1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính có điều tiết bởi sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp Việt Nam

11 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 729,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết là đánh giá vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước đối với tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam. Mẫu nghiên cứu là 399 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2020, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có mục đích.

Trang 1

Việt Nam

Lê Hoàng Vinh - Lê Thị Thanh Hồng

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM

Ngày nhận: 29/09/2021 Ngày nhận bản sửa: 15/10/2021 Ngày duyệt đăng: 03/11/2021

Tóm tắt : Mục tiêu của bài viết là đánh giá vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước đối với tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam Mẫu nghiên cứu là 399 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2020, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có mục đích Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính và thống kê giao dịch

cổ phiếu của hệ thống FiinPro thuộc Công ty cổ phần tập đoàn FiinGroup Căn cứ kết quả ước lượng theo các phương pháp ước lượng cơ bản cho dữ liệu bảng, nhóm tác giả xác định FEM phù hợp hơn Pooled OLS và REM; tuy nhiên mô hình này lại

có hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, vì vậy nhóm tác giả khắc phục bằng phương pháp ước lượng GLS Kết quả ước lượng theo GLS đúc kết rằng

Impact of cash holdings on financial performance at Vietnamese firms with state ownership

as a moderating variable

Abstract: The aim of this paper is to access the moderating role of state ownership on the impact

of cash holdings on financial performance at Vietnamese firms The research sample is 399 non-financial firms listed in Vietnam in the period 2015-2020, selected by the purposive sampling method The research data is collected from financial statements and stock trading statistics of FiinGroup Corporation’s FiinPro system With the estimated results according to the basic methods for panel data analysis, we determined that FEM is more suitable than Pooled OLS and REM; however, the model has autocorrelation and heteroskedasticity problem As a result, we used the GLS estimation method

to fix them The final result concludes that cash holdings and state ownership have positive effects on financial performances of firms, and state ownership plays a moderating role to increase the impact of cash holdings on financial performance; accordingly, the article recommends cash management from

a financial view in non-financial firms with state ownership as a moderating variable.

Keywords: Cash holdings; Financial performance; State ownership

Le, Hoang Vinh

Email: vinhlh@uel.edu.vn

Le, Thi Thanh Hong

Email: hongltt19604@sdh.uel.edu.vn

Organization of all: University of Economics and Law, Vietnam National University - Ho Chi Minh City

Trang 2

lượng tiền nắm giữ và sở hữu nhà nước tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính,

và sở hữu nhà nước đóng vai trò điều tiết gia tăng tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp Theo đó, bài viết gợi ý và khuyến nghị dưới góc độ tài chính về quản trị tiền tại các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước.

Từ khóa : Nắm giữ tiền, Hiệu quả tài chính, Sở hữu nhà nước

1 Giới thiệu

Tiền được xem như là máu để nuôi

sống doanh nghiệp (Lee, 1986; Atrill &

McLaney, 2017), nếu tỷ trọng lượng tiền

nắm giữ trong tổng tài sản càng lớn thì

doanh nghiệp càng gia tăng thêm sự ổn

định, đảm bảo khả năng chi trả các khoản

nợ vay đến hạn, chi trả lãi vay, hay các

trách nhiệm tài chính khác Mức độ nắm

giữ tiền tùy vào đặc điểm riêng của từng

doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hiệu quả tài

chính, được giải thích bởi lý thuyết đánh

đổi của Myers (1977), lý thuyết trật tự phân

hạng của Myers & Majiluf (1984) và lý

thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986)

Ngoài ra, mô hình lý thuyết quản trị tiền

được đề xuất bởi Baumol (1952), Miller

& Orr (1966) cũng đã cung cấp công cụ

chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần phải xác

định lượng tiền nắm giữ nhằm tối thiểu hóa

chi phí liên quan cũng như đảm bảo thanh

khoản và động cơ khác, góp phần đạt hiệu

quả quản trị tài chính của doanh nghiệp

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cung

cấp minh chứng đáng tin cậy về hiệu quả

tài chính chịu sự tác động cùng chiều

bởi nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp

(Couderc, 2005; Saddour, 2006; Naoki,

2012; Vijayakumaran & Atchyuthan,

2017; Rocca & cộng sự, 2019; Rocca &

Cambrea, 2019; Jabbouri & Almustafa,

2020; Kristanto & cộng sự, 2019; Ifada

& cộng sự, 2020; Yun & cộng sự 2020),

trong khi đó Cheryta & cộng sự (2018) lại

khẳng định mối quan hệ tác động ngược

chiều Mở rộng hơn, các nghiên cứu còn đánh giá vai trò điều tiết của các yếu tố

có liên quan đối với tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính, chẳng hạn chất lượng thể chế và hệ thống tài chính (Rocca

& cộng sự, 2019), quyết định đầu tư và tỷ

số nợ (Kristanto & cộng sự, 2019), vấn đề quản trị và sở hữu (Yun & cộng sự, 2020; Kristanto & cộng sự, 2019)

Với bối cảnh các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, Nhà nước vẫn đóng vai trò đáng kể với tỷ lệ sở hữu tại các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu của bài viết trung bình là 25,73% Vì vậy, trong phạm

vi bài viết này, nhóm tác giả sẽ đánh giá tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính đối với trường hợp các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, mở rộng hơn

so với các bằng chứng thực nghiệm trên cơ

sở phân tích vai trò điều tiết mối quan hệ tác động này bởi yếu tố sở hữu nhà nước

2 Cơ sở lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm và giả thuyết nghiên cứu

Lý thuyết đánh đổi được đề xuất bởi Opler

& cộng sự (1999) cho rằng doanh nghiệp

có thể xác định một mức nắm giữ tiền bằng cách cân bằng chi phí biên của việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao và lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền Lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền sẽ làm giảm khả năng kiệt quệ tài chính, cho phép doanh nghiệp thực hiện đầu tư tối ưu, tránh các chi phí phát sinh của việc tài trợ từ bên ngoài hay thanh lý các tài sản của doanh

Trang 3

nghiệp Không những thế, lợi ích của việc

nắm giữ tiền còn được đúc kết dựa trên lý

thuyết thanh khoản của Keynes (1936) với 3

động cơ là giao dịch, phòng ngừa và đầu cơ,

khẳng định lượng tiền được nắm giữ sẽ cho

phép các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí

giao dịch, đảm bảo thanh khoản và gia tăng

cơ hội chấp nhận dễ dàng đối với các khoản

đầu tư mới, theo đó hiệu quả tài chính của

doanh nghiệp được kỳ vọng cải thiện hơn

Lý thuyết trật tự phân hạng được đề xuất

bởi Myers (1984), cho rằng các nhà quản

lý doanh nghiệp có thể tự quyết định thứ tự

tài trợ vốn sao cho giảm thiểu chi phí bất

cân xứng thông tin và các chi phí tài chính

khác, theo đó các doanh nghiệp ưu tiên sử

dụng nguồn tài trợ nội bộ so với nguồn tài

trợ bên ngoài Tuy nhiên, sự ưu tiên vừa đề

cập có thể phát sinh những tiêu cực đối với

hoạt động kinh doanh bởi yếu tố sẵn có của

tiền làm gia tăng khả năng xảy ra vấn đề đại

diện, hiện tượng đầu tư quá mức và nguy

cơ tổn thất từ gian lận (Brealey & cộng sự,

2008; Dittmar & cộng sự, 2003) Opler &

cộng sự (1999) sử dụng lý thuyết trật tự phân

hạng để phân tích mối quan hệ giữa nắm giữ

tiền với hiệu quả doanh nghiệp, kết quả tìm

thấy là tác động cùng chiều, Pinkowitz &

Williamson (2002) cũng ủng hộ kết quả này

và cho rằng lượng tiền sẵn có sẽ đáp ứng, hỗ

trợ cho doanh nghiệp trong bất kỳ giai đoạn

khủng hoảng hay phát sinh những bất trắc

trong quá trình hoạt động

Kornai (1979, 1998) cho rằng các doanh

nghiệp nhà nước tại Hungary thua lỗ triền

miên nhưng không bao giờ phá sản bởi

chính sách giải cứu hoặc cứu trợ của Chính

phủ, theo đó tác giả này đề xuất lý thuyết

ràng buộc ngân sách mềm (soft-budget

constraint) Kornai & cộng sự (2003) cũng

cho rằng Chính phủ có thể triển khai các

gói hỗ trợ, tín dụng ưu đãi hoặc hỗ trợ gián

tiếp để giảm bớt sự hạn chế ngân sách của

doanh nghiệp có sở hữu nhà nước Theo đó,

Lý thuyết ràng buộc ngân sách mềm cho rằng nguyên nhân chính của sự kém hiệu quả của doanh nghiệp là vấn đề sở hữu nhà nước điều tiết, một doanh nghiệp với tỷ lệ

sở hữu nhà nước cao sẽ có khuynh hướng giảm lượng dự trữ tiền bởi sự dễ dàng tiếp cận tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ngay cả khi doanh nghiệp đang khó khăn về tài chính và mất khả năng tiếp cận các nguồn vốn tư nhân bên ngoài Megginson & cộng sự (2014) cho rằng sở hữu nhà nước càng cao sẽ dễ dàng dẫn đến hạn chế sự ràng buộc ngân sách mềm, có khả năng phát sinh những vấn đề tiêu cực hơn, các khoản đầu tư mang tính chính trị với mức sinh lời thấp được ưu tiên hơn và xảy ra hiện tượng đầu tư dưới mức, suy giảm hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Như vậy, sở hữu nhà nước không chỉ là yếu

tố tác động ngược chiều đến hiệu quả tài chính, mà còn đóng vai trò điều tiết giảm tác động của lượng tiền nắm giữ đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp

Nhiều bằng chứng thực nghiệm đã khẳng định tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả doanh nghiệp với những lựa chọn khác nhau về thước đo làm đại diện tùy theo bối cảnh nghiên cứu cụ thể Tỷ lệ nắm giữ tiền tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính được đúc kết bởi nghiên cứu của Couderc (2005) với trường hợp các doanh nghiệp tại Canada, Pháp, Đức, Anh và Mỹ trong giai đoạn 1989-2002, Saddour (2006) với trường hợp các doanh nghiệp ở Pháp từ năm 1998 đến năm 2002, và Naoki (2012) cho trường hợp các doanh nghiệp niêm yết tại Nhật Bản trong giai đoạn 1980-2010 Vijayakumaran & Atchyuthan (2017) lựa chọn phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Colombo trong giai đoạn 2011- 2015, Rocca & cộng sự (2019) xem xét các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Châu

Âu từ năm 2008 đến năm 2015 Rocca &

Trang 4

Cambrea (2019) chọn các doanh nghiệp lớn

ở Italia trong giai đoạn 1980- 2015, Jabbouri

& Almustafa (2020) phân tích trường hợp

các doanh nghiệp tại các thị trường mới

nổi khu vực Trung Đông và Bắc Phi trong

giai đoạn 2004- 2018, Kristanto & cộng sự

(2019) nghiên cứu trường hợp các công ty

niêm yết trên SGDCK Indonesia trong giai

đoạn 2001- 2017, Ifada & cộng sự (2020)

sử dụng dữ liệu của các công ty sản xuất

niêm yết trên SGDCK Indonesia trong thời

kỳ 2016- 2018, Yun & cộng sự (2020) đánh

giá trường hợp các doanh nghiệp tại Trung

Quốc trong giai đoạn 2003- 2016, đều tìm

thấy kết quả tác động cùng chiều của nắm

giữ tiền đến hiệu quả doanh nghiệp

Trong khi đó, Anagnostopoulou (2013)

phân tích tác động của nắm giữ tiền đến

hiệu quả doanh nghiệp tại Anh trong giai

đoạn 2001-2009, đúc kết rằng nắm giữ tiền

tác động cùng chiều đến hiệu quả doanh

nghiệp với phạm vi không gian là các công

ty tư nhân, trong khi đó mối quan hệ này

không ý nghĩa cho trường hợp công ty đại

chúng Theo đó tác giả hàm ý rằng kết quả

thực nghiệm được tìm thấy là biểu hiện đại

diện chứng minh cho những hạn chế trong

việc thực hiện tăng vốn của các công ty

chưa niêm yết so với đã niêm yết

Cheryta & cộng sự (2018) đánh giá tác

động của đòn bẩy tài chính, lợi nhuận,

thông tin bất cân xứng, quy mô doanh

nghiệp đến nắm giữ tiền và giá trị công

ty cho trường hợp các doanh nghiệp niêm

yết trên thị trường chứng khoán (TTCK)

Indonesia trong giai đoạn 2012- 2015

Nhóm tác giả khẳng định rằng đòn bẩy

tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ

nắm giữ tiền, khả năng sinh lời ảnh hưởng

cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền và giá trị

công ty, trong khi đó tỷ lệ nắm giữ tiền lại

ảnh hưởng ngược chiều đến giá trị công ty,

và tỷ lệ nắm giữ tiền cũng sẽ đóng vai trò

trung gian cho mối quan hệ giữa bất cân

xứng thông tin với quy mô doanh nghiệp Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm còn cung cấp bằng chứng tác động cùng chiều của nắm giữ tiền hiệu quả doanh nghiệp sẽ trở nên mạnh hơn bởi chất lượng thể chế kém và hệ thống tài chính kém phát triển (Rocca & cộng sự, 2019), bởi đầu tư, sở hữu

tổ chức và thành viên độc lập (Kristanto & cộng sự, 2019), bởi chỉ số quản trị doanh nghiệp và sở hữu nhà nước (Yun & cộng sự, 2020) Ngược lại, sự điều tiết làm giảm tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả doanh nghiệp bởi yếu tố sở hữu nội bộ và tỷ số nợ theo kết quả nghiên cứu của Kristanto & cộng sự (2019), bởi sở hữu gia đình và sở hữu tập trung theo đúc kết của Yun & cộng

sự (2020) Mặc dù Ifada & cộng sự (2020) đưa ra thêm bằng chứng về tác động của đòn bẩy tài chính đến tỷ lệ nắm giữ tiền nhưng việc nắm giữ tiền lại không đóng vai trò trung gian cho mối quan hệ giữa đòn bẩy đối với hiệu quả tài chính được đại diện bởi giá trị doanh nghiệp

Anton & Nucu (2019) khẳng định tác động phi tuyến bậc 2 của nắm giữ tiền đến giá trị công ty thông qua phân tích dữ liệu từ

719 công ty phi tài chính niêm yết tại Ba Lan trong giai đoạn 2007- 2016, cụ thể là mối quan hệ theo hình chữ U ngược và tỷ lệ nắm giữ tiền tối ưu là 27,06% trong tổng tài sản Alnori (2020) cũng tìm thấy tác động phi tuyến tương tự khi phân tích trường hợp các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết ở Ả Rập trong giai đoạn 2005- 2016, và giải thích rằng kết quả này minh chứng cho

lý thuyết đánh đổi về mức dự trữ tiền tối ưu dựa trên cân đối lợi ích và chi phí liên quan Nisasmara & Musdholifah (2016) phân tích các công ty thuộc lĩnh vực bất động sản niêm yết trên SGDCK Indonesia trong giai đoạn 2008- 2013, nhóm tác giả lại không tìm thấy bằng chứng đáng tin cậy về ảnh hưởng của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính được đại diện bởi giá trị doanh

Trang 5

nghiệp và khả năng sinh lời cũng cho kết

quả tương tự Tuy nhiên, cấu trúc vốn và

quản trị công ty ảnh hưởng cùng chiều đến

giá trị doanh nghiệp

Căn cứ lược khảo nghiên cứu thực nghiệm,

nhóm tác giả nhận thấy có 3 xu hướng

nghiên cứu chủ yếu về tác động của nắm

giữ tiền đến hiệu quả tài chính tại các

doanh nghiệp phi tài chính, bao gồm (i) tác

động tuyến tính và độc lập, tập trung vào

kết quả cùng chiều, (ii) tác động phi tuyến

bậc 2 và ủng hộ kết quả dạng hình chữ U

ngược, và (iii) tác động tuyến tính có điều

tiết bởi các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp

hay môi trường hoạt động, chẳng hạn như

đầu tư, nợ, quản trị công ty, vấn đề sở hữu,

chất lượng thể chế hay một số yếu tố khác,

và kết quả tạo nên tác động mạnh hơn hay

xoa dịu tùy trường hợp cụ thể Tuy nhiên,

các bằng chứng cho xu hướng (iii) chưa đa

dạng và tác động điều tiết của các yếu tố

cũng không giống nhau giữa các công ty

trong những bối cảnh môi trường hoạt động

khác nhau Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng

bài viết này sẽ cung cấp minh chứng thực

tiễn cho trường hợp các doanh nghiệp phi

tài chính niêm yết tại Việt Nam về tác động

của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính khi

có điều tiết bởi sở hữu nhà nước Theo đó,

nhóm tác giả đặt ra hai giả thuyết nghiên

cứu như sau:

Giả thuyết H1: Nắm giữ tiền tác động cùng

chiều đến hiệu quả tài chính

Giả thuyết H2: Sở hữu nhà nước có điều tiết

tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài

chính

3 Mô hình nghiên cứu

Bài viết đánh giá vai trò điều tiết của sở

hữu nhà nước đối với tác động của nắm

giữ tiền đến hiệu quả tài chính cho trường

hợp doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại

Việt Nam, căn cứ vào lược khảo lý thuyết,

bằng chứng thực nghiệm và đúc kết giả thuyết nghiên cứu tại mục 2, mô hình hồi quy như sau:

PERFi,t = β0 + β1 * CASHi,t + β2 * SOWNi,t + β3 * (SOWN*CASH)i,t + β4 * LEVi,t + β5 * SIZEi,t + β6 * TANGi,t + β7 * GROWTHi,t + εi,t

Trong đó: β là hệ số hồi quy, i và t tương ứng với từng doanh nghiệp và theo từng năm và ε là sai số của mô hình

Biến phụ thuộc là hiệu quả tài chính (PERF), theo đó quản trị tài chính xác định mục tiêu cuối cùng là tạo ra giá trị và sự gia tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp Vì vậy biến này được đo lường biến này bằng Tobin’s Q, sử dụng dữ liệu thị trường và bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp Biến độc lập là nắm giữ tiền (CASH), thể hiện lượng tiền (kể cả các khoản tương đương tiền) được duy trì trong danh mục tài sản của doanh nghiệp, theo đó biến này được đo lường bởi tỷ lệ lượng tiền nắm giữ (kể cả các khoản tương đương tiền) trên tổng tài sản, sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp

Biến điều tiết là sở hữu Nhà nước (SOWN), thể hiện mức độ tham gia đầu tư vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp với tư cách là cổ đông, theo đó biến này được đo lường bởi tỷ

lệ sở hữu cổ phiếu của Nhà nước, sử dụng dữ liệu thống kê về tỷ lệ sở hữu Nhà nước Ngoài ra, mô hình có bao gồm các biến kiểm soát, bao gồm: (i) Đòn bẩy tài chính (LEV) thể hiện mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, được đo lường bởi tỷ số nợ, sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối kế toán, (ii) Quy mô doanh nghiệp (SIZE), được đo lường bằng logarit của tổng tài sản, sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối kế toán, (iii) Tài sản cố định hữu hình (TANG), thể hiện năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được

đo lường bằng tỷ trọng tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản, sử dụng dữ liệu từ

Trang 6

bảng cân đối kế toán, và (iv) Khả năng tăng

trưởng (GROWTH), thể hiện khả năng gia

tăng thị phần, sự thay đổi về mặt lượng

của doanh nghiệp, đo lường bởi tỷ lệ tăng

(giảm) doanh thu thuần từ bán hàng và cung

cấp dịch vụ, sử dụng dữ liệu từ báo cáo kết

quả kinh doanh của các doanh nghiệp

Bảng 1 tổng hợp các biến, cách đo lường

biến trong mô hình nghiên cứu của bài viết

4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp chọn mẫu có mục đích, các điều kiện đặt ra bao gồm: (i) Doanh nghiệp cung cấp đầy đủ báo cáo tài chính từ năm 2015 đến năm 2020, (ii) Tất cả báo cáo tài chính đã được kiểm toán và báo cáo kiểm toán phải ý kiến chấp nhận tính hợp lý và trung thực theo nguyên tắc trọng yếu, và (iii) Cổ phiếu của doanh nghiệp còn

Bảng 1 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu

PERF

Tổng giá trị

sổ sách của nợ + Tổng giá thị trườngcủa cổ phiếu

Tổng giá trị tài sản theo sổ sách

Anton & Nucu (2019), Ifada & cộng sự (2020), Kristanto & cộng sự (2019), Nisasmara & Musdholifah (2016)

CASH Tiền và các khoản tương đương tiềnTổng tài sản

Anton & Nucu (2019), Ifada &

cộng sự (2020), Naoki (2012), Anagnostopoulou (2013), Cheryta

và cộng sự (2018), Alnori (2020), Jabbouri & Almustafa (2020), Kristanto

& cộng sự (2019), Megginson & cộng

sự (2014)¸ Yun & cộng sự (2020), Vijayakumaran & Atchyuthan (2017), Rocca & cộng sự (2019).

SOWN Số lượng cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước

Tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp

Megginson & cộng sự (2014), Yun & cộng sự (2020)

Tổng tài sản

Anton & Nucu (2019), Ifada & cộng

sự (2020), Jabbouri & Almustafa (2020), Kristanto & cộng sự (2019), Yun & cộng sự (2020), Vijayakumaran

& Atchyuthan (2017), Rocca & cộng

sự (2019), Anagnostopoulou (2013), Cheryta và cộng sự (2018)

Anton & Nucu (2019), Cheryta và cộng sự (2018), Yun & cộng sự (2020), Rocca & cộng sự (2019), Vijayakumaran & Atchyuthan (2017)

Tổng tài sản

Vijayakumaran & Atchyuthan (2017), Yun & cộng sự (2020)

GROWTH

Doanh thu thuần

năm nay – Doanh thu thuần năm trước Doanh thu thuần năm trước

Jabbouri & Almustafa (2020), Kristanto

& cộng sự (2019), Vijayakumaran & Atchyuthan (2017), Yun & cộng sự (2020), Rocca & cộng sự (2019)

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Trang 7

niêm yết trên thị trường tính đến thời điểm

kết thúc năm tài chính 2020 Theo đó, bài

viết đã xác định được mẫu nghiên cứu gồm

399 doanh nghiệp, với phạm vi nghiên cứu

theo thời gian là giai đoạn 2015-2020; sự

lựa chọn từ năm 2015 này nhằm đảm bảo

tính nhất quán khi đo lường các chỉ tiêu

từ nguồn báo cáo tài chính được thực hiện

thống nhất theo Thông tư

200/2014/TT-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp

Bài viết sử dụng dữ liệu thứ cấp từ nguồn

hệ thống báo cáo tài chính của các doanh

nghiệp và các dữ liệu thị trường thông qua

hệ thống FiinPro do Công ty cổ phần tập

đoàn FiinGroup cung cấp Với dữ liệu dạng

bảng, kết quả nghiên cứu được xác định

bởi phương pháp nghiên cứu định lượng,

cụ thể là bài viết sẽ ước lượng kết quả hồi

quy theo mô hình hồi quy gộp (Pooled

OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và

mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kèm

theo là các kiểm định lựa chọn ước lượng

phù hợp Nếu có các hiện tượng phương sai

thay đổi và tự tương quan thì nhóm tác giả

sẽ khắc phục bởi phương pháp bình phương

nhỏ nhất tổng quát (GLS) để tăng thêm tính

vững chắc của kết quả ước lượng

5 Kết quả nghiên cứu

Dựa trên dữ liệu nghiên cứu, bài viết thực

hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, kết quả trình bày tại Bảng 2

Với thống kê mô tả tại Bảng 2, hiệu quả tài chính thể hiện qua chỉ số Tobin’ Q của các doanh nghiệp đạt giá trị trung bình là 1,0060, cho thấy giá trị thị trường vượt trội hơn so với giá trị sổ sách, độ lệch chuẩn chỉ

số này là 0,3956, giá trị thấp nhất là 0,0813

và cao nhất là 3,0263 Biến độc lập CASH được đại diện bởi tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản, trung bình của các doanh nghiệp trung bình là 9,11%, với độ lệch chuẩn là 8,37% Biến điều tiết SOWN được đại diện bởi số lượng

cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước trên tổng

số lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp, trung bình là 25,73%, theo đó Nhà nước đóng vai trò có ảnh hưởng đáng kể trong

thống kê mô tả về việc sử dụng nợ trung bình của các doanh nghiệp không quá 50% thể hiện bởi biến LEV, sự đa dạng về quy

mô doanh nghiệp thể hiện qua biến SIZE,

tỷ trọng đầu tư vào các tài sản cố định (TANG) trung bình 21,31% và nhìn chung, các doanh nghiệp đều có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn 2015 - 2020 thể hiện qua biến GROWTH

trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu và hệ số phóng đại phương

Bảng 2 Thống kê mô tả các biến

Nguồn: Xử lý từ dữ liệu nghiên cứu bằng Stata 15

Trang 8

sai (VIF) Kết quả chỉ ra rằng các biến giải

thích (CASH, SOWN, LEV, SIZE, TANG)

đều có tương quan dương với biến phụ

thuộc PERF với mức ý nghĩa 1%, ngoại trừ mối tương quan dương giữa biến kiểm soát GROWTH với biến phụ thuộc PERF

Bảng 3 Ma trận tương quan của các biến và VIF

SIZE 0,1046*** -0,0437** -0,1433*** 0,3089*** 1

TANG 0,1071*** 0,1625*** -0,1269*** -0,0460** 0,1103*** 1

Nguồn: Xử lý từ dữ liệu nghiên cứu bằng Stata 15 (***), (**) và (*) Mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5% và 10%

Bảng 4 Kết quả ước lượng và các kiểm định

CASH 0,8092***(6,36) -0,1103(-1,21) -0,2269**(-2,42) 0,5313***(11,52)

SOWN 0,0988**(2,27) -0,0435(-1,09) -0,1085**(-2,44) 0,0561***(4,64)

CASH*SOWN 0,3110(0,92) 0,1252(0,57) 0,1523(0,68) 0,3428**(2,53)

LEV 0,0774***(6,49) 0,0960***(7,76) 0,1081***(7,85) 0,0734***(11,24)

SIZE 0,0458***(3,88) 0,0289(1,45) 0,0152(0,51) 0,0349***(8,83)

TANG 0,2189***(5,77) 0,0922*(1,93) 0,0190(0,34) 0,2224***(17,22)

GROWTH 0,0016(1,28) 0,0017***(3,06) 0,0017***(3,01) 0,0010(0,99)

Hằng số -0,4154***(-5,55) -0,1486(-1,21) -0,0162(-0,09) -0,3335***(-13,97)

Kiểm định Hausman [0,0000]72,77

Kiểm định Modified Wald 6,2e+06[0,0000]

Kiểm định Wooldridge [0,0000]49,421

Nguồn: Xử lý từ dữ liệu nghiên cứu bằng Stata 15 (***), (**) và (*) Mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5% và 10%

Trang 9

không đảm bảo ý nghĩa thống kê Theo đó,

bài viết đúc kết rằng biến động hiệu quả

tài chính (PERF) của các doanh nghiệp phi

tài chính niêm yết tại Việt Nam có quan

hệ cùng chiều với biến động tỷ lệ nắm giữ

tiền (CASH), biến động sở hữu nhà nước

(SOWN), biến động đòn bẩy tài chính

(LEV), biến động mức độ đầu tư tài sản cố

định hữu hình (TANG) và biến động quy

mô doanh nghiệp (SIZE)

Ngoài ra, Bảng 3 còn cho thấy hệ số tương

quan giữa biến độc lập, biến điều tiết và các

biến kiểm soát là không cao, hệ số tương

quan dương thấp nhất là 0,0095 giữa LEV

với GROWTH và cao nhất là 0,3089 giữa

LEV với SIZE, hệ số tương quan âm nhiều

nhất là -0,2343 giữa LEV với CASH và ít

nhất -0,0152 giữa CASH với GROWTH,

theo đó tất cả các trường hợp hệ số tương

đều dưới 0,5 nên khẳng định hiện tượng

đa cộng tuyến không nghiêm trọng (Hair

& cộng sự, 2006; Gujarati, 2008), kết

quả này cũng được minh chứng và khẳng

định bởi hệ số phóng đại phương sai đều ở

mức không quá 2 (Hair & cộng sự, 2006;

Gujarati, 2008)

Bảng 4 trình bày kết quả ước lượng kèm

theo là các kiểm định Với dữ liệu bảng,

nhóm tác giả ước lượng theo các phương

pháp cơ bản là Pooled OLS, FEM và REM,

theo đó kiểm định Hausman và kiểm định

LM đều có ý nghĩa thống kê tại mức 1%

cho thấy FEM phù hợp hơn so với Pooled

OLS và REM

Tuy nhiên, kết quả kiểm định Wooldridge

và kiểm định Modified Wald trên FEM

đều có ý nghĩa thống kê với mức 1% cho

thấy mô hình có tồn tại hiện tượng tự tương

quan và phương sai sai số thay đổi, điều

này có thể dẫn đến kết quả ước lượng theo

FEM không vững chắc Do đó, nhóm tác

giả sử dụng phương pháp GLS khắc phục

tại cột cuối cùng của Bảng 4, theo đó biến

độc lập CASH, biến điều tiết SOWN và các biến kiểm soát LEV, SIZE và TANG đều thể hiện tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc PERF với mức ý nghĩa 1%, trong khi đó biến kiểm soát GROWTH cũng tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc PERF nhưng không đảm bảo mức ý nghĩa thống kê; ngoài ra, biến tương tác CASH*SOWN được tìm thấy hệ số hồi quy dương với mức

ý nghĩa thống kê 5%, kết hợp biến CASH

có hệ số hồi quy dương và chỉ ra rằng biến SOWN có ý nghĩa điều tiết tăng thêm tác động cùng chiều của biến CASH đến biến phụ thuộc PERF Kết quả ước lượng chỉ

ra rằng hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam chịu sự tác động cùng chiều bởi tỷ lệ nắm giữ tiền, và tác động này trở nên mạnh hơn khi có điều tiết bởi yếu tố sở hữu nhà nước, kết quả này ủng hộ giả thuyết nghiên cứu của bài viết Ngoài ra, kết quả ước lượng còn khẳng định hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp chịu sự tác động cùng chiều bởi đòn bẩy tài chính, sở hữu nhà nước, mức độ đầu tư tài sản cố định hữu hình và quy mô doanh nghiệp

6 Thảo luận và Kết luận

Kết quả ước lượng theo GLS chỉ ra rằng lượng tiền nắm giữ tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, kết quả này ủng hộ phân tích lợi ích của nắm giữ tiền theo lý thuyết đánh đổi theo nghiên cứu của Opler & cộng sự (1999) và lý thuyết thanh khoản của Keynes (1936), tương đồng với kết quả nghiên cứu thực

Couderc (2005), Saddour (2006), Naoki (2012), Vijayakumaran & Atchyuthan (2017), Rocca & cộng sự (2019), Rocca

& Cambrea (2019), Jabbouri & Almustafa (2020), Kristanto & cộng sự (2019), Ifada

Trang 10

& cộng sự (2020), Yun và cộng sự (2020)

Kết quả ngụ ý rằng các doanh nghiệp nắm

giữ lượng tiền cao làm tăng khả năng đảm

bảo cho sự an toàn, giảm thiểu nguy cơ kiệt

quệ tài chính trong quá trình hoạt động, do

đó doanh nghiệp được thị trường đánh giá

cao hơn, và giá trị doanh nghiệp gia tăng,

thể hiện sự gia tăng hiệu quả tài chính của

các doanh nghiệp

Sở hữu nhà nước không chỉ tác động cùng

chiều đến hiệu quả tài chính, mà còn điều

tiết tăng tác động của nắm giữ tiền đến hiệu

quả tài chính của doanh nghiệp phi tài chính

niêm yết tại Việt Nam Kết quả tác động

cùng chiều của sở hữu nhà nước đến hiệu

quả tài chính cung cấp minh chứng ngược

lại với giải thích từ lý thuyết ràng buộc

ngân sách mềm theo đề xuất của Kornai

(1979, 1998) cũng như nghiên cứu thực

tuy nhiên kết quả đã chứng minh và ủng hộ

sự tồn tại vai trò điều tiết của sở hữu nhà

nước, theo đó có thể giải thích cho trường

hợp các doanh nghiệp phi tài chính niêm

yết có sở hữu nhà nước tại Việt Nam rằng

sự xuất hiện của Uỷ ban quản lý vốn nhà

nước tại doanh nghiệp tạo hiệu ứng tích

cực trong quản lý tiền tại các doanh nghiệp

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn tìm thấy

quy mô doanh nghiệp và mức độ đầu tư

tài sản cố định hữu hình tác động cùng

chiều đến hiệu quả tài chính của các doanh

nghiệp, có thể giải thích rằng quy mô doanh

nghiệp càng lớn là cơ hội để doanh nghiệp

tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, đa dạng

hơn và quản lý tốt hơn dẫn đến hiệu quả tài

chính sẽ được gia tăng Đòn bẩy tài chính

tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính

của doanh nghiệp, kết quả này được giải thích rằng các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy hiệu quả, kiểm soát tốt rủi ro liên quan

Tóm lại, nhóm tác giả sử dụng phương pháp ước lượng theo GLS nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai

số thay đổi, theo đó bài viết đúc kết được rằng lượng tiền nắm giữ có tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam,

và mối quan hệ tác động này cũng sẽ trở nên mạnh hơn khi có vai trò điều tiết của

sở hữu nhà nước Vì vậy, bài viết gợi ý và khuyến nghị tăng cường sự giám sát của

Ủy ban quản lý vốn nhà nước trong quản

lý tiền tại các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước, doanh nghiệp cần chú trọng dự trữ nhiều tiền hơn để xử lý những vấn đề bất cân xứng thông tin, những tình huống bất ngờ khi dự báo chỉ ra khả năng cao về tình trạng suy thoái trong kinh doanh, qua đó

mở ra cơ hội đầu tư mới trên cơ sở tiền dự trữ góp phần cải thiện hiệu quả tài chính

Bài viết này sử dụng Tobin’s Q để đại diện cho hiệu quả tài chính, tuy nhiên một số nghiên cứu có liên quan đề xuất tiếp cận hiệu quả tài chính theo sổ sách với các thước đo thể hiện khả năng sinh lời của vốn; hoặc sự tồn tại tác động phi tuyến của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính và xác định ngưỡng tối ưu của lượng nắm giữ tại các doanh nghiệp chưa được xem xét trong nghiên cứu này Theo đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét đến các vấn đề này nhằm cung cấp bằng chứng chặt chẽ hơn cho quản trị tiền của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam ■

Tài liệu tham khảo

Alnori, F (2020) Cash holdings: Do they boost or hurt firms’ performance? Evidence from listed non-financial firms in Saudi Arabia International Journal of Islamic and Middle Eastern Finance and Management, 13(5), 919-934.

Anagnostopoulou, S (2013), Cash Holdings: Determining Factors and Impact on Future Operating Performance

for Listed versus Unlisted Firms, Review of Pacific Basin Financial Markets and Policies 16 10.1142/

S0219091513500136.

Ngày đăng: 10/03/2022, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w