Tổng quan tài liệu: tìm hiểu về lớp mạ kẽm, các phương pháp tạo lớp mạ kẽm, phương pháp xác định chiều dày, tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới.. Xác định chiều dày lớp mạ b
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Kẽm và lớp mạ kẽm 2
1.1.1 Giới thiệu chung 2
1.1.2 Lớp mạ kẽm 2
1.2 Các phương pháp tạo lớp mạ kẽm 3
1.2.1 Phương pháp nhúngnóng 3
1.2.2 Phương pháp mạ điện 3
1.3 Phương pháp xác định chiều dày lớp mạ 4
1.3.1 Xác định chiều dày lớp mạ bằng phương pháp cân khối lượng 4
1.3.2 Xác định chiều dày lớp mạ bằng thiết bị MINITEST 650 D58675 - Đức 4
1.4 Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) xác định bề mặt lớp mạ 5
1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.6 Các nhận xét rút ra từ tổng quan 10
PHẦN II THỰC NGHIỆM 11
2.1 Vật tư, hóa chất, dụng cụ, thiết bị 11
2.2 Thực nghiệm và kết quả 11
2.2.1 Chuẩn bị trước khi mạ 11
2.2.2 Tiến hành mạ 12
2.2.3 Kết quả 14
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ thiết bị mạ 3
Hình 1.2: Máy đo chiều dày lớp mạ MINITEST 650 D58675 - Đức 5
Hình 1.3: Sơ đồ nguyên lý làm việc của kính hiển vi điện tử quét (SEM) 6
Hình 1.4: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn 7
Hình 1.5: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn 7
Hình 1.6: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn tại các mật độ dòng khác nhau 8
Hình 1.7: Hình ảnh bề mặt của lớp mạ Zn 9
Hình 1.8: Hình ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn không có phụ gia và lớp mạZncó chứa phụ gia PEG 9
Hình 2.1: Hình ảnh tấm thép CT3 trước khi mạ và dung dịch mạ Zn 12
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình chế tạo lớp mạ kẽm 13
Hình 2.3: Bề mặt các mẫu trong thời gian mạ 30 phút khi áp dòng 1A/dm2, 2A/dm2 và 3A/dm2 14
Hình 2.4: Đồ thị biểu diễn sự thay đổi của điện thế theo thời gian 15
Hình 2.5: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn trên nền thép CT3 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Học phần đồ án chuyên ngành được thực hiện tại Phòng Ăn mòn và bảo vệ kim loại,Viện Kỹ thuật Nhiệt đới
Thời gian thực hiện từ ngày 25/1/2021 đến 11/4/2021
Người hướng dẫn: 1 TS Phạm Thị Năm, Viện Kỹ thuật Nhiệt đới
2 PGS.TS Đặng Thị Thanh Lê, Đại học Thủy lợiNội dung đồ án chuyên ngành gồm:
1 Tổng quan tài liệu: tìm hiểu về lớp mạ kẽm, các phương pháp tạo lớp mạ kẽm, phương
pháp xác định chiều dày, tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2 Nghiên cứu chế tạo lớp mạ Zn trên nền thép CT3 và xác định đặc tính của lớp mạ
Trang 4PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Kẽm và lớp mạ kẽm
1.1.1 Giới thiệu chung [1,2]
Kẽm (Zn) là kim loại trắng bạc, sắc lam nhạt, tên latinh là Zincum, nằm ở ô số 30, chu
kì 4 thuộc nhóm kim loại chuyển tiếp trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev.Nguyên
tử lượng 65,38 đvC; trọng lượng riêng 7,2 kg/cm3; nhiệt độ nóng chảy 419,5oC; điểmsôi là 907oC
Điện thế tiêu chuẩn của kẽm là -0,763V nên lớp mạ kẽm bảo vệ các kim loại nền nhưđồng, thép, rất tốt Tốc độ ăn mòn của kẽm mỗi năm khoảng 1 - 1,5pm ở nông thôn,1,5 - 2pm ở vùng nhiệt đới ẩm, 6 - 8um ở vùng công nghiệp, ở vùng biển kẽm bị ănmòn
mạnh hơn Vì vậy, thường mạ kẽm trong nhiều lĩnh vực của ngành công nghiệp để bảo
vệ sắt thép
1.1.2 Lớp mạ kẽm [3]
Mạ kẽm là hình thức tạo một lớp kẽm lên trên bề mặt kim loại nhằm mục đích bảo vệcho bề mặt, giúp chống lại khả năng ăn mòn, hoen gỉ, nâng cao chất lượng và làm tăngthẩm mỹ cho sản phẩm
Mỗi năm, hơn 40 triệu tấn thép được mạ kẽm hoặc kẽm hợp kim và hơn 2,2 triệu tấnkẽm được sử dụng để tạo lớp phủ bảo vệ trên toàn thế giới Tại các nước phương Tây,khoảng 37% kẽm được sử dụng cho mục đích mạ bảo vệ kim loại
Mạ kẽm được coi là một trong những phương pháp kinh tế nhất và hiệu quả bảo vệchống ăn mòn thép cacbon Lớp mạ kẽm bảo vệ cho thép theo hai cơ chế Thứ nhất,kẽm
là màng ngăn cách thép với môi trường xâm thực Thứ hai, lớp mạ kẽm bảo vệ théptheo
cơ chế điện hóa Khi lớp mạ bị khuyết tật hoặc một phần lớp mạ bị phá hủy, nền thép bị
lộ ra và tiếp xúc với các tác nhân ăn mòn, do điện thế tiêu chuẩn của kẽm (- 0,76 V) âmhơn nhiều so với thép (- 0,44 V), kẽm sẽ đóng vai trò là anốt hy sinh, bị ăn mòn và bảo
vệ cho nền thép (bảo vệ catôt)
Có nhiều loại dung dịch dùng để mạ kẽm: ZnSO4 (pH 1,5 + 5,5); ZnCl2 (pH 4,0 ^ 5,5);Zn(BF4)2 (pH 1,5 + 3,5); Zn2?2O? (pH 7 + 10); xyanua và mới đây dung dịch mạ kiềmkhông xyanua với nhiều tính năng tốt thân thiện môi trường cũng được đưa vào sản
Trang 5xuất.
Trang 6Ưu điểm: Trang thiết bị đơn giản, thao tác dễ dàng, độ bám tốt, độ bền cao, mạ đượccác vật liệu có bề mặt không bằng phẳng, lồi, lõm.
Nhược điểm: Cần phải thực hiện ở nhiệt độ cao, trong quá trình mạ một số đặc tính củavật liệu nền bị thay đổi không mong muốn
1.2.2 Phương pháp mạ điện
Mạ điện được dùng trong nhiều ngành công nghệ khác nhau để chống ăn mòn Vềnguyên tắc, vật liệu nền có thể là kim loại hoặc hợp kim, đôi khi có thể là chất dẻo hoặccomposit
Mạ điện là quá trình kết tủa kimloại lên bề mặt nền, một lớp phủ
có những tính chất cơ,
lý, hóa, đáp ứng được nhữngyêu cầu mong muốn Thiết bịnguồn một chiều được sửdụng để cung cấp điện năng choquá trình, chi tiết mạ được nốivới cực âm, cực dươngcủa nguồn nối với điện cực đối
Trang 8Mn+ + ne ^ MAnot thường là kim loại cùng với lớp mạ, khi đó phản ứng anot chính là sự hòa tan nóthành kim loại Mn+ đi vào dung dịch:
M - ne ^ Mn+
Ưu điểm: Có thể thực hiện ở nhiệt độ thường, độ bám tốt, độ bền cao, thời gian mạ cóthể điều chỉnh để đạt độ dày mong muốn, độ dày của lớp mạ tương đối đồng đều.Nhược điểm: Chi phí đầu tư ban đầu lớn, giá thành sản phẩm cao
1.3 Phương pháp xác định chiều dày lớp mạ
1.3.1 Xác định chiều dày lớp mạ bằng phương pháp cân khối lượng
Lượng kim loại hình thành trên bề mặt vật liệu nền xác định bằng cách cân khối lượngnền trước và sau khi mạ trên cân phân tích Precisa XR 205SM-PR
Tính chiều dày lớp mạ Zn hình thành theo công thức (1.1):
V = s.h
Trong đó: D: tỷ khối của Zn lấy theo lý thuyết (g/cm3); D = 7,2
m: khối lượng của lớp mạ Zn hình thành trên bề mặt nền thép CT3 (g)V: thể tích của lớp mạ Zn hình thành trên bề mặt nền thép CT3 (cm3)
S: diện tích làm việc của nền thép CT3 (cm2)
h: chiều dày lớp mạ (cm)
1.3.2 Xác định chiều dày lớp mạ bằng thiết bị MINITEST 650 D58675 - Đức
Chiều dày của lớp mạ được xác định bằng cách sử dụng thiết bị minitest (hình 1.2) đogiá trị tại nhiều điểm bất kì, từ đó xác định được chiều dày trung bình của lớp mạ
D.s
Trang 9Hình 1.2: Máy đo chiều dày lớp mạ MINITEST 650 D58675 - Đức
1.4 Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) xác định bề mặt lớp mạ [4]
Phương pháp SEM được sử dụng để xác định hình dạng và cấu trúc bề mặt của vật liệuđến cỡ hàng chục nanomet (10-7 m)
Nguyên lý hoạt động và tạo ảnh của SEM: điện tử được phát ra từ súng phóng điện tử(có thể là phát xạ nhiệt, phát xạ trường, ) sau đó được tăng tốc Tuy nhiên, thế tăng tốccủa SEM thường chỉ từ 10 kV đến 50 kV vì sự hạn chế của thấu kính từ, việc hội tụ cácchùm điện tử có bước sóng quá nhỏ vào một điểm kích thước nhỏ sẽ rất khó khăn.Điện tử được phát ra, tăng tốc và hội tụ thành một chùm điện tử hẹp (cỡ vài nanomet)nhờ hệ thống thấu kính từ, các electron này đập vào mẫu và tạo ra một tập hợp các hạtthứ cấp đi tới detector, tại đây sẽ được chuyển thành tín hiệu điện Các tín hiệu này saukhi được khuếch đại đi tới ống tia catot và được quét lên ảnh
Cho chùm tia quét đồng bộ trên mẫu, một tia điện tử trên màn hình của đèn hình thu vàkhuếch đại một loại tín hiệu từ mẫu phát ra để làm thay đổi cường độ ánh sáng của tiađiện tử quét trên màn hình ta có được ảnh
Hiển vi điện tử quét dùng các thấu kính chỉ để tập trung chùm điện tử thành điểm nhỏchiếu lên mẫu, không dùng thấu kính để khuếch đại Hiển vi điện tử quét cho phépquan
sát bề mặt không bằng phẳng một cách rõ nét Độ phân giải của SEM được xác định từkích thước chùm điện tử hội tụ Kích thước này bị hạn chế bởi quang sai Vì thế, SEMkhông thể đạt được độ phân giải tốt như kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
Trang 10Hình 1.3: Sơ đồ nguyên lý làm việc của kính hiển vi điện tử quét (SEM).
Ưu điểm của phương pháp SEM là có thể thu được những bức ảnh ba chiều chất lượngcao và không đòi hỏi phức tạp trong khâu chuẩn bị mẫu, độ phóng đại có thể thay đổitừ
10 đến 100,000 lần với hình ảnh rõ nét Từ đó, có thể phân tích, xác định được hìnhdạng và cấu trúc bề mặt vật liệu đến cỡ hàng chục nanomet
1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện tượng ăn mòn kim loại gây nên sự suy giảm tính chất cơ lý của vật liệu và hỏnghóc trong quá trình vận hành Chính vì vậy, nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu lớp
mạ kẽm để bảo vệ vật liệu chống lại quá trình ăn mòn Có thể kể đến một số tác giảnhư:
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã nghiên cứu chế tạo lớp mạ Zn trên nền thépcacbon
bằng phương pháp mạ điện Ban đầu, nền thép được đánh bóng bằng giấy ráp, tẩy dầubằng UDYPREP-110EC và tẩy gỉ bằng HCl 10% Dung dịch mạ Zn có chứa các thànhphần (ZnCl2, NH4Ơ, AZA và AZB), ở nhiệt độ phòng, mật độ dòng điện sử dụng là2A/dm2, trong thời gian 30 phút Kết quả hình ảnh SEM ở mật độ dòng 2A/dm2 trongthời gian 30 phút, bề mặt lớp mạ kẽm xốp, các tinh thể hình thành tương đối đồng đềuvới kích thước dao động trong khoảng từ 30 + 100 nm trên bề mặt nền thép cacbon [3]
Trang 11Hình 1.4: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn.
Tác giả Lê Bá Thắng cùng cộng sự, đã nghiên cứu chế tạo lớp mạ Zn trên nền thépcacbon bằng phương pháp mạ điện Ban đầu, nền thép được đánh bóng bằng giấy ráp,tẩy dầu bằng UDYPREP-110EC và tẩy gỉ bằng HCl 10% Dung dịch mạ kẽm có chứacác thành phần (ZnO, NaOH), mật độ dòng điện là 2A/dm2, thí nghiệm được thực hiệntrên thiết bị Autolab PGSTAT 30 Kết quả ảnh SEM cho thấy các hạt có dạng khối,kích
thước hạt dao động trong khoảng từ 5 - 7pm trên bề mặt nền thép cacbon [5]
Hình 1.5: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn.
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã và đang nghiên cứu, phát triển lớp mạ Zn, do lớp
mạ Zn có nhiều tính năng ưu việt và thân thiện với môi trường, không gây hại đến sứckhỏe con người Một số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:
Tác giả Asmae El Fazazi, Moussa Ouakki và cộng sự đã sử dụng phương pháp mạ điệnnghiên cứu chế tạo lớp mạ Zn trên nền thép E24 Dung dịch lớp mạ Zn có chứa thànhphần (ZnSO4.7H2O, H3PO3, KCl), thí nghiệm được thực hiện trên thiết bị PGZ 100 sử
Trang 12dụng phần mềm Voltamaster 4, mật độ dòng lựa chọn khảo sát lần lượt là 16mA/cm2,24mA/cm2, 32mA/cm2 và 40mA/cm2 trong thời gian 20 phút tại nhiệt độ phòng, pH củadung dịch mạ là 4,5.
Trang 13c) d)
Hình 1.6: Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn tại các mật độ dòng khác nhau
(a)16mA/cm2, (b) 24mA/cm2, (c) 32mA/cm2 và (d) 40mA/cm2
Ảnh SEM bề mặt lớp mạ Zn tại các mật độ dòng được khảo sát cho thấy, ở mật độdòng
thấp nhất (a) lớp mạ có hình lục giác, đồng nhất, xếp khít nhau Khi tăng mật độ dònglên 24 và 32mA/cm2 (b - c), bề mặt lớp mạ hình thành các hạt thô, xốp, nhám và khôngđồng nhất Mật độ dòng cao nhất 40 mA/cm2 (d), bề mặt lớp mạ Zn thu được có hìnhdạng giống như hoa, tuy nhiên cấu trúc này không đồng nhất, các tinh thể phát triểnngẫu nhiên không theo trật tự Có thể thấy rằng, mật độ dòng điện ảnh hưởng rất nhiềuđến sự hình thành và cấu trúc lớp mạ Zn [6]
Trang 14Tác giả M.Rehsepar, M.E.Bahrololoom đã nghiên cứu chế tạo lớp phủ Zn bằng phươngpháp mạ điện và thử nghiệm đánh giá tính chất điện hóa bằng phương pháp đo tổng trở.Chất nền được sử dụng là các đĩa thép cacbon, có đường kính 12mm và diện tích bềmặt
là 1,13 cm2 Các mẫu sẽ được mài cơ học bề mặt và tẩy gỉ bằng axit axetic và axitpecloric Lớp Zn có thành phần bể mạ chứa (ZnSO4.7H2O, H3PO3), mật độ dòng điện10.5A/dm2, pH bể mạ là 3 - 3.5 Các phép đo thực hiện ở dài tần số từ 100 kHz - 10mHz, biên độ 10mV và được phân tích bằng phần mềm Autolab Kết quả ảnh SEM chothấy lớp mạ Zn hình thành có dạng đa giác, xếp khít nhau trên bề mặt mẫu [7]
Hình 1.8: Hình ảnh SEM bề mặt
lớp mạ Zn không có phụ gia (a) và lớp mạ Zn có chứa phụ gia PEG (b).
Trang 15Kết quả ảnh SEM cho thấy hình thái lớp mạ Zn không chứa phụ gia có dạnghình đa
giác có kích cỡ không đồng đều phân bố trên bề mặt mẫu Đối với lớp mạ
Zn có sử dụng
phụ gia PEG lớp mạ hình thành có dạng như xương rồng Qua ảnh SEM có thể thấy rằng
việc sử dụng phụ gia ảnh hưởng rất lớn đến hình dạng của lớp phủ kẽm [8]
Các kết quả nghiên cứu trên mới chỉ dừng ở mức độ khảo sát, thử nghiệm trong quy môphòng thí nghiệm Ăn mòn gây tổn hại đến nền kinh tế quốc gia Vì vậy, vấn đề bảo vệchống ăn mòn là một hiện tượng toàn cầu và đang rất được các nhà khoa học quan tâmnghiên cứu chế tạo các lớp phủ có khả năng bảo vệ chống ăn mòn cao, độ chịu màimòn
lớn và thân thiện với môi trường
1.6 Các nhận xét rút ra từ tổng quan
Qua phân tích tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, cho thấy lớp mạ kẽm đã đượcnhiều các nhà khoa học trong nước và trên thế giới tập trung nghiên cứu phát triển.Nhằm ứng dụng các lớp mạ trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như công nghiệpchế tạo thiết bị - máy móc, linh kiện (bulong, ốc vít, ), gia công cơ khí, công trình xâydựng, hạ tầng đô thị, đặc biệt sử dụng cho quá trình xử lý bề mặt kim loại để tăng độcứng, chống ăn mòn, chống rỉ sét và tăng yếu tố thẩm mỹ ngoại quan
Lớp mạ Cd đã và đang sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp quốc dân do có khảnăng chịu mài mòn lớn và chống ăn mòn cao Tuy nhiên, việc sử dụng Cd đàn bị hạnchế do gây nguy hại đến sức khỏe con người Để hạn chế ảnh hưởng của lớp mạ Cd,một
trong những lớp mạ thân thiện với môi trường là lớp mạ Zn đang được các nhà khoahọc
rất quan tâm
Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm ra thành phần dung dịch mạ và điềukiện chế độ mạ thích hợp để tạo ra lớp mạ kẽm có khả năng chống ăn mòn cao
Trang 16ZnCl2 (>98.0%); NH4CI (>99,5%), là hóa chất loại tinh khiết của Trung Quốc.
Phụ gia AZA (chất mang), phụ gia AZB (chất tạo bóng), (sản phẩm thương mại củahãng Enthone)
Dung dịch UDYPREP-110EC, (sản phẩm thương mại của hãng Enthone)
Dung dịch HCl 10%, hóa chất công nghiệp, Trung Quốc
Ống đong thủy tinh 500 mL
Bể mạ sử dụng hệ thống thiết bị nguồn một chiều KIKUSUI PMC 18 - 5AS; sử dụng tếbào 2 điện cực: điện cực làm việc là thép CT3, điện cực đối Zn
Cân phân tích Precisa XR 205SM - DR, Thụy Sĩ
Máy khuấy từ IKA C - MAG HS4, Malays
2.2 Thực nghiệm và kết quả
2.2.1 Chuẩn bị trước khi mạ
a) Xử lí bề mặt mẫu thép CT3
Bước 1: Lau bề mặt mẫu thép CT3 có kích thước 3 x 5 cm bằng khăn giấy (đảm bảo
mẫu trước khi xử lí không bị ướt)
Trang 17Bước 2: Đánh bóng bề mặt bằng các loại giấy ráp (lần lượt từ giấy ráp P240, P400 và
P600) dọc theo chiều dài của mẫu, sau đó khi xử lí mẫu bằng giấy ráp, dùng khăn lau đilớp bụi bẩn còn lại trên bề mặt mẫu
Bước 3: Mẫu sau đó được tẩy dầu mỡ bằng UDYPREP-110EC trong 5 phút và được
ngâm 10 phút trong dung dịch HCl 10% để tẩy gỉ
Lưu ý:
Toàn bộ mẫu nền đều phải được làm sạch cả hai mặt
Khi dùng khăn lau mẫu cần lau nhẹ nhàng, tránh chà xát bề mặt
b) Pha dung dịch mạ
Dung dịch mạ có thành phần và nồng độ như sau: ZnCl2 60 g/L; NH4Q 250g/L; AZA30ml/L, AZB 1,5ml/L
Cách pha 1 L dung dịch mạ:
Cho lần lượt 60 g ZnCl2, 250 g NH4Q, 30 ml AZA và 1,5 ml AZB vào bình định mức
1000 mL chứa 300 mL nước cất Quá trình hòa tan các muối sử dụng khuấy từ với tốc
độ 200 vòng/phút Sau khi các muối tan hoàn toàn lấy con từ ra và thêm nước cất đếnvạch định mức
Hình ảnh tấm thép CT3 trước khi mạ và dung dịch mạ kẽm được trình bày ở hình 2.1:
Hình 2.1: Hình ảnh tấm thép CT3 trước khi mạ (a) và dung dịch mạ Zn (b).
(b) (a
)