sinh viên trường Đại học Công Đoàn, những người năng động sáng tạo cần phải biết sử dụng Facebook đúng cách và hiệu quả, góp phần đắc lực cho công viêc học tập của các bạn Nhóm nghiên cứu đã đưa
ra một số khuyến nghị như sau:
Đối với gia đình
Cha mẹ và người thân cần có sự quan tâm đúng mực đối với con cái, kiểm soát hợp
lý những hoạt động của con trên MXH, quy định rõ giờ giấc học tập và giải trí của con em mình
Cha mẹ cần tích cực học tập những kiến thức về tâm lý học lứa tuổi nhất là những gia đình có con trong độ tuổi vị thành niên, nắm bắt thông tin và sự thay đổi của các thiết bị công nghệ hiện đại, trở thành một người bạn gần gũi đối với con mình Thường xuyên trao đổi với con về việc sử dụng Facebook sao cho hợp lý và tránh sa vào việc lạm dụng vào các mục đích không lành mạnh…
Đối với nhà trường:
Về phía nhà trường đặc biệt là thầy cô giáo cần kết hợp chặt chẽ với gia đình trong việc giáo dục học sinh, quản lý chặt chẽ việc học tập của các em
Nhà trường cần tổ chúc các buổi tuyên truyền về tác hại của việc lạm dụng Facebook cũng như cách phòng chống cho các em
Đẩy mạnh các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao mang tính chất hấp dẫn, lành mạnh, bổ ích thu hút các em tham gia
Ban lãnh đạo, quản lý nhà trường cần kết hợp với cán bộ thông tin trên địa bàn để quản lý theo dõi các sinh viên có biểu hiện lạm dụng Facebook tại trường học Nhà trường cần thực hiện tốt công tác tư vấn hướng nghiệp cho các em học sinh để hình thành ý chí phấn đấu, rèn luyện học
Trang 21tập và lao động cho các em tránh tình
trạng mất phương hướng dễ sa vào các
tện nạn tiềm ẩn có trong Facebook Từ
thực tế kết quả của cuộc nghiên cứu và
dựa vào đóng góp ý kiến về việc tìm ra
biện pháp làm giảm hiện tượng lạm dụng
Facebook nhóm khuyến nghị xây dựng
Đây là mô hình nhóm cung cấp cơ hội và môi trường để các thành viên nhận thức,
mở mang và thay đổi suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của mình về hiện tượng lạm dụng Facebook
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LÊ MINH CÔNG (2011), Một số vấn đề lý luận và thực hành lâm sàng về nghiện
Internet, Báo cáo khoa học Hội nghị quốc tế lần 2 về Tâm lý học đường ở Việt
Nam, Thành phố Huế ngày 06&07-01-2011
KIMBERLY YOUNG (1993), Internet addiction Disorder: Symtoms, Evaluation and
Treatment, Innovations in Clinical Practice
FIONNBAR LENIHAN (2007), Computer addiction - a skeptical view, Advances in
Psychiatric Treatment
HUỲNH VĂN SƠN (CHỦ BIÊN) (2009), Đối thoại với cái tôi tuổi trẻ, NXB Lao
động Xã hội, Hà Nội
NGUYỄN THỊ HẬU (2009), Hiện tượng nghiện trò chơi trực tuyến, kỷ yếu hội thảo
“Nghiện internet - game online: Thực trạng và giải pháp, Biên Hòa ngày
06-8-2009
TRẦN THỊ MINH ĐỨC (2007), Phân tích từ góc độ Tâm lý học: Vì sao giới trẻ thích
game online?, Tạp chí Tâm lí học
HUỲNH VĂN SƠN (CHỦ BIÊN) (2012), Hành vi nghiện dưới góc độ Tâm lý học,
NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh
Trang 22ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG
Trương Thảo Sâm*
Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG TP.HCM
*Tác giả liên lạc: truongthaosam@gmail.com
(Ngày nhận bài: 20/03/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)
TÓM TẮT
Mô phỏng và dự báo thủy văn mặt có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý và quy hoạch tài nguyên nước Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá hiện trạng tài nguyên nước trên lưu vực sông Mê Công bằng mô phỏng thủy văn với mô hình SWAT Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình chỉ ra rằng mô hình SWAT có thể mô phỏng tốt dòng chảy trong lưu vực sông với các chỉ số thống kê so sánh tương quan giữa lưu lượng mô phỏng và thực đo ở mức độ tốt Bên cạnh đó, bản đồ phân bố không gian các thành phần cán cân nước được thành lập Các kết quả nghiên cứu này cung cấp thông tin tham khảo cho các nhà quản lý trong công tác quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Mê Công
Từ khóa: Mô hình SWAT, mô hình SWAT-CUP, tài nguyên nước, lưu vực Mê Công
ASSESSMENT OF WATER RESOURCE IN THE MEKONG RIVER BASIN
Truong Thao Sam *
University of Science, VNU-HCM
ABSTRACT
Modeling and forecasting hydrology are important factors for water resources planning and management In this study, the current state of water resources of Mekong basin was evaluated by hydrological modeling with SWAT model Results of model calibration and validation indicate that the SWAT could simulate satisfactorily the streamflow for the study area This was confirmed by the satisfactory values of statistical indices between the simulated and observed streamflow Based on the well- calibrated SWAT model, the spatial distribution of water balance components was constructed This study contributes scientific reference for supporting managers and policy-makers assign more appropriate decision in the management of water resources in Mekong River Basin
Keywords: SWAT, SWAT-CUP, water resources, Mekong river basin
TỒNG QUAN
Nước là một phần thiết yếu của sự sống,
là nguồn tài nguyên thiên nhiên đóng vai
trò quan trọng sự phát triển kinh tế - xã
hội Làm thế nào để cân bằng giữa khai
thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước
một cách hiệu quả trên lưu vực sông đảm
bảo cho sự phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường là vấn đề được cân nhắc trong
nhiều năm trở lại Đây là lưu vực xuyên
biên giới đóng vai trò quan trọng khu vực
Nam Á đang trong tình trạng báo động do
cá hoạt động thủy điện, dân sinh…ở cả thượng lưu và hạ lưu Vì vậy cần có những đánh giá chi tiết phù hợp với tình hình hiện tại và phát triển bền vững lâu dài Hiện nay, mô hình là một công cụ quan trọng trong đánh giá tài nguyên môi trường nước lưu vực sông Có rất nhiều
mô hình có thể được sử dụng trong mô phỏng và đánh tài nguyên nước lưu vực sông như mô hình SWAT, AGNPS, HSPF,… Trong các mô hình này, SWAT
là mô hình được sử dụng phổ biến và áp
Trang 23dụng thành công ở nhiều lưu vực sông
trên thế giới Mục tiêu của nghiên cứu
này là đánh giá hiện trạng tài nguyên
nước lưu vực sông Mê Công bằng mô
hình SWAT Kết quả của nghiên cứu này
có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà
hoạch định chính sách trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội của
vùng
Vị trí khu vực nghiên cứu là lưu vực sông
Mê Công (Hình 1), là một trong những
lưu vực quan trọng của khu vực Nam Á
Công bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy
qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào,
Campuchia trước khi vào Việt Nam rồi
đổ ra Biển Đông Địa hình đa dạng với
cao độ mặt đất từ vài trăm mét đến trên
6.000m so với mực nước biển Lưu vực
chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiêt đới gió
mùa một năm có 2 mùa chính là mùa mưa
(kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa
khô (tháng 11 đến tháng 4) Phân bố
lượng mưa trên lưu vực có sự khác biệt
về phía đông-tây, tại thượng nguồn lượng
mưa hàng năm chỉ khoảng 600mm, hạ
nguồn có lượng mưa lên đến 3.000mm
Tương tự phân bố lượng mưa, dòng chảy
chia thành hai mùa: mùa lũ và mùa kiệt
với lưu lượng trung bình 13.200 m³/s,
vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000
m³/s
Hình 1 Vị trí địa lí lưu vực sông Mê
Công
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Mô hình thủy văn SWAT
SWAT (Công cụ đánh giá đất và nước - Soil and Water Assessment Tool) là mô hình ở cấp độ lưu vực dựa trên các quá trình vật lí để dự báo ảnh hưởng lên nước, phù sa và lượng hóa chất sinh ra từ hoạt động nông nghiệp trên những lưu vực không có mạng lưới quan trắc Mô hình tính toán dựa trên các đơn vị thủy văn (Hydrologic Response Unit- HRU) có những đặc trưng đồng nhất về sử dụng đất, thổ nhưỡng, độ dốc SWAT tích hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) như MapWindow và ArcGIS để tích hợp các
dữ liệu không gian bao gồm: thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật, đặc điểm địa hình và dữ liệu khí tượng Mô hình này chia dòng chảy thành 3 pha: pha mặt đất, pha dưới mặt đất và pha trong sông Mô phỏng quá trình thủy văn trong mô hình dựa vào phương trình cân bằng nước
Thiết lập mô hình SWAT cho khu vực nghiên cứu bao gồm 4 bước: (1) chuẩn bị
số liệu, (2) phân chia tiểu lưu vực, (3) xác định các đơn vị thủy văn HRU và (4) hiệu chỉnh và kiểm định mô hình Hiệu chỉnh
và kiểm định mô hình được thực hiện bằng phương pháp SUFI-2 Phương pháp này được tích hợp trong công cụ SWAT-CUP version 2012 Dữ liệu giai đoạn 1983-1988 được sử dụng trong giai đoạn hiệu chỉnh và giai đoạn 1989-2005 sử dụng cho giai đoạn kiểm định Dữ liệu 1981-1982 dùng để khởi động mô hình cho mục đích hiệu chỉnh và kiểm định
Dữ liệu đầu vào
Số liệu đầu vào yêu cầu cho mô hình SWAT bao gồm: số liệu mưa, nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất, lớp phủ thực vật, bản đồ thổ nhưỡng, và mô hình số độ cao (DEM) (Bảng 1) Bộ dữ liệu khí tượng giai đoạn 1981-2005 được thu thập tại Ủy Hội Sông Mê Công (MRC) Bên cạnh đó,
số liệu lưu lượng nước tại các trạm đo thủy văn cũng được yêu cầu cho mô hình SWAT nhằm mục đích hiệu chỉnh và kiểm định mô hình
Trang 24Bảng 1 Dữ liệu đầu vào mô hình SWAT
Đánh giá hiệu quả mô phỏng
Mô hình được đánh giá bằng phương
pháp thống kê để so sánh chất lượng và
độ tin cậy của kết quả mô phỏng với số
liệu thực đo Trong nghiên cứu này, ba
chỉ số dung để đánh giá kết quả mô hình
gồm chỉ số hiệu quả Nash – Sutcliffe
(NSE), phần trăm sai số (PBIAS), tỉ lệ
giữa sai số quân phương và độ lệch chuẩn
của số liệu đo đạc (RSR) Mô hình được
xem là tốt khi NSE lớn hơn 0.75, RSR
nhỏ hơn 0.5 và PBIAS nhỏ hơn 10%, mô
hình thõa mãn khi NSE thuộc khoảng
0.50 - 0.75, RSR thuộc khoảng 0.5 -0.7
và PBIAS thuộc khoảng 10% -25%;
không thõa mãn khi NSE nhỏ hơn 0.50,
RSR lớn hơn 0.7 và PBIAS lớn hơn 25%
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình SWAT
Mô phỏng dòng chảy trong SWAT được hiệu chỉnh với 26 thông số Nhằm xác định ảnh hưởng của sự thay đổi từng thông số đến kết quả mô phỏng để lựa chọn các thông số nhạy nhất nhằm tiết kiệm thời gian hiệu chỉnh và kiểm định Sau khi phân tích độ nhạy, 14 thông số được chọn để mô phỏng Trong nghiên cứu này phương pháp SUFI-2 được sử dụng để hiệu chỉnh kết quả mô phỏng được tích hợp trong công cụ hiệu chỉnh tự động SWAT-CUP version 2012 Kết quả phân tích độ nhạy thông số được trình bày trong Hình 2
Hình 2 Các thông số ảnh hưởng dòng chảy trong mô hình SWAT
Bảng 2 Bộ thông số độ nhạy và giá trị hiệu chỉnh
giá trị
Giá trị hiệu chỉnh
Trang 254 v_CH_K2.rte Hệ số dẫn thủy lực của sông chính -0.01 – 500 198.644852
Mô phỏng lưu lượng dòng chảy ngày từ
1983 đến 1988 và kiểm định từ 1989 đến
2005 tại các trạm thủy văn trên lưu vực
sông Mê Công (Bảng 4) Đồ thị 3 và 4
trình bày diễn biến dòng chảy mô phỏng
và quan trắc cho hai trạm Pakse và Stung
Treng Nhìn chung, kết quả hiệu chỉnh và
kiểm định cho thấy mô hình SWAT có thể mô phỏng tốt dòng chảy của lưu vực
Mê Công Từ đó, mô hình được hiệu chỉnh tốt này được sử dụng để mô phỏng hiện trạng tài nguyên nước khu vực nghiên cứu
Hình 3 So sánh kết lưu lượng mô phỏng và quan trắc tại trạm Pakse
Trang 26Hình 4 So sánh kết lưu lượng mô phỏng và quan trắc tại trạm Stung Treng
Bảng 4 Kết quả đánh giá thống kê mô phỏng Trạm Hiệu chỉnh Kiểm định
NSE RSR PBIAS NSE RSR PBIAS
Với kết quả hiệu chỉnh và kiểm định lưu
lượng dòng chảy khá tốt như đã phân tích,
nghiên cứu mô phỏng dòng chảy cho giai
đoạn 1981-2005 và đánh giá tài nguyên
nước trên toàn bộ lưu vực sông Lưu vực
sông Mê Công chịu ảnh hưởng của gió
mùa nên có lượng mưa lớn Tuy nhiên
đây là khu vực rộng lớn nằm trên nhiều vĩ
độ nên có sự khác biệt giữa thượng lưu và
hạ lưu, giữa lưu vực phía Đông và Tây Toàn bộ lưu vực có lượng nước khá dồi dào tập trung chủ yếu ở các lưu vực phía đông (1.200 – 2.100mm) Mạng lưới sông suối phát triển với nhiều phụ lưu rộng lớn nhưng không đều giữa các vùng, vùng có mật độ cao là Việt Nam, Campuchia, vùng có mật độ thấp hơn là khu vực
thượng lưu Trung Quốc
Trang 27(a) Phân bố lượng mưa (b) Phân bố lượng bốc thoát
hơi thực tế
(c) Phân bố dòng chảy
ngầm
(d) Phân bố độ ẩm trong đất (e) Phân bố dòng chảy mặt (f) Phân bố trữ lượng nước
Hình 5 Bản đồ phân bố các thành phần cán cân nước trên lưu vực sông Mê Công
Bản đồ phân bố các thành phần trong
phương trình cân bằng nước (Hình 5) cho
thấy sự phân bố theo không gian của các
thành phần trong chu trình thủy văn trên
lưu vực Theo đó, lượng bốc thoát hơi thực
tế (ET) cao ở hạ lưu những nơi có mật độ
lớp phủ thực vật (rừng, nông nghiệp) cao,
thấp ở thượng lưu do khí hậu nóng, địa
hình phức tạp, thực vật kém phát triển
Phân bố lượng nước trong đất (SW) chủ
yếu phân bố nhiều ở lưu vực phía tây như
Phnom Penh (Campuchia), Thái Lan Nước
mặt (SURQ) và lượng nước ngầm (GW)
chủ yếu phân bố nhiều ở khu vực trung lưu Lào, Việt Nam do đây là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của hoạt động gió mùa, lượng mưa lớn (>2.000mm)
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nghiên cứu sử dụng mô hình thủy văn SWAT để đánh giá hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Mê Công Kết quả chính của nghiên cứu có thể tóm tắt như sau: (1) Kết quả hiệu chỉnh kiểm định mô hình SWAT cho thấy mô hình SWAT có thể mô phỏng rất tốt dòng chảy ở lưu vực
Trang 28sông Mê Công; (2) Từ kết quả mô phỏng
dòng chảy giai đoạn 1983-2005, bản đồ
phân bố không gian các thành phần cán cân
nước được thành lập Vì hạn chế về số liệu
nên nghiên cứu mở rộng tiếp theo sẽ tiếp
tục hoàn thành kết quả mô phỏng sau khi
bổ sung số liệu các trạm thủy văn khu vực thượng lưu và trung lưu Nhìn chung, kết quả đạt được của nghiên cứu có thể cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản
lý trong công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Mê Công
TÀI LIỆU THAM KHẢO
WANG W, LU H, YANG D, SOTHEA K, JIAO Y, GAO B, ET AL (2016) Modelling
Hydrologic Processes in the Mekong River Basin Using a Distributed Model Driven
by Satellite Precipitation and Rain Gauge Observations PLoS ONE 11(3):
Trang 29ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN DÒNG CHẢY
THƯỢNG LƯU LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI
Đỗ Quang Lĩnh 1* , Phạm Thị Thảo Nhi 1 , Lưu Thị Thúy Hằng 2
*Tác giả liên lạc: doqlinh@gmail.com
(Ngày nhận bài: 22/03/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên tài nguyên nước (TNN) thượng lưu lưu vực sông Đồng Nai Mô hình thủy văn SWAT được
sử dụng để mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Đồng Nai, kết quả mô phỏng được đánh
trạm Tà Lài là 0.79, Tà Pao là 0.48, và Phú Hiệp là 0.7 Kịch bản BĐKH cho lượng mưa
và nhiệt độ được xây dựng bằng công cụ chi tiết hóa thống kê SDSM được xây dựng cho 3 kịch bản phát thải RCP2.6, RCP4.5 và RCP8.5 với 3 giai đoạn tương lai là 2015-2040, 2045-2070 và 2075-2100 Tác động của BĐKH lên TNN ở khu vực nghiên cứu được đánh giá bằng việc so sánh sự thay đổi dòng chảy giữa giai đoạn hiện tại (1980-2005) và tương lai Kết quả mô phỏng cho thấy dưới tác động của BĐKH lưu lượng dòng chảy cả
3 kịch bản RCP có xu hướng giảm vào mùa mưa và tăng vào mùa khô Kết quả của nghiên cứu này có thể giúp các nhà quản lý trong xây dựng chiến lược quản lý TNN dưới ảnh hưởng của BĐKH
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, chi tiết hóa thống kê, dòng chảy, SWAT, SDSM
IMPACTS OF CLIMATE CHANGE ON STREAMFLOW
IN THE UPSTREAM DONG NAI RIVER BASIN
Do Quang Linh 1* , Pham Thi Thao Nhi 1 , Luu Thi Thuy Hang 2
*Corresponding author: doqlinh@gmail.com
ABSTRACT
The objective of this study was to simulate the hydrologic characteristic using the SWAT model (Soil and Water Analysis Tool) in upstream Dong Nai River Basin The model performance has been assessed by three statistical indices, including coefficient correlation (R 2 ), Nash-Sutcliffe efficient coefficient (NSE) and percentage Bias (PBIAS) The results showed that SWAT model was calibrated satisfactorily for
Hiep station was 0.53 for calibrate, for R 2 at Ta Lai station was 0.79, at Ta Pao was 0.48 and Phu Hiep is 0.7 Climate change scenarios for precipitation and temperature were simualated using the SDSM statistical downscaling tool simulated for three RCP2.6, RCP4.5 and RCP8.5 emission scenarios with three future scenarios: 2015- 2040, 2045-
2070 and 2075-2100 The impact of climate change on the Dong Nai river basin is
Trang 30assessed by comparing the flow changes between the present period (1980-2005) and the future, the simulation results show that under the impact of climate change, the flow of three RCPs scenarios tends to decrease in rainy season and increase in dry season The results of this study can help managers to develop strategies to manage water resources under the influence of climate change
Keywords: Climate change, statistical downscaling, discharge, SWAT, SDSM
TỔNG QUAN
Tài nguyên nước trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng hiện nay đang phải đối
mặt với những áp lực gay gắt từ nhiều yếu
tố, đặc biệt là Biến đổi khí hậu BĐKH sẽ
làm cho dòng chảy sông ngòi thay đổi về
lượng và sự phân bố theo thời gian, vùng
lãnh thổ Tác động của BĐKH đến dòng
chảy năm rất khác nhau giữa các vùng/ hệ
thống sông trên lãnh thổ Việt Nam Theo
báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2011), trong những năm vừa qua, nhiệt độ
trung bình năm tăng 0,5-0,7°C và lượng
mưa hàng năm giảm khoảng 2% trong
vòng 50 năm qua (1958-2007) Sự thay đổi
khí hậu khu vực đã thay đổi điều kiện thủy
văn khu vực và sau đó ảnh hưởng nguồn
nước khu vực tại Việt Nam Biến đổi khí
hậu đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là lũ,
hạn hán ngày càng tăng
Hệ thống sông Đồng Nai là hệ thống sông
lớn thứ hai ở phía Nam, và đứng thứ ba
toàn quốc, lưu vực rộng lớn của nó gần
như nằm trọn trong địa phận nước ta Tổng
lượng dòng chảy hàng năm của lưu vực là
khoảng 37,4 tỉ m3, lượng mưa trung bình
2.000 mm/năm và lượng bốc thoát hơi
trung bình 1.200 mm/năm Lưu vực biểu
hiện rõ nét biến đổi dòng chảy theo mùa
với 80 đến 90%, lượng mưa tập trung vào
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 Do đó,
tại lưu vực này thường xảy ra tình trạng
cạn kiệt dòng chảy vào mùa khô nhưng lại
lũ lụt vào mùa mưa Lưu vực hệ thống
sông Đồng Nai là vùng kinh tế năng động
nhất nước ta, đồng thời đây cũng là vùng
có mức đô thị hóa cao nhất nước, với nhu
cầu sử dụng nước ngày càng cao, đòi hỏi
việc nghiên cứu đánh giá các thay đổi về TNN tại lưu vực này trong bối cảnh xét đến tác động của BĐKH trong tương lai Với vị trí khu vực nghiên cứu là thượng lưu lưu vực sông Đồng Nai, ảnh hưởng trực tiếp đến TNN của cả lưu vực, do đó cần có những nghiên cứu để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ nguồn nước và đảm bảo cấp nước cho đời sống và sản xuất của vùng Kết quả của nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách trong công tác quản lý tài nguyên nước
và phát triển kinh tế xã hội của vùng
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu nằm trong lưu vực sông Đồng Nai, phần thượng nguồn tính từ
hồ Trị An, bao gồm 2 lưu vực sông chính: thượng nguồn sông Đồng Nai: bắt nguồn
từ phía Bắc cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang), phía Nam dãy Trường Sơn (108o42'10'' Đông và 12o12'10'' Bắc) đến
hồ thủy điện Trị An; và Sông La Ngà: đây
là một phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai, nó là con sông nhánh có một phần lưu vực nằm trên đất Đồng Nai đổ vào sông chính ở xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, cách cầu La Ngà 5 km về phía thượng lưu Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc, nơi hợp lưu của ba con suối nhỏ là: RơNha, ĐacToren và ĐacNo ở độ cao trung bình hơn 1.000 m, nơi cao nhất tới 1.460 m Lưu vực của sông gồm phần lớn diện tích huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng), Tánh Linh (Bình Thuận), Tân Phú, Định Quán (Đồng Nai)
Trang 31Hình 1 Khu vực nghiên cứu
Đặc điểm cơ bản của khí hậu trên toàn lưu
vực là phân hoá theo mùa sâu sắc Mỗi
năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Mùa khô trùng với gió mùa Đông vốn là
luồng tín phong ổn định, mùa mưa trùng
với gió mùa Hạ mang lại những khối
không khí nhiệt đới và xích đạo nóng ẩm
với những nhiễu động khí quyển thường
xuyên Khí hậu vùng có nền nhiệt độ cao
và hầu như không có những thay đổi đáng
kể trong năm Nhiệt độ trung bình năm ở
vùng này đạt tới 26 - 27oC Chênh lệch
giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất
và tháng lạnh nhất không quá 4 - 5oC Về
nhiệt độ, lưu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp
chế độ nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung
bình năm toàn lưu vực khoảng 25oC
Mô hình thủy văn SWAT
SWAT là mô hình thủy văn ở cấp độ lưu
vực, mô hình dựa trên các quá trình vật lý,
với sự hỗ trợ của máy tính và khả năng mô
phỏng liên tục trong khoảng thời gian dài
Các thành phần chính của mô hình bao
gồm thời tiết, thủy văn, tính chất và nhiệt
độ của đất, sự phát triển cây trồng, dưỡng
chất, thuốc trừ sâu, vi khuẩn và mầm bệnh
và quản lý đất đai Trong mô hình SWAT
lưu vực được phân chia thành các tiểu lưu
vực Mỗi tiểu lưu vực sau đó được chia
thành các đơn vị thủy văn (Hydrologic
Response Unit- HRU) dựa trên những đặc
trưng đồng nhất về sử dụng đất, thổ
nhưỡng, độ dốc Xét về toàn lưu vực thì
mô hình SWAT là một mô hình phân bố
Mô hình này chia dòng chảy thành 3 pha: pha mặt đất, pha dưới mặt đất và pha trong sông Pha mặt đất diễn tả các phần dòng chảy mặt, phần xói mòn Pha sát mặt diễn
tả các thành phần dòng chảy sát mặt, dòng chảy ngầm Pha trong sông diễn tả diễn toán lượng dòng chảy tới mặt cắt cửa ra của lưu vực
Bảng 1 Mô tả dữ liệu đầu vào của mô
hình SWAT
Dữ liệu
Độ phân giải Nguồn Mô tả
Sub-Bản đồ sử dụng đất LVSDN năm 2000
Dữ liệu
2 trạm (1981-2008) bao gồm nhiệt
độ lớn nhất, nhỏ nhất
Dữ liệu lưu
3 trạm Tà Pao, Tà Lài, Phú Hiệp
Mô hình dự báo thủy văn ở mỗi HRU bằng cách sử dụng phương trình cân bằng nước:
SW
1 0
Với : SWt (mm H2O): Tổng lượng nước tại cuối thời đoạn tính toán, SWo (mm H2O): Tổng lượng nước trong đất tại thời điểm ban đầu, t (ngày): Thời gian, Rday (mm
H2O): Tổng lượng mưa tại ngày thứ I, Qsurf(mm H2O): Tổng lượng nước mặt ngày thứ
i, Ea (mm H2O): Lượng bốc thoát hơi tại
Trang 32ngày thứ i, wseep (mm H2O): Lượng nước
ngầm ngày thứ i, Qgw (mm H2O): Lượng
nước ngầm cung cấp cho sông ngày thứ i
Dữ liệu đầu vào phục vụ cho mô hình
SWAT được trình bày trong Bảng 1
Công cụ chi tiết hóa SDSM
SDSM (Statistical Downscaling Model) là
một công cụ phát sinh dữ liệu thời tiết để
dự tính khí hậu cho một khu vực cụ thể
Mô hình SDSM ước lượng mối quan hệ
thống kê dựa trên các kỹ thuật hồi quy
tuyến tính giũa biến khí hậu quy mô toàn
cầu (nhân tố dự báo) với các biến khí ậu
địa phương Mối quan hệ này được thể
hiện bằng phương trình như sau:
R = F(L)
Trong đó:
R: đối tượng được dự báo (biến khí hậu địa
phương như lượng mưa hoặc nhiệt độ);
L: đối tượng dùng để dự báo (các biến khí
hậu ở quy mô lớn như quy mô toàn cầu);
F: hàm tất định hoặc hàm ngẫu nhiên
Dữ liệu đầu vào của mô hình SDSM bao
gồm dữ liệu mưa của 10 trạm Bảo Lộc, Đà
Lạt, Di Linh, Túc Trưng, Tà lài, Tà Pao,
Trị An, Liên Khương, Xuân Lộc, Đak
Nông và dữ liệu từ mô hình toàn cầu GCM
với 3 kịch bản:
- CAN2 (RCP2.6): kịch bản phát triển thuộc loại thấp, nhiệt lượng bức xạ mặt đất nhận ít hơn 3 watt cho một 1m2 (3W/m2);
- CAN4 (RCP4.5): kịch bản ổn định trung gian trong đó cưỡng bức bức xạ được ổn định ở mức khoảng 4,5 W/m2;
- CAN8 (RCP8.5): kịch bản thuộc loại cao
mà bức xạ mặt đất nhận được sẽ lớn hơn 8,5 W/m2 và tiếp tục tăng sau kỳ dự đoán
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Xây dựng kịch bản BĐKH
Nghiên cứu sử dụng mô hình SDSM 5.2 để thiết lập kịch bản BĐKH vùng nghiên cứu Sau quá trình sàn lọc các biến để chọn ra được những biến có mối tương quan cao giữa các biến dùng để dự báo với các biến khí hậu địa phương Quá trình hiệu chỉnh
và kiểm định được thực hiện Quá trình hiệu chỉnh mô hình sử dụng chuỗi dữ liệu giai đoạn 1980-1990 bao gồm lượng mưa
và các số liệu NCEP của giai đoạn tương ứng để phát sinh hệ số phương trình hồi quy được lưu dưới dạng file *.PAR Sử dụng công cụ Weather Generator để phát sinh chuỗi số liệu dựa vào chuỗi số liệu quan trắc mưa giai đoạn 1991-2001 (giai đoạn kiểm định)
Bảng 2 Kết quả mô phỏng giai đoạn hiệu chỉnh của mô hình SDSM
STD 160,3 169,05 110,3 95,5 103,3 173,5 197,3 156,9 171,1 164,1
Trang 33Bảng 3 Kết quả mô phỏng cho giai đoạn kiểm định của mô hình SDSM
Lộc
Đăk Nông
Đà Lạt
Di Linh
Liên Khương
Tà Lài
Tà Pao
Trị
An
Túc Trưng
Xuân Lộc
STD 147,5 143,4 96,4 87,5 95,2 185,1 196,4 143,9 149,1 156,3 Kết quả cho thấy chênh lệch giữa lượng
mưa trung bình ngày giữa giá trị thực đo và
mô phỏng trong giai đoạn hiệu chỉnh nằm
trong khoảng 0,02 – 1,04 mm/ngày, với
giai đoạn kiểm định là 0,02 – 1,08
mm/ngày Theo tháng, chênh lệch giữa thực
đo và mô phỏng trong khoảng 0,53 – 31,79
mm/tháng cho giai đoạn hiệu chỉnh và 0,46
– 33,02 mm/tháng cho giai đoạn kiểm định
Các giá trị hệ số tương quan R2 dao động từ
0,01 – 0,1; sai số quân phương RMSE giao động trong khoảng 9,24 – 20,59 và sai số chuẩn STD trong khoảng 5,00 – 14,87 cho thống kê theo ngày Đối với thống kê theo tháng, các giá trị R2, RMSE và STD nằm trong các khoảng tương ứng là 0,24 – 0,61; 65,79 – 157,47 và 95,57 – 197,31 Kết quả này cho thấy mức độ phù hợp giữa số liệu khí tượng thủy văn mô phỏng và số liệu quan trắc
Hình 2 Sự thay đổi lượng mưa trung bình tháng theo kịch bản CAN2
Trang 34Hìn h 3 Sự thay đổi lượng mưa trung bình tháng theo kịch bản CAN4
Phát sinh các kịch bản (sử dụng các biến dự
báo của mô hình toàn cầu): Các kịch bản
BĐKH cho lưu vực nghiên cứu được xây
dựng từ giá trị kết quả mô phỏng của mô
hình CMIP5 cho 3 kịch bản CAN2, CAN4
và CAN8 trong 3 giai đoạn: giai đoạn 2025,
2055, và 2085 Sự thay đổi lượng mưa trong tương lai ứng với 3 giai đoạn theo từng kịch bản được thể hiện trong hình 2, 3
và 4
Hình 4 Sự thay đổi lượng mưa trung bình tháng theo kịch bản CAN8
Trang 35Phân tích các kịch bản về sự thay đổi
lượng mưa trong tương lai thể hiện sự
tăng nhẹ của lượng mưa năm Lượng mưa
trung bình thay đổi 5,5% giai đoạn 2025
và 2,7% ở giai đoạn 2055 và 2,2% giai
đoạn 2085
Mô phỏng dòng chảy
Trước khi tiến hành hiệu chỉnh thì phân
tích độ nhạy được tiến hành trước để lựa chọn các thông số nhạy nhất nhằm tiết kiệm thời gian hiệu chỉnh và kiểm định
mô hình Sau khi phân tích độ nhạy của
19 thông số, SWAT-CUP cho ra 11 thông
số có ảnh hưởng mạnh nhất đến kết quả
mô phỏng dòng chảy của mô hình hình
5
Hình 5 Kết quả phân tích độ nhạy 19 thông số
Dựa trên kết quả phân tích độ nhạy chọn
được 11 thông số thỏa mãn gồm TLAPS,
SURLAG, SOL_K, SOL_AWC,
GW_REVAP, CH_K2; CH_N2,
CANMX, ESCO, CN2, ALPHA_BF
Hiệu chỉnh và kiểm định dòng chảy
Hiệu chỉnh, kiểm định dòng chảy được
thực hiện cho 3 trạm thủy văn chính của
lưu vực gồm Tà Lài, Tà Pao và Phú Hiệp
Để chứng minh tính hiệu quả của mô hình
trong việc mô phỏng dòng chảy thực đo,
nghiên cứu tiến hành mô phỏng kết quả
hiệu chỉnh và kiểm định với dữ liệu lưu
lượng trên các trạm thủy văn chính trên lưu vực theo dữ liệu ngày và dữ liệu tháng
Các giá trị hiệu chỉnh chỉnh của 11 thông
số thủy văn trong SWAT-CUP được đưa vào mô hình SWAT để thay đổi các giá trị mặc định của mô hình Tiến hành mô phỏng dòng chảy tại 3 trạm trong khoảng thời gian từ 1980-2013 Kết quả mô phỏng của mô hình và dữ liệu quan trắc tại 3 trạm sẽ được so sánh bằng đồ thị và các giá trị thống kê như R2, NSE, RSR và PBIAS
Bảng 4 Kết quả hiệu chỉnh và điểm định của mô hình SWAT
NSE PBIAS RSR R 2 NSE PBIAS RSR R 2
Tà Lài
HC:
1987-1989
0,74 6,13 0,43 0,76 0,79 -3,07 0,47 0,79 KĐ: 1990-
Trang 36Kết quả hiệu chỉnh kiểm định theo giá trị
ngày cho thấy trong giai đoạn hiệu chỉnh
giá trị NSE giao động trong khoảng
0,59-0,74; giá trị PBIAS trong khoảng 6,13 –
22,14; giá trị RSR trong khoảng 0,43 –
0,61 và giá trị R2 giao động trong 0,53 –
0,76 Trong giai đoạn hiệu chỉnh NSE,
khoảng 0,47 – 0,69; -3,07 – 7,55; 0,4 –
0,69; 0,48 – 0,79 Các khoảng giá trị này
đều nằm trong mức hợp lý cho mô phỏng
mô hình Kết quả mô phỏng cho giai đoạn
hiệu chỉnh và kiểm định trạm Tà Lài được
chi tiết tại các hình 6 và 7
Nhìn chung, kết quả hiệu chỉnh và kiểm
định lưu lượng dòng chảy theo ngày tại 3
trạm thủy văn trên thượng lưu vực sông
Đồng Nai cho thấy mức độ tương quan
khá tốt giữa chuỗi dữ liệu thực đo và mô
phỏng Tại trạm thủy văn Tà Lài, tương
quan giữa dữ liệu thực đo và mô phỏng
khá tốt trong toàn giai đoạn từ 1987-2013
Tuy nhiên, tại các trạm thủy văn còn lại,
tương quan ở mức khá, kết quả mô phỏng
vẫn chưa thực sự tốt vào thời điểm đỉnh
lũ và giai đoạn sau khi thi công hồ chứa ở
khu vực thượng nguồn Điều này có thể
do sự phân bố không gian giữa các trạm
mưa trong lưu vực và do nghiên cứu còn
thiếu các số liệu hồ chứa khi mô phỏng
lưu lượng nước trên lưu vực này, điều
này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả mô
phỏng của mô hình sau giai đoạn thi công
hồ chứa thượng nguồn
Hình 6 Hiệu chỉnh theo ngày trạm Tà
Lài giai đoạn (1987-1989)
Một lý do khác, sai khác có thể đến từ
tham số CN dùng để mô phỏng dòng chảy
tràn bề mặt Phương pháp tính số hiệu
đường cong CN2 có thể là không phù hợp
cho khí hậu nhiệt đối gió mùa ở Việt Nam, bởi vì phương pháp tính CN2 này được phát triển dựa vào mối quan hệ giữa mưa
và dòng chảy tràn từ các lưu vực với ưu thế là đất nông nghiệp ở Mỹ (Neitsch và cộng sự, 2011)
Hình 7 Kiểm định theo ngày trạm Tà Lài
giai đoạn (1990-2013) Bên cạnh mặt hạn chế kể trên, kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình đã chỉ
ra rằng mô hình SWAT có thể mô phỏng tốt dòng chảy cho thượng lưu vực sông Đồng Nai trong giai đoạn hiện trạng và có thể sử dụng bộ thông số hiệu chỉnh này cho mô phỏng dòng chảy dưới ảnh hưởng của các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai
Đánh giá ảnh hưởng BĐKH lên tài nguyên nước
Để đánh giá tác động của BĐKH lên tài nguyên nước lưu vực nghiên cứu, các kịch bản được xem xét gồm:
Kịch bản hiện trạng (baseline): sử dụng chuỗi dữ liệu khí tượng thực đo giai đoạn 1980-2005
Kịch bản xem xét ảnh hưởng BĐKH:
sử dụng dữ liệu khí tượng từ kết quả mô hình SDSM ứng với 3 mức phát thải: CAN2 (RCP2.6); CAN4 (RCP4.5) và CAN8 (RCP8.5)
Các dữ liệu về địa hình, sử dụng đất, thổ nhưỡng dùng cho các kịch bản được xem như không đổi
Ảnh hưởng của BĐKH lên tài nguyên nước thượng lưu vực sông Đồng Nai, so sánh với kịch bản hiện trạng được thể hiện ở hình 8, 9 và 10
Các dữ liệu về địa hình, sử dụng đất, thổ nhưỡng dùng cho các kịch bản được xem như không đổi
Trang 37Hình 8 Thay đổi lưu lượng theo kịch bản
Mô hình SWAT cho kết quả mô phỏng khá tốt so với thực tế, điều này được chứng minh bằng đồ thị so sánh đường quá trình lưu lượng dòng chảy mô phỏng
và thực đo, và qua các giá trị thống kê (chỉ số R2, NSE, PBIAS, và RSR) là phù hợp theo tiêu chí hiệu quả mô phỏng của Moriasi và cộng sự (2007) Đây là bước tiền đề để nghiên cứu tiếp tục tiến hành
mô phỏng các ảnh hưởng của BĐKH trên lưu vực này Nghiên cứu đã đưa ra được các kịch bản BĐKH theo từng thời đoạn cho vùng thượng lưu vực sông Đồng Nai giai đoạn 2015-2100 với độ tin cậy khá cao
Dưới tác động của BĐKH, lưu lượng dòng chảy và các thành phần cân bằng nước được dự báo là tăng, ngoại trừ dòng chảy ngầm và độ ẩm trong đất Điều này được giải thích là do sự tăng nhiệt độ và lượng mưa trong tương lai Tác động của BĐKH được dự báo có thể gây nên sự khan hiếm nước trong mùa khô Kết quả nghiên cứu được xem là kết quả đánh giá ban đầu về TNN ở thượng lưu vực sông Đồng Nai với các số liệu cập nhật mới nhất về BĐKH Kết quả có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, khuyến cáo về các tác động có thể có do BĐKH đến TNN lưu vực, từ đó chủ động đưa ra các giải pháp thích ứng phù hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
IPCC (2013) The Physical Science Basis Working group I contribution to the fifth
assessment report of the intergovernmental panel on climate change Cambridge
University Press, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA
ĐỖ TIẾN LANH (2010) Báo cáo tổng kết Đề tài Quản lý tổng hợp lưu vực và sử
dụng Tài nguyên nước hệ thống sông Đồng Nai, Mã số KC08.18/06-10
Trang 38NEITSCH, S L., ARNOLD, J G., KINIRY, J R., & WILLIAMS, J R (2011) Soil
and water assessment tool theoretical documentation version 2009 Texas Water
Resources Institute
WILBY, ROBERT L., CHRISTIAN W DAWSON, AND ELAINE M BARROW
(2002) SDSM-a decision support tool for the assessment of regional climate
change impacts Environmental Modelling & Software 17.2: 145-157