Khái niệm Ta cần phân biệt ba khái niệm: lạm phát, giảm phát và lạm phát Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hoá dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của m
Trang 1Sinh viên thực hiện: Mai Thị Thu Hòa – 20BA3
Trần Hoàng Long – 20BA3 Lương Gia Hy – 20BA3 Trần Quốc Lâm – 20BA3
Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Tuyết Mai
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Đà Nẵng, ngày 04 tháng 05 năm 2021
Giáo viên hướng dẫn
ThS Vũ Thị Tuyết Mai LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3Ngày nay, lạm phát hầu như là một hiện tượng tất yếu ở các nước, song chỉ khác nhau ởmức độ (cao, thấp) và thời gian (một năm, nhiều năm) Lạm phát vừa phải và dự đoán đượccần thiết phải được duy trì ở mức phù hợp để Nhà nước sử dụng nó như là một công cụ phục
vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cao cho xã hội Chính phủ và các nhàhoạch định chính sách cần phải có giải pháp kiềm chế, kiểm soát nó ở mức lạm phát vừa phảikhông để nó chuyển hóa thành lạm phát phi mã Bài viết phân tích về cơ sỡ lý thuyết của lạmphát và tình hình sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay
Bài viết được chuẩn bị trong thời gian gấp rút, nên sẽ không tránh khỏi những sai sót hyvọng giáo viên bỏ qua
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1: LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ 6
1.1.LẠM PHÁT 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Nguồn gốc của Lạm phát 10
1.1.2.1 Lạm phát do cầu (còn gọi là lạm phát do cầu kéo) 11
1.1.2.2 Lạm phát do cung (còn gọi là lạm phát do chi phí đẩy) 11
1.1.2.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ 12
1.1.2.4 Lạm phát do xuất khẩu 13
1.1.2.5 Lạm phát do nhập khẩu 13
1.1.2.6 Lạm phát do dự kiến 13
1.1.3 Biểu hiện của Lạm phát 14
1.1.4 Tác động của lạm phát 14
1.2.CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ 18
1.2.1 Các biện pháp của Chính phủ 18
1.2.2 Lý do sử dụng biện pháp đó 19
PHẦN 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ TẠI VIỆT NAM 21
2.1 TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 21
2.1.1 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 21
2.1.2 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam năm 2020 - 2021 21
2.1.3 Nguyên nhân làm tăng CPI trong quý I năm 2021 24
2.2 BIỆN PHÁP VÀ LÝ DO SỬ DỤNG BIỆN PHÁP ĐÓ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 24
PHẦN 3: TỔNG KẾT 25
PHỤ LỤC: BÁO CÁO QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC CỦA NHÓM 02 26
1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN 26
2 PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 5MAI
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
ST
1 Bảng 1.1 Quyền số dùng để tính chỉ số CPI của Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2020 7
4 Hình 1.1 Lạm phát do cầu, tổng cầu tăng làm sản lượng tăng và mức giá
5
Hình 1.2 Lạm phát do cung: Khi chi phí sản xuất tăng, đường SAS dịch
chuyển sang trái: kết quả là sản lượng giảm, còn mức giá chung tăng
Biểu đồ 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số vàng và chỉ số giá ddoola Mỹ
Trang 7PHẦN 1 TỔNG QUA VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ
1.1.1 Khái niệm
Ta cần phân biệt ba khái niệm: lạm phát, giảm phát và lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hoá dịch vụ theo
thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao,một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hoá và dịch vụ hơn so với trước đây, do đólạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ
Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống trong một
khoảng thời gian nhất định
Giảm lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên nhưng với tốc
độ chậm hơn so với trước
Mức giá chung (hay chỉ số giá) là mức giá trung bình của tất cả hàng hoá và dịch vụtrong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ gốc
Mức độ lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát (ký hiệu là if) là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá chung của
kỳ này so với kỳ trước.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm (if) được tính theo công thức:
If =Trong đó: Pt= Chỉ số giá năm t
Pt-1= Chỉ số giá năm t-1
Có 3 loại chỉ số giá:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): là chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ
hàng hoá và dịch vụ mà một hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc NJ
CPI của năm t được xác định theo công thức:
CPI = Với q i 0: là khối lượng sản phẩm loại i mà một gia đình tiêu dùng ở năm gốc (O)
p i 0 : đơn giá sản phẩm loại i ở năm gốc
p i t : đơn giá sản phẩm loại i ở năm t
Để tính được chỉ số CPI, trước tiên Tổng cục thống kê phải chọn năm gốc Sau
đó xây dựng cơ cấu của giỏ hàng gồm số lượng chủng loại mặt hàng và khối lượng mỗi mặt hàng Cuối cùng thu thập giá các hàng hoá ở các thành phố điển hình, để tính giá bình quân cho từng loại hànig hoá áp dụng công thức CPI
Trang 8Ví dụ: Giả sử giỏ hàng hoá để tính CPI chỉ gồm ba loại hàng hoá như sau:
Bảng 1.2: Giỏ hàng hóa để tính CPI
Chỉ số giá năm gốc luôn bằng 100
Nếu năm 2017 được chọn làm năm gốc: CPI2017= 100
CPI2020= Nghĩa là mức giá trung bình của giỏ hàng hoá tiêu dùng năm 2020 bằng 1,68 lần haybằng 168% so với giá giỏ hàng tiêu dùng ở năm gốc; hay giá của giỏ hàng hoá tiêu dùng 2020tăng 68% so với giá của giỏ hàng tiêu dùng năm gốc (năm 2017)
Dùng CPI để tính tỷ lệ lạm phát hàng tháng rất nhanh chóng, tiết kiệm thời gian;nhưng không chính xác vì coi như giá của giỏ hàng tiêu dùng đại diện cho giá của tất cả hànghoá và dịch vụ trong nền kinh tế Ngoài ra, sau một thời gian phải xây dựng lại cơ cấu giỏhàng, vì luôn có những sản phẩm mới ra đời thay thế cho những sản phẩm cũ đã lỗi thời
Trang 9 Chỉ số giá sản xuất (PPI): phản ánh mức giá trung bình của một giỏ hàng
hoá mà một doanh nghiệp mua ở kỳ này so với kỳ gốc
Chỉ số PPI chỉ được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát trong khu vực sản xuất, không phổbiến Cách tính cũng tương tự như CPI
Chỉ số giảm phát theo GDP: phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình
của tất cả hàng hoá và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành (năm t) so với nămgốc
Id của năm t được tính theo công thức:
Idt= = Với qi: khối lượng sản phẩm loại i được sản xuất năm t
pi: đơn giá sản phẩm loại i ở năm t
pi0: đơn giá sản phẩm loại I ở năm gốc
Chỉ số giảm phát theo GDP của năm gốc luôn bằng 100
Ví dụ 2: Trong nền kinh tế chỉ sản xuất 3 loại hàng hoá có số lượng và giá cả như sau:
Giả sử năm 2018 được chọn làm năm gốc, Id2018=100
Ta có GDP danh nghĩa năm 2020: GDPN2020=1.050.000 đvt
GDP thực tế năm 2020: GDPR2020= 600.000 đvt
Id2020=
Nghĩa là mức giá trung bình của giỏ hàng hoá sản xuất năm 2020 bằng 1,75 lần hay bằng175% so với giỏ hàng sản xuất ở năm gốc; hay giá của giỏ hàng hoá sản xuất năm 2020 tăng75% so với giá của năm gốc
Chỉ số giảm phát theo GDP phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hoá và dịch vụđược sản xuất ra trong nền kinh tế, nên dùng để tính tỷ lệ lạm phát tương đối chính xác,nhưng lại mất nhiều thời gian mới có được chỉ tiêu GDP, không đáp ứng được yêu cầu tính tỷ
lệ lạm phát thường xuyên hàng tháng
So sánh CPI và Id, ta thấy có 3 điểm khác nhau:
o Thứ nhất, Id phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hoá và dịch vụ được sảnxuất ra trong nền kinh tế; còn CPI chỉ phản ánh giá của những hàng hoá và dịch vụ màngười tiêu dùng mua
o Thứ hai, Id chỉ phản ánh giá của những hàng hoá sản xuất trong nước Do đó khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng lên, chỉ phản ánh trong CPI, không được phản ánh trong Id
o Thứ ba, CPI được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hoá cố định (nên CPI không phảnánh được chất lượng của các hàng hoá sẽ thay đổi theo thời gian, không phản ánh xuhướng thay thế hàng hoá rẻ hơn, không phản ánh những sản phẩm mới ra đời sẽ thay
Trang 10Qua phân tích trên, chúng ta thấy tính lạm phát bằng Id sẽ chính xác hơn CPI, vì Id phảnánh giá bình quân của tất cả hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước Tuy nhiên tính tỷ
lệ lạm phát bằng CPI lại dễ dàng và nhanh chóng hơn Id Do đó CPI được nhiều nước ứngdụng để tính tỷ lệ lạm phát thường xuyên hàng tháng
tế bất ổn Khi lạm phát càng cao, chi phí cơ hội của việc giữ tiền càng lớn Người
ta đã ví tiền mặt trong thời kỳ này như những hòn than đang rực cháy, ai giữ tiềncàng nhiều và càng lâu thì càng thiệt hại Do vậy, khi lạm phát xảy ra, mọi ngườichỉ giữ một lượng tiền tối thiểu, tốc độ lưu thông tiền tệ sẽ tăng lên nhanh chóng,
vì mọi người không muốn giữ những đồng tiền đang mất giá, sẽ nhanh chóngchuyển sang cho người khác Sẽ có hiện tượng tiền tốt đuổi tiền xấu ra khỏi túi.Người ta sẽ tránh giữ tài sản dưới dạng tiền, mà chuyển sang ngoại tệ mạnh, vàng,bất động sản hay hàng hoá sẽ lợi hơn Để tránh tổn thất, các hợp đồng kinh tế cũngđược chỉ số hoá theo tỷ lệ lạm phát hay tính theo ngoại tệ mạnh
- Siêu lạm phát (trên 1000%): Khi tỷ lệ lạm phát từ 1000%/năm trở lên, đồng tiềnmất giá nghiêm trọng, nền kinh tế càng bất ổn, cuộc sống càng khó khăn, mọi thứđều trở nên khan hiếm trừ tiền giấy
Ở Bolivia năm 1985 có tỷ lệ lạm phát là 12.000%/năm, người dân phải thích nghi, tìmcách đối phó để tồn tại Chẳng hạn, một nhân viên khi lãnh lương tháng được 25 triệu peso,lập tức về nhà có vợ đang chờ sẵn, đưa ngay cho vợ tiền để ra cửa hàng mua các nhu yếuphẩm trong tháng, số peso còn lại người chồng lập tức đêm đổi lấy đô la Mỹ với tỷ giá là500.000 peso/USD Nếu chậm trễ, tuần sau tỷ giá tăng đến 900.000 peso/USD Tuy nhiên nếu
so với cuộc siêu lạm phát xảy ra ở Đức vào năm 1912 – 1923 thì cuộc lạm phát của Boliviachẳng đáng kể gì
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nền kinh tế Đức đã bị tàn phá nặng nề, sản lượnghàng hoá sản xuất giảm sút nghiêm trọng, nguồn thu ngân sách giảm mạnh, lại phải bồi
Trang 11thường chiến phí cho các đồng minh thắng trận, ngân khổ quốc gia cạn kiệt Để có tiền chitiêu duy trì bộ máy, chính phủ Đức đã phát hành một lượng tiền rất lớn, và kết quả là giá cảhàng hoá tăng với tốc độ chóng mặt VD: giá một tờ nhật báo vào tháng 1 năm 1921 là 0,3Mác, đến tháng 11 năm 1923 là 70 triệu Mác Giá ly bia là 4 tỷ Mác, giá ổ bánh mì là 3 tỷMác Chính phủ đã phải mua thêm máy in tiền, nhưng khối lượng tiền tăng lên vẫn chậm hơntốc độ tăng giá Đến mức vào cuối giai đoạn siêu lạm phát, họ phải lấy những đồng tiên chưaphát hành trong kho đóng thêm vào vài con số zero để phát hành Tiền không còn thực hiệnchức năng vốn có của nó Thị trường tài chính gần như bị tê liệt Để đảm bảo mức sống chocán bộ công nhân viên chức, chính phủ Đức đã phát lương 2 lần/ ngày Người dân chỉ giữ mộtlượng tiền tối thiểu để chi tiêu hàng ngày, mọi khoản tiền chưa chi dùng đều gởi vào ngânhàng Người dân đã mất nhiều thời gian để lui tới ngân hàng
Như vậy, do tài trợ cho chi tiêu ngân sách bằng cách in tiền đã gây ra tình trạng siêulạm phát ở Đức giai đoạn 1921 – 1923 Để thoát khỏi tình trạng này, chính phủ Đức đã cảicách tài chính và tiền tệ Vào cuối năm 1923, chính phủ đã tinh giảm biên chế 1/3 số lượngcông nhân viên chức, các khoản bồi thường chiến tranh tạm đình lại Đồng thời ngân hàngtrung ương mới ra đời, thay cho ngân hàng trung ương cũ và cam kết không tài trợ cho chitiêu chính phủ bằng cách in tiề Sau đó tiến hành đổi tiền với tỷ lệ là 1.000 tỷ Mác cũ bằng 1Mác mới Nhờ đó, đến cuối tháng 12/1923 lượng cung tiền và giá cả đột nhiên ổn định
Trên thực tế, các quốc gia kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống
Lịch sử lạm phát cũng nhận ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường diễn
ra trong thời gian khá dài, và vì thế, hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn Cũng vì vậynhiều nhà kinh tế dựa vào 3 loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời gian lạm phát để chialạm phát ở các nước thành 3 loại:
- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50% một năm
- Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên
50%/năm
- Siêu lạm phát kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm
Một số khái niệm liên quan khác
Thiểu phát: là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Ở Việt Nam, có nhiều người thường nhầm lẫn
thiểu phát với giảm phát
Tái lạm phát: Nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.
1.1.2 Nguồn gốc của Lạm phát
Bạn hãy tạm coi tiền tệ như một món hàng trao đổi thời còn hàng đổi hàng Món hàngnào có giá thì món đó sẽ đổi được nhiều hơn món hàng khác Đô la Mỹ (USD) là đồng tiền cógiá, bạn có thể dùng nó để mua hàng hoá bất kỳ đâu vì nó là đồng tiền có giá trị, được bảochứng toàn cầu
Còn một quốc gia sản xuất yếu kém, hàng hoá khan hiếm thì giá cả hàng hoá tăng Giátăng thì phải bỏ nhiều tiền hơn mua hàng hoá Mà khi tiền mang đi nhiều bất tiện, nhà nước
sẽ in các tờ tiền mệnh giá lớn để hỗ trợ lưu thông hàng hoá gọn gàng hơn Khi đó lạm phát
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 12bắt đầu xảy ra Có rất nhiều nguyên nhân xảy ra, tuy nhiên do “cầu kéo” và “chi phí đẩy”được coi là nguyên nhân chính
1.1.2.1 Lạm phát do cầu (còn gọi là lạm phát do cầu kéo)
Xuất phát từ sự gia tăng của tổng cầu, có thể do:
Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định đănglên
Chính phủ tăng chi tiêu
Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền
Người nước ngoài tăng mua hàng hoá và dịch vụ trong nước
Kết quả đường AD dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượngtăng lên, đồng thời mức giá cũng tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống
Trên đồ thị 1.1 Thị trường AD dịch chuyển sang phải từ AD0 sang AD1, kết quảsản lượng sẽ tăng từ Y0 lên Y1, mức giá sẽ tăng lên từ P0 lên P1
Hình 1.1 Lạm phát do cầu, tổng cầu tăng làm sản lượng tăng và mức giá chung tăng.
Khi nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ khiến giá cả của mặt hàngnào đó tăng lên sẽ khiến giá cả của mặt hàng đó tăng theo Giá cả của các mặt hàng kháccũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường
Ở Việt Nam, giá xăng tăng lên kéo theo giá cước taxi tăng lên, giá thịt lợn tăng, giánông sản tăng,… là một ví dụ điển hình
Như vậy bản chất của lạm phát do cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượngcung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đạt cânbằng
1.1.2.2 Lạm phát do cung (còn gọi là lạm phát do chi phí đẩy)
Xuất phát từ sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân chính là do chi phí sản xuấtcủa nền kinh tế tăng lên khi:
Tăng lương tăng trong khi năng suất lao động không đổi
Thuế tăng, lãi suất tăng
Thiên tai mất mùa, chiến tranh
Giá các nguyên vật liệu chính tăng cao
Chẳng hạn khi giá dầu mỏ đột biến tăng cao vào năm 1973, 1978, 2004, 2007,… đãlàm cho chi phí sản xuất của tất cả hàng hoá và dịch vụ ở các quốc gia đều tăng lên, buộc các
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 13giảm, còn mức giá chung tăng lên.
1.1.2.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ
Những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiềnthừa quá nhiều trong lưu thông gây ra, và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó: M: là lượng cung tiền danh nghĩa
P: là chỉ số giá (mức giá trung bình)
Y: Là sản lượng thực
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
Những nhà kinh tế thuộc trường phái trọng tiền và phái cổ điển cho rằng P và W làlinh hoạt, tất cả các thị trường luôn cân bằng, sản lượng của nền kinh tế không đổi và sảnlượng tiềm năng (Y= YP) Tốc độ lưu thông tiền tệ (V) cũng không đổi
Từ công thức trên ta có thể viết lại:
Với giả thiết V và Y không đổi, nên %
Do đó, nhóm nhà kinh tế thuộc trường phát tiền tệ cổ điển cho rằng giá cả phụ thuộcvào lượng tiền phát hành Khi lượng cung tiền tăng lên, thì mức giá cũng tăng theo tỷ lệ, lạmphát xảy ra
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 14Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không đổi
Nhóm nhà kinh tế thuộc trường phái hiện đại, tiêu biểu là Milton Friedman cho rằng:Khi dự đoán được tốc độ tăng trưởng của Y hàng năm và tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, thìchúng ta có thể xác định tỷ lệ tăng lượng cung tiền tương ứng mà không gây ra lạm phát Do
đó ông đưa ra nguyên tắc tiền tệ: khi Y tăng theo tỷ lệ ổn định, thì chính sách tốt nhất là tănglượng cung tiền theo một tỷ lệ không đổi theo quy định, thì P sẽ ổn định
Tuy nhiên trong thực tế tốc độ tăng trưởng của Y là không ổn định, tốc độ lưu thông Vcũng thay đổi, nên chỉ tốc độ tăng của tổng khối tiền tệ hàng năm nhanh hơn tốc độ tăng của
Y thì P sẽ tăng lên và lạm phát sẽ xảy ra
Dựa vào phương trình số lượng, chúng ta có thể tính tỷ lệ lạm phát như sau:
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượnghàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản xuất được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàngcung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấphơn tổng cầu Khi tổng cung tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát
Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giớităng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mức giá chung bị giá nhậpkhẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát
Biểu đồ 1.3 Cho thấy lạm phát xảy ra như thế nào Đó là đường AD và AS dịchchuyển lên trên cùng một tốc độ Vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản suất (kể cảlương) và cả nhu cầu chi tiêu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát Nhưvậy sản lượng vẫn giữ nguyên nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến
Tỷ lệ lạm phát dự kiến một khi đã hình thành thì trở nên ổn định và tự duy trì trong 1thời gian Những cú sốc mới trong nền kinh tế (có thể từ trong nước hoặc từ nước ngoài) sẽđẩy lạm phát khỏi trạng thái ì
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)