Đánh giá được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017- 2025 và tầm nhìn 2030, với mục tiêu tăng cường khả năng ứng phó của hệ thống trợ giú
Trang 1December 2020
JOINT SDG FUND
Tháng 12 năm 2020
Đánh giá nhanh
NHU CẦU TRỢ GIÚP XÃ HỘI CỦA TRẺ EM
VÀ GIA ĐÌNH CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 TẠI VIỆT NAM
Trang 3Đánh giá nhanh
NHU CẦU TRỢ GIÚP XÃ HỘI CỦA TRẺ EM
VÀ GIA ĐÌNH CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI
DỊCH COVID-19 TẠI VIỆT NAM
Trang 5Lời mở đầu
Đánh giá nhanh nhu cầu trợ giúp xã hội của trẻ em và gia đình do Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) thực hiện phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội của 63 tỉnh, thành phố và với sự hỗ trợ kỹ thuật của UNICEF Đánh giá được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-
2025 và tầm nhìn 2030, với mục tiêu tăng cường khả năng ứng phó của hệ thống trợ giúp
xã hội nhằm nâng cao năng lực chống chịu của trẻ em và gia đình ở Việt Nam trước những
cú sốc về biến đổi khí hậu và kinh tế cũng như bùng phát các dịch bệnh và đại dịch như
COVID-19
Đánh giá cũng là một kết quả quan trọng của Quỹ chung về Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc cho Chương trình chung về “Thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi hệ thống an sinh xã hội sang hướng tích hợp và bao trùm” nhằm tăng cường sự hỗ trợ của Liên hợp quốc, đẩy nhanh công cuộc đổi mới an sinh xã hội ở Việt Nam
Đây là một trong những đánh giá nhanh đầu tiên về nhu cầu trợ giúp xã hội do Cục Bảo trợ
xã hội, Bộ LĐTBXH thực hiện nhằm ứng phó với đại dịch trên quy mô lớn, áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp trực tuyến, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của xã hội nhưng vẫn đảm bảo mẫu đại diện Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTBXH ghi nhận và cám ơn sự hỗ trợ quý báu của cán bộ 63 tỉnh, thành phố tham gia đợt đánh giá này và những người cung cấp những thông tin trực tiếp ở 8 tỉnh, thành phố, bao gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Điện Biên, Hưng Yên, Ninh Thuận, Gia Lai, Bình Dương, Đồng Tháp
Báo cáo này còn được hỗ trợ bởi nhóm chuyên gia tư vấn của Viện Khoa học lao động xã hội và sự hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia của UNICEF và TS Nguyễn Hải Hữu, chuyên gia tư vấn độc lập Kết quả nghiên cứu này sẽ là bằng chứng thực tiễn quan trọng để Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTBXH đổi mới và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội của Việt Nam, đặc biệt là việc sửa đổi Nghị định số 136/NĐ-CP theo hướng mở rộng độ bao phủ, điều chỉnh mức trợ cấp nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của các hộ gia đình và trẻ em trong việc ứng phó với các rủi ro, dịch bệnh và bảo đảm an toàn cuộc sống
Trang 6Mục lục
Lời mở đầu 5
Tóm tắt 8
Giới thiệu nghiên cứu 12
1 Bối cảnh 12
2 Mục tiêu .12
3 Phương pháp nghiên cứu 13
4 Hạn chế của nghiên cứu 14
Kết quả đánh giá 15
I Tổng quan về trẻ em 15
II Tác động của COVID-19 đến gia đình và trẻ em .16
2.1 Hộ gia đình 16
2.2 Trẻ em sinh sống tại cộng đồng 20
2.3 Trẻ em được chăm sóc tại các trung tâm BTXH .28
2.4 Nhóm trẻ em chịu tác động nhiều nhất của dịch COVID-19 32
III Nhu cầu trợ giúp xã hội 33
3.1 Nhu cầu của trẻ em và hộ gia đình 33
3.2 Nhu cầu của các trung tâm BTXH 35
3.3 Ứng phó của nhà nước trong việc giảm thiểu tác động đến trẻ em .35
Kết luận và khuyến nghị 36
1 Kết luận 36
2 Khuyến nghị 36
Danh mục bảng Bảng 1: Mẫu khảo sát 13
Bảng 2: Ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của các hộ gia đình 17
Danh mục hình Hình 1: Các vấn đề phát sinh đối với việc học trực tuyến của trẻ (%) 23
Hình 2: Giảm chất lượng bữa ăn (%) 26
Hình 3: Ảnh hưởng đến hoạt động của trẻ em (%) 27
Hình 4: Ảnh hưởng tâm lí của trẻ trong trung tâm 32
Hình 5: Nhu cầu của gia đình trong ngắn hạn (%) 33
Hình 6: Nhu cầu của gia đình trong dài hạn (%) 34
Lời mở đầu 5
Danh mục các từ viết tắt 7
Tóm tắt 8
Giới thiệu nghiên cứu 12
1 Bối cảnh 12
2 Mục tiêu 12
3 Phương pháp nghiên cứu 13
4 Hạn chế của nghiên cứu 14
Kết quả đánh giá 15
1 Tổng quan về trẻ em 15
2 Tác động của đại dịch đến gia đình và trẻ em 16
2.1 Hộ gia đình 16
2.2 Trẻ em sinh sống tại cộng đồng 20
2.3 Trẻ em được chăm sóc tại các trung tâm BTXH 28
2.4 Nhóm trẻ em chịu tác động nhiều nhất của dịch COVID-19 32
3 Nhu cầu trợ giúp xã hội 33
3.1 Nhu cầu của trẻ em và hộ gia đình 33
3.2 Nhu cầu của các trung tâm BTXH 35
3.3 Ứng phó của nhà nước trong việc giảm thiểu tác động của đại dịch COVID-19 đến trẻ em 35
Kết luận và khuyến nghị 36
1 Kết luận 36
2 Khuyến nghị 36
Danh mục bảng Bảng 1: Mẫu khảo sát 13
Bảng 2: Ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của các hộ gia đình 17
Danh mục Hình Hình 1: Các vấn đề phát sinh đối với học trực tuyến của trẻ (%) 23
Hình 2: Giảm chất lượng bữa ăn (%) 26
Hình 3: Ảnh hưởng đến hoạt động của trẻ em (%) 27
Hình 4: Ảnh hướng tâm lí với trẻ trong trung tâm 32
Hình 5: Nhu cầu của gia đình trong ngắn hạn (%) 33
Hình 6: Nhu cầu của gia đình trong dài hạn (%) 34
Trang 7Danh mục các từ viết tắt
Trang 8Đại dịch COVID-19 không chỉ là một cuộc
khủng hoảng y tế, mà còn là cuộc khủng hoảng
về con người và phát triển có ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các gia đình nói chung, cũng như phụ
nữ và trẻ em nói riêng Các gia đình có trẻ em
- đặc biệt là gia đình có trẻ khuyết tật, gia đình
nghèo, dễ bị tổn thương và những gia đình sống
ở các khu vực bị ảnh hưởng - đang phải chịu
những thách thức mới phát sinh, ngày càng gay
gắt và lâu dài về kinh tế và xã hội
Một quan ngại lớn đối với Việt Nam là có bằng
chứng cho thấy sự gia tăng tình trạng nghèo và
chênh lệch về mức sống ở trẻ em, điều này có
thể làm đảo ngược những thành tựu phát triển
vốn đã rất khó khăn mới đạt được trong những
thập kỷ qua Do những thách thức này gia tăng
trong một thời gian dài, sẽ có những tác động
nghiêm trọng tới phúc lợi hiện nay của trẻ và gây
ra hậu quả đình trệ phát triển về lâu dài
Xét từ góc độ quy chuẩn pháp lý và tài chính,
Việt Nam cần nhanh chóng tiếp tục mở rộng
và gia tăng đầu tư cho trẻ em để đảm bảo một
thế hệ học sinh khỏe mạnh cho hôm nay và lực
lượng lao động có kỹ năng, năng suất cao cho sự
phát triển kinh tế mai sau Trẻ em, khác với người
lớn, đang trải qua những giai đoạn phát triển
quan trọng, đặc biệt là phát triển về nhận thức,
và khi bị lỡ cơ hội phát triển và trưởng thành này
- các em sẽ bỏ lỡ nó suốt đời
Tại một số quốc gia, ngay từ khi bắt đầu đại dịch
COVID-19, các chính sách và chương trình an
sinh xã hội – trong phạm vi tổng thể các chính
sách kinh tế và xã hội rộng lớn – đã ngay lập tức
được mở rộng, nhằm giải quyết những thác thức
mới và trung hạn mà gia đình và trẻ em gặp phải
Các gói an sinh xã hội mở rộng giúp giải quyết
những nhu cầu phát sinh từ tác động kinh tế - xã
hội của đại dịch như suy giảm thu nhập từ sinh
kế gia đình và nhu cầu cấp thiết cần hỗ trợ về
lương thực, trang trải chi phí y tế và thuốc men, chăm sóc trẻ em, đi lại và học tập, v.v… Trong bối cảnh đó, Chính phủ nhận thấy tính cấp thiết
và nhất trí rằng trợ cấp cho trẻ em là đúng về nguyên tắc, phù hợp với thực tế, cần được ưu tiên và mang lại hiệu quả trong việc giảm nghèo Trợ giúp xã hội kịp thời và đầy đủ đóng một vai trò quan trọng để các quốc gia giải quyết những khó khăn do đại dịch, đảm bảo có thể phục hồi tốt hơn và duy trì tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) Vai trò này đã được chứng minh trên toàn cầu Tại Việt Nam, Kế hoạch quốc gia Ứng phó đại dịch COVID-19 đã thể hiện những nỗ lực ứng phó đa ngành, toàn diện của Chính phủ Việt Nam đối với đại dịch – được ban hành lần đầu vào ngày 20 tháng 1 và được cập nhật vào ngày 31 tháng 1, 2020 Kế hoạch bao gồm việc ban hành Nghị quyết 42 và Quyết định 15 về triển khai gói trợ giúp xã hội trị giá 62 nghìn tỷ đồng (2,6 tỷ Đô la Mỹ), hỗ trợ tiền mặt cho những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch1 Kế hoạch ứng phó đa ngành công nhận việc củng cố hệ thống an sinh xã hội đóng vai trò cốt lõi để phục hồi Việt Nam phát triển hơn
Để nắm bắt được những thách thức phải đối mặt
và nhu cầu trước mắt của các gia đình và trẻ em sống ở trung tâm bảo trợ xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) với sự hỗ trợ của UNICEF đã tiến hành một đánh giá nhanh
1 Nghị quyết 42/NQ-CP (9 tháng 4 2020) về các biện pháp
hộ trợ người gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Quyết định 15/2020/QD-TTg (24 tháng 4 2020) về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Hộ trợ tiền mặt cho người khó khăn do đại dịch COVID-19 gồm 250.000 đồng (hơn 10 Đô la Mỹ) mỗi tháng đối với người nghèo/cận nghèo; 500.000 đồng (hơn 20 Đô
la Mỹ) mỗi tháng với đối tượng bảo trợ xã hội, người có công và người lao động mất việc làm và 1 triệu đồng (43 Đô
la Mỹ) mỗi tháng cho mỗi hộ gia đình hay người lao động tự
do bị mất việc làm, từ tháng 4 tới tháng 6 năm 2020 và hỗ trợ các doanh nghiệp bị tác động bởi đại dịch vay vốn với lãi suất thấp để trả lương cho người lao động.
Tóm tắt
Trang 9Đánh giá quy mô toàn quốc này dựa trên bằng
chứng thu thập được từ tất cả 63 tỉnh thành trên
cả nước và các cuộc phỏng vấn sâu trực tuyến
với 8 tỉnh, thành phố (Điện Biên, Hà Nội, Hưng
Yên, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Gia Lai, Bình Dương
và Đồng Tháp), từ ngày 15 tháng 4 đến 18 tháng
5 năm 2020 Những phát hiện chính của đánh
giá sẽ giúp Bộ LĐTBXH đề xuất các giải pháp kịp
thời góp phần điều chỉnh Nghị quyết 42 và các
chính sách trợ giúp tiền mặt thường xuyên khác,
nhằm giảm thiểu tác động của làn sóng đại dịch
trong thời gian qua và trong tương lai đối với các
gia đình có trẻ em
Kết quả ban đầu của đánh giá nhanh cho thấy:
Mặc dù tính đến thời điểm thực hiện đánh giá,
Việt Nam chưa ghi nhận ca trẻ em tử vong nào,
nhưng tất cả các gia đình và trẻ em đều bị ảnh
hưởng theo cách này hay cách khác bởi đại dịch
do các biện pháp cần thiết nhằm kiểm soát sự lây
lan của đại dịch Trên khắp cả nước, nhiều người
gặp phải tình cảnh mất việc làm, giảm thu nhập
cũng như khả năng chu cấp cho con cái, ví dụ
đến cuối tháng 6 năm 2020, ước tính có khoảng
30,8 triệu người ở Việt Nam đã bị tác động tiêu
cực bởi đại dịch và 53,7% người lao động bị giảm
thu nhập, đóng cửa trường học, tạm ngừng dịch
vụ y tế cũng như gia tăng giá thực phẩm, khẩu
trang và các mặt hàng thiết yếu khác Những
bằng chứng cho thấy tác động tức thời của đại
dịch đối với trẻ em bao gồm:
• Việc nhiều trẻ em không được tiếp cận và
giảm chất lượng giáo dục đã tác động đến
kết quả học tập do tiếp cận không đồng đều
với giáo dục trực tuyến và không thể hấp thụ
khối lượng kiến thức, đặc biệt là trẻ em dân
tộc thiểu số và trẻ em khuyết tật ở vùng sâu,
vùng xa
• Giảm khả năng tiếp cận với các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe thiết yếu và tăng nguy cơ trẻ em
không được chăm sóc y tế kịp thời do tâm lý
lo ngại lây nhiễm tại chính các cơ sở y tế, việc
này đặc biệt ảnh hưởng đến trẻ em khuyết tật
và trẻ sơ sinh cần được khám định kỳ
• Giảm số lượng và chất lượng bữa ăn, việc
này ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến
dinh dưỡng, sự phát triển thể chất và nhận
thức của trẻ em, trong đó trẻ em trong
các gia đình có hoàn cảnh khó khăn bị ảnh
Do bị mất hoặc giảm thu nhập và không có hệ thống an sinh xã hội vững chắc, dễ tiếp cận, nhiều gia đình có trẻ em phải sống dưới mức tối thiểu trong khi vẫn phải chi tiêu và vay mượn nhiều hơn Sự gián đoạn các dịch vụ thông
thường khiến các gia đình phải chi nhiều hơn Chẳng hạn, phải mua thêm thiết bị (máy tính, điện thoại thông minh, kết nối internet) để duy trì học tập trực tuyến; phải chi thêm cho các trang thiết bị phòng dịch thiết yếu, trả thêm cho chi phí vận chuyển khi đưa trẻ đi khám hoặc chữa bệnh; và phải chi cho bữa ăn dinh dưỡng cho trẻ em, bổ sung sữa cho trẻ em dưới sáu tuổi Các gia đình nghèo có trẻ em xuất hiện nhu cầu được miễn, giảm học phí, hỗ trợ sách, vở, đồ dùng học tập do họ đã phải đối phó với việc cắt giảm chi tiêu cho lương thực thực phẩm và vay
nợ
Tác động đến các nhóm lao động ở nhiều mức
độ khác nhau Lao động trong khu vực chính
thức nhìn chung có khả năng ứng phó tốt hơn do
có nguồn thu nhập ổn định và hỗ trợ an sinh xã hội Ngược lại, nhóm lao động phi chính thức gặp khó khăn hơn Nhiều bậc cha mẹ bị mất việc làm hoặc giảm thu nhập, không thể chi thêm cho các nhu cầu phát sinh của con cáiđể có thể tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu và đáp ứng các nhu cầu
cơ bản Theo nhiều nghiên cứu khác, tác động đối với phụ nữ là trụ cột gia đình đặc biệt rõ rệt Nhiều gia đình không có lựa chọn nào khác, buộc phải cắt giảm chi tiêu gia đình Những gia đình nghèo không có tiền tiết kiệm và phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập hàng ngày cho biết họ rơi vào nợ nần, phải bán tài sản hoặc cắt giảm chất lượng bữa ăn Cơ hội việc làm và đảm bảo sinh kế được xác định rõ ràng là nhu cầu lâu dài của các gia đình có trẻ em Nhiều người cho biết nếu có nhu cầu việc làm, họ sẽ quay lại công việc trước đây khi cơ hội cho phép và chưa muốn tìm kiếm việc làm mới, đảm bảo thu nhập ổn định và
an toàn hơn
Trang 10Những gia đình và trẻ em vốn đã khó khăn về
kinh tế - xã hội trước đại dịch phải chịu nhiều
tác động tiêu cực hơn Đặc biệt những gia đình
nghèo, cận nghèo, gia đình có trẻ em khuyết tật,
gia đình đơn thân, gia đình di cư, gia đình nuôi
con nhỏ và trẻ em ở vùng sâu vùng xa (trong đó
đa số là trẻ em dân tộc thiểu số) gặp phải một số
khó khăn liên quan đến tiếp cận dịch vụ chăm
sóc y tế, phúc lợi và giáo dục Nhiều gia đình
trong số họ đã gặp khó khăn với chất lượng dịch
vụ thấp và khả năng kết nối kém (ví dụ kết nối
mạng Internet) ngay cả từ trước đại dịch do vị trí
xa xôi
Trẻ em ở các trung tâm bảo trợ xã hội cũng gặp
nhiều khó khăn Trong những ngày đầu của đại
dịch, hầu hết tất cả các trung tâm đều đối mặt
với tình trạng thiếu nguồn cung cấp như xà
phòng, nước rửa tay, khiến trẻ khó thực hành
rửa tay phòng tránh lây nhiễm Khi các biện pháp
giãn cách xã hội được thiết lập, các trung tâm đã
đóng cửa không tiếp khách, kể cả gia đình của
trẻ em Trẻ em ở các trung tâm - như trẻ em ở
độ tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông
- đã trải qua cảm giác bị cô lập sâu sắc khi không
được gia đình đến thăm, thiếu sự tương tác với
bạn bè do đóng cửa trường học kéo dài, bị hạn
chế hoặc không có cơ hội ra ngoài trung tâm
Tất cả các trung tâm bảo trợ xã hội đều trải qua những thách thức với việc học trực tuyến, vì hầu hết máy tính của trung tâm không thể dùng cho việc học của trẻ Trẻ em khuyết tật, thường hay được đưa vào chăm sóc nội trú, có nguy cơ cao chịu sự tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt nếu các em đã có sẵn bệnh nền như suy giảm miễn dịch
Nhiều gia đình có trẻ em không đủ điều kiện nhận gói hỗ trợ tiền mặt theo Nghị quyết 42 Theo báo cáo, quy trình yêu cầu và nhận gói hỗ trợ rất chậm và rắc rối do các tiêu chí và điều
kiện phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà Ngay
cả trong trường hợp các gia đình thực sự nhận được gói hỗ trợ tiền mặt, các gia đình cho biết mức hỗ trợ này cũng không đủ để bù lại những thiệt hại so với mất việc làm, giảm thu nhập hay
đủ để hỗ trợ thêm cho các chi phí phát sinh liên quan đến chăm sóc trẻ Ngoài ra, mặc dù sự phát triển của trẻ em bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch, nhưng Nghị quyết 42 chủ yếu tập trung vào các thành viên khác trong gia đình mà chưa xem xét toàn diện nhu cầu của trẻ Điều này khiến nhiều em rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương, đặc biệt trước các làn sóng dịch bệnh dự đoán trong tương lai có thể làm tình hình xấu đi
Khuyến nghị chính:
1 Điều chỉnh Nghị quyết 42 và Quyết định 15 để mở rộng gói trợ giúp xã hội cho tất cả
các gia đình có trẻ em dễ bị tổn thương và dễ gặp nguy cơ, nhằm bảo vệ họ khỏi nguy
cơ tiếp tục bị tổn thương và duy trì những tiến bộ đạt được về phát triển vốn con người, đặc biệt là trong bối cảnh các làn sóng COVID-19 trong tương lai sẽ làm gia tăng thêm
những thách thức kinh tế và thiếu thốn mà trẻ em trong gia đình nghèo phải chịu Các
thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa, minh bạch và kịp thời từ các khâu đăng ký
và xác minh đối tượng và chi trả, giúp các gia đình tiếp cận được các hỗ trợ tiền mặt cần thiết Mức hỗ trợ cho các gia đình có trẻ em nên được tính toán bao gồm cả các chi phí
bổ sung mà các gia đình phải chịu trong giai đoạn khủng hoảng và đại dịch để đảm bảo
sự liền mạch và chất lượng của hoạt động chăm sóc sức khỏe, giáo dục và dinh dưỡng
cho trẻ em Ví dụ bao gồm chi phí học tập trực tuyến (ví dụ: kết nối Internet, máy tính,
thiết bị thông minh), phương tiện đi lại, các mặt hàng thực phẩm bổ dưỡng và chất lượng (ví dụ như sữa bổ sung cho trẻ dưới sáu tuổi), dịch vụ chăm sóc trẻ nhỏ khi cha mẹ đi
làm, thiết bị vệ sinh (nước rửa tay, cồn kháng khuẩn, khẩu trang, đo nhiệt độ) và hỗ trợ
tâm lý xã hội
2 Tăng cường hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, chủ động và phòng ngừa, với cơ chế tích hợp để dự đoán và ứng phó với các rủi ro và có khả năng thích ứng hơn với các loại hình
Trang 11khủng hoảng khác nhau (biến đổi khí hậu, khủng hoảng kinh tế và đại dịch) theo mục
tiêu của Đề án Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội cho giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn
2030 và Tuyên bố của Hội nghị cấp cao ASEAN đặc biệt về bệnh coronavirus 2020
(COVID-19) (14 tháng 4 năm 2020)
3 Thiết lập cơ chế thu thập, phân tích và phổ biến dữ liệu kịp thời và liên tục về tác động
của tất cả các cuộc khủng hoảng đối với trẻ em, bao gồm cả đại dịch COVID-19: Bằng
việc thực hiện đánh giá nhanh cùng với các địa điểm quan trọng để thu thập dữ liệu về
tác động của các cuộc khủng hoảng ngay từ ban đầu, các nhà lãnh đạo sẽ được cung
cấp thông tin đầy đủ và kịp thời, từ đó có thể đề xuất các giải pháp dựa trên nguồn tài
chính phù hợp
4 Sửa đổi các chương trình, chính sách trợ giúp xã hội hiện hành, đặc biệt là Nghị định
136 nhằm đảm bảo đầu tư liên tục phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ trẻ em và gia đình
của các em khỏi rơi vào tình trạng nghèo đói và dễ bị tổn thương trong thời kỳ khủng
hoảng Bao gồm xây dựng gói hỗ trợ tiền mặt phổ quát cho trẻ em, ưu tiên nhóm trẻ
em từ 0-3 tuổi, vì đây là cơ hội quan trọng để phát triển thể lực và nhận thức của trẻ,
và cuối cùng là để tăng trưởng kinh tế và năng suất trong tương lai Sau đó, nên dần
dần mở rộng phạm vi bao phủ của gói hỗ trợ tới trẻ lớn tuổi hơn, nhằm hỗ trợ cho các
gia đình trong việc chăm sóc và bảo đảm cuộc sống của trẻ em trong suốt cuộc đời
5 Đặt hệ thống trợ giúp xã hội thường xuyên trong phạm vi các chính sách xã hội rộng
lớn hơn của Việt Nam với mục tiêu tổng thể là tăng cường phát triển vốn con người
Điều này liên quan đến việc xác định các mức trợ cấp xã hội thường xuyên đủ để trẻ
em có thể tiếp cận được các dịch vụ thiết yếu (bao gồm giáo dục, y tế, dinh dưỡng,
nước sạch và vệ sinh, bảo vệ và chăm sóc), đồng thời có tính đến các yếu tố dễ bị tổn
thương liên quan đến tuổi, giới tính, vị trí địa lý, dân tộc và tình trạng khuyết tật Các
mức trợ cấp xã hội dành cho trẻ em cần được điều chỉnh phù hợp trong thời kỳ khủng
hoảng, giúp gia đình có thể trang trải những khoản chi phát sinh nhằm đảm bảo trẻ em
được hưởng phúc lợi và tiếp tục tiếp cận các dịch vụ thiết yếu chất lượng
6 Tăng cường hỗ trợ những trẻ em dễ bị tổn thương nhất, nhất là trẻ em ở ở các trung
tâm bảo trợ xã hội chịu tổn thương đa dạng về nhiều mặt Việc đầu tư vào các biện
pháp tăng cường bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng và hệ thống công tác xã hội ngày
càng quan trọng, đảm bảo trẻ em được chăm sóc bởi các thành viên trong gia đình,
người thân và cộng đồng
• Tăng cường hệ thống quản lý trường hợp bằng cách thiết lập mạng lưới nhân viên
xã hội bảo vệ trẻ em đã qua đào tạo chuyên môn ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã cũng
như đào tạo nhân viên bảo vệ trẻ em tại địa phương nhằm phát hiện và cung cấp
các dịch vụ bảo vệ trẻ em trong bối cảnh đại dịch và các cuộc khủng hoảng khác
Mạng lưới này sẽ hỗ trợ việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em của những người chăm sóc
chính và giúp ngăn ngừa rủi ro và sự cô lập mà trẻ em trải qua trong các cơ sở chăm
sóc nội trú
• Tăng cường năng lực cho cán bộ trung tâm bảo trợ xã hội nhằm phát hiện tình trạng
dễ bị tổn thương ở trẻ em cũng như tăng cường sự an toàn cho trẻ em
• Xây dựng các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội, bao gồm xác
định sớm, chuyển tuyến, tư vấn, quản lý trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ hoặc
nạn nhân của bạo lực và xâm hại cũng như trong các trung tâm bảo trợ xã hội
Trang 121 Bối cảnh
Đại dịch COVID-19 toàn cầu từ đầu năm 2020 đã
ảnh hưởng tới tất cả các nước, trong đó có Việt
Nam với những thách thức kinh tế, xã hội và y tế
chưa từng có Điều này đòi hỏi Chính phủ mỗi
nước phải nhanh chóng đưa các chính sách và
biện pháp hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu kép,
không chỉ phòng chống dịch bệnh mà còn phát
triển kinh tế và an sinh xã hội - đặc biệt là đối với
những nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương, chẳng
hạn trẻ em Kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng
phát vào tháng 2 năm 2020, Chính phủ Việt Nam
đã đưa ra một loạt các biện pháp khẩn cấp nhằm
giảm nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng
Tuy nhiên, đại dịch cũng ảnh hưởng mạnh đến
sinh kế và phúc lợi của các gia đình Các gia đình
nghèo và cận nghèo, gia đình có trẻ em, đặc biệt
là có người khuyết tật, dễ bị tổn thương và sống
ở các khu vực bị cách ly, đang phải đối mặt với
những rủi ro và thách thức mới về sinh kế, đồng
thời thiếu tiếp cận với các dịch vụ công do thực
hiện các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh trên
toàn xã hội Trong trường hợp đại dịch tiếp tục
hoành hành, sẽ có thêm nhiều gia đình tại Việt
Nam phải chịu cảnh nghèo đói và mất an ninh
thu nhập do mất việc làm hoặc bất ổn về sinh kế
Các biện pháp giãn cách xã hội như đóng cửa
trường học và các điểm vui chơi giải trí, tự cách
ly hoặc cách ly bắt buộc, hạn chế đi lại, tránh tụ
tập đông người cùng với các biện pháp khác đã
ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của mọi tầng
lớp dân cư, đặc biệt là tác động đến trẻ em Sự
xáo trộn trong sinh hoạt hằng ngày của các gia
đình cũng kéo theo nhiều hệ lụy, chẳng hạn thiếu
người chăm sóc trẻ ở nhà là mối đe dọa cho sự
an toàn cũng như cuộc sống của trẻ
Các cuộc khủng hoảng, kể cả đại dịch, gây ra
những tác động đến trẻ em ngày hôm nay –
nhưng chúng cũng có thể ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển kinh tế của đất nước trong tương
lai Nguyên nhân bắt nguồn từ việc trẻ em tiếp
cận với dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, nền giáo
dục chất lượng và sự an toàn bị thay đổi trong
thời gian dài, điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển về thể chất và nhận thức của các em – ngoài ra, cơ hội để bắt kịp những phát triển bị bỏ lỡ đó cũng giảm dần nếu thời gian thiếu thốn kéo dài
Do đó, những vấn đề liên quan đến trẻ em trong
và sau đại dịch COVID-19 là vấn đề cấp bách cần được các cấp chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội quan tâm Với các giải pháp kịp thời và lâu dài, cùng với những nỗ lực thực sự nhằm thực hiện phương châm “Không ai bị bỏ lại phía sau” của Chính phủ trong phòng chống đại dịch COVID-19, phụ nữ và trẻ em được ưu tiên chăm sóc Trong bối cảnh đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP (ngày 9 tháng 4 năm 2020) nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho những người gặp khó khăn do đại dịch COVID-192
2 Mục tiêu
Dự đoán trước những hậu quả kéo dài, Bộ LĐTBXH nhận thấy cần tìm hiểu sâu hơn về tác động xã hội của đại dịch COVID-19 đối với gia đình có trẻ em, các vấn đề nổi cộm về tình trạng nghèo và dễ bị tổn thương, cũng như các vấn
đề về sinh kế và phúc lợi của gia đình Mục tiêu của đánh giá nhanh này nhằm thu thập các bằng chứng quan trọng, phát hiện các yếu tố dễ bị tổn thương của gia đình và trẻ em do tác động kinh tế và xã hội của đại dịch cũng như khoảng trống chính sách liên quan đến việc ứng phó của gia đình và trung tâm bảo trợ xã hội với đại dịch Bằng chứng thu được từ đánh giá này sẽ giúp Bộ LĐTBXH đề xuất sửa đổi Nghị quyết 42/NQ-CP cũng như các biện pháp ứng phó tiếp theo, nhằm giảm thiểu tác động của đại dịch đối với các gia đình có trẻ em, đồng thời thừa nhận khả năng
2 Các đối tượng được hưởng trợ cấp theo Nghị quyết 42 gồm có đối tượng bảo trợ xã hội hàng tháng (thêm 500.000 đồng/người/tháng trong 3 tháng), thành viên trong hộ nghèo/cận nghèo (thêm 250.000 đồng/khẩu/tháng trong 3), người có công (thêm 500.000 đồng/người/tháng trong
3 tháng), người lao động, người sử dụng lao động và các hộ gia đình kinh doanh cá thể bị ảnh hưởng, là những nhóm dễ tổn thương nhất trước các rủi ro
Giới thiệu nghiên cứu
Trang 13các làn sóng đại dịch trong tương lai có thể gây
ra tác động nặng nề hơn
Đánh giá này cũng bổ sung cho hoạt động rà
soát việc thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP3
mà UNICEF đã và đang hỗ trợ Bộ LĐTBXH tiến
hành từ trước đại dịch COVID-19 Do vậy, đánh
giá nhanh này cũng cung cấp thêm thông tin cho
công cuộc cải cách tổng thể hệ thống trợ giúp
xã hội theo Đề án Đổi mới, phát triển trợ giúp xã
hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm
20304 Nói một cách cụ thể là đổi mới hệ thống
trợ giúp xã hội theo hướng có khả năng ứng phó
với các cú sốc cũng như mở rộng độ bao phủ trợ
giúp xã hội thường xuyên cho trẻ em thông qua
việc sửa đổi Nghị định 136
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong bối cảnh bùng phát đại dịch, đánh giá
nhanh đã áp dụng phương pháp nghiên cứu sáng
tạo, có tính đến các yếu tố giãn cách xã hội trên
phạm vi toàn quốc Nghiên cứu sử dụng cách
tiếp cận định tính, bao gồm hai phần chính:
Đánh giá tổng thể: Tiến hành thu thập thông
3 Nghị định số 136/2013/ND-CP (21/10/2013) Quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
4 Quyết đinh số 488/QĐ-TTg (14/2017) về Phê duyệt Đề án
Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và
tầm nhìn 2030
tin của 63 tỉnh thành, sử dụng các báo cáo hành chính của các tỉnh theo những câu hỏi và hướng dẫn nghiên cứu được soạn sẵn và gửi cho các tỉnh nhằm phân tích tình hình chung về đại dịch tại địa phương, chính sách đối trẻ em nói chung
và chương trình đặc thù cho trẻ em là đối tượng bảo trợ xã hội nói riêng
Đánh giá chuyên sâu: Khảo sát nhanh với 8 tỉnh/
thành phố được lựa chọn theo những tiêu chí nhất định, gồm (i) yếu tố địa lý: đại diện vùng miền (bắc, trung, nam) với các đặc điểm địa hình (đồng bằng, trung du, cao nguyên, miền núi, ven biển); (ii) chịu tác động của dịch: phân bổ theo thống kê
về số người nhiễm; (iii) yếu tố phát triển kinh tế xã hội và khả năng huy động ngân sách cho an sinh
xã hội, nhằm tìm hiểu sâu hơn về tác động của đại dịch đến các đối tượng gia đình có trẻ em và các trung tâm BTXH trong và ngoài công lập Các tỉnh được lựa chọn gồm: Điện Biên, Hà Nội, Hưng Yên, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Gia Lai, Bình Dương
và Đồng Tháp Mẫu phỏng vấn sâu thể hiện trong Bảng 1 và hình thức phỏng vấn từ xa bằng cách gọi điện thoại, phỏng vấn trực tuyến với từng đối tượng riêng biệt, gồm đại diện của hộ gia đình
có trẻ em là đối tượng bảo trợ xã hội, hộ gia đình
có trẻ em có khả năng chịu tác động của dịch đại dịch, lãnh đạo/cán bộ tại các trung tâm bảo trợ xã hội Thời gian thực hiện các phỏng vấn: không quá
Trẻ em là đối tượng nhận hỗ trợ theo Nghị định 136
Trẻ em không thuộc đối tượng BTXH
Gia đình có bố mẹ là lao động tự do trước dịch
Gia đình có phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi
Trang 14Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp:
Nhóm nghiên cứu đã thu thập những nghiên
cứu có liên quan đến tác động của đại dịch
COVID-19 đến các gia đình có trẻ em và trẻ
em ở các trung tâm bảo trợ xã hội tại Việt Nam,
nhưng trong khoảng 6 tháng đầu năm 2020 có
rất ít nghiên cứu về vấn đề này được công bố
Mãi đến tháng 10/2020 mới có Báo cáo kết
quả đánh giá nhanh ảnh hưởng của đại dịch
COVID-19 đối với trẻ em của nhóm Công tác vì
Quyền trẻ em (CRWG) Nghiên cứu này được
thực hiện ở 23/63 tỉnh, thành phố trong cả
nước và số trẻ em tham gia đánh giá là 1.122
trẻ em, 707 trong số đó tham gia khảo sát trực
tuyến (trong đó có 273 nam và 429 nữ, 5 giới
tính khác) và 415 trẻ em được phỏng vấn trực
tiếp (trong đó 217 nữ và 193 nam, 5 giới tính
khác) Ngoài ra còn có báo cáo đánh giá nhanh
về đại dịch COVID-19 và thị trường lao động tại
Việt Nam do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
thực hiện và một số báo cáo khác về ảnh hưởng
của đại dịch đến dân di cư, phụ nữ và người cao
tuổi
4 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời
gian giãn cách xã hội từ 15 tháng 4 đến 18 tháng
5 năm 2020 Trong giai đoạn này, bằng chứng, tư
liệu có sẵn còn khá hạn chế, do đó nghiên cứu
này chủ yếu dựa vào các báo cáo đánh giá nhanh
của các tỉnh và phỏng vấn sâu từ xa với số mẫu
giới hạn Vì vậy, nghiên cứu chỉ đưa ra bức tranh
chung về những tác động ban đầu của đại dịch
lên gia đình và trẻ em
Thông tin được thu thập qua phỏng vấn bằng điện thoại nên không tránh khỏi một số hạn chế
về chất lượng Những yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn là:
• Gián đoạn trong thực hiện phỏng vấn: Một
số cuộc phỏng vấn phải thực hiện nhiều lần mới có thể hoàn thành do các yếu tố môi trường bên ngoài hoặc do đường truyền tín hiệu ngắt quãng
• Không có khả năng quan sát môi trường phỏng vấn, không nắm bắt ngôn ngữ hình thể và biểu hiện cảm xúc của người được phỏng vấn có thể hạn chế hiệu quả phỏng vấn
• Thời lượng phỏng vấn ngắn, không quá 40 phút, nên thông tin thu được chưa thực sự
đa dạng và phong phú
• Trong quá trình triển khai hoạt động, việc chuẩn bị mẫu và điều phối hoạt động còn có những hạn chế nhất định do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, dẫn đến mẫu phỏng vấn có sai lệch so với dàn mẫu lựa chọn ban đầu (chọn nhầm đối tượng, nhầm
số điện thoại, số điện thoại không liên lạc được,…) phải làm lại nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ của nghiên cứu
Trang 151 Tổng quan về trẻ em
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019,
tổng dân số Việt Nam là 96,2 triệu người, trong
đó trẻ em dưới 16 tuổi là 24,7 triệu người và trẻ
em dưới 18 tuổi là 27,2 triệu người Năm 2018,
cả nước có trên 1,3 triệu hộ nghèo (5,23% tổng
số hộ gia đình) và hơn 1,2 triệu hộ cận nghèo
(4,95% tổng số hộ gia đình)5 Theo báo cáo đánh
giá nhanh của Sở LĐTBXH 63 tỉnh, thành phố,
có hơn 2,3 triệu trẻ em thuộc hộ nghèo và cận
nghèo, và các em có nguy cơ rơi vào tình trạng
nghèo khổ và thiếu thốn
Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH (tháng 6/2020)
có 1,7 triệu trẻ em dễ bị tổn thương (Luật Trẻ em
năm 2016); Có khoảng 340 ngàn trẻ em là đối
tượng BTXH trên tổng số 3,1 triệu người được
5 Quyết định số 1052/QĐ-LĐTBXH ngày 29/7/2019 của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội công bố kết quả rà soát
hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn nghèo tiếp
cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng6, chiếm khoảng 1,3% tổng số trẻ em, gồm khoảng 33 ngàn trẻ
em bị mất nguồn nuôi dưỡng và người từ 16 đến
22 tuổi đang học phổ thông, nghề, trung học, cao đẳng, đại học; 840 trẻ em nhiễm HIV thuộc
hộ nghèo; gồm 300 ngàn trẻ em khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng Đến thời điểm hiện tại, có gần 13 ngàn trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, học văn hóa, học nghề tại các cơ sở BTXH đang được các cơ quan chức năng cấp giấy phép hoạt động7
6 Tổng hợp báo cáo nhanh của Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội 63 tỉnh, thành phố phục vụ xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.
7 Nguồn: Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu đối tượng tại các cơ
sở TGXH (http://trungtambtxh.btxh.gov.vn/)
Assessment Results
1 Overview of the child population
According to the Population and Housing
Census, 2019, the total population of Viet Nam
is 96.2 million people, of whom 24.7 million are
children under 16 years old and 27.2 million
under the 18 years In 2018, there were more
than 1.3 million poor families nationally (5.23%
of total households) and more than 1.2 million
near-poor families (4.95% of households)5
According to quick reports from DOLISAs in
63 provinces and cities, more than 2.3 million
children belonged to poor or near-poor families
at risk of falling into poverty and deprivation
As reported by MOLISA (June 2020), there are
up to 1.7 million vulnerable children (as defined
per the 2016 Law on Children), 90% of whom
are beneficiaries of regular and emergency social
5 Decision 1052/QD-LDTBXH (29 July 2019) of MOLISA
announcing results of a review of poor and near-poor
households in 2018 according to the multidimensional
poverty standard applied for 2016-2020.
assistance policies Among 3.1 million people receiving the monthly social allowance6, about 340,000 vulnerable children are social assistance beneficiaries, accounting for only 1.3% of
children Of these children, around 33,000 are without nurturing sources or aged 16-22 years
in secondary education programmes, vocational training programmes, colleges or universities,
840 have HIV and live in poor families and 300,000 children have severe or extremely severe disabilities Figure 1 demonstrates the population sizes of children and vulnerable children At present, nearly 13,000 children are being cared for, fostered, given access to universal education, or vocational training at licensed social assistance facilities7
6 Quick reports of DOLISAs in 63 provinces and cities
to facilitate formulation of a prime ministerial decision
on implementing policies to support people affected by COVID-19.
7 Source: Database management system of subjects at social assistance establishments (http://trungtambtxh.btxh.gov.vn/)
I am just a worker while my husband is self-employed We also do not plant any vegetables or do any animal husbandry
My salary is VND 5 million and my husband makes VND 4-5 million, enough for us to pay our older daughter’s tuition fees During the pandemic, we both had
to stop working so we did not have any
other income.
(mother of child with a disability aged
3 years old, Van Lam, Hung Yen).
Em thì cũng chỉ làm công nhân, còn chồng em cũng làm tự do, nhà cũng không trồng trọt chăn nuôi gì, lương của
em thì 5 triệu, chồng em thì khoảng 4 –
5 triệu, đủ đóng học cho con bé lớn Đợt dịch này cả hai vợ chồng đều phải nghỉ,
nên không có thu nhập gì khác”
(Mẹ của trẻ em khuyết tật 3 tuổi,
Văn Lâm, Hưng Yên).
Kết quả đánh giá
Trang 162 Tác động của đại dịch đến gia đình
và trẻ em
2.1 Hộ gia đình
Tác động đến việc làm và thu nhập
Đại dịch COVID-19 không chỉ gây khủng hoảng
về y tế mà còn kéo theo những tác động tiêu
cực đến tình hình kinh tế- xã hội Việc áp dụng
các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội đã
tác động nghiêm trọng đến các hoạt động tạo
thu nhập của người lao động, đặc biệt là phụ nữ
Hàng loạt doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể
phải giảm giờ làm, giảm lương và sa thải công
nhân hoặc thậm chí đóng cửa doanh nghiệp, gây
ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người
lao động và hộ gia đình Theo báo cáo đánh giá
nhanh Đại dịch COVID-19 với thị trường lao
động của Việt Nam do ILO thực hiện, ước tính
đến giữa năm 2020, cuộc khủng hoảng có thể
ảnh hưởng đến sinh kế của 4,6 đến 10,3 triệu lao
động thông qua giảm số giờ làm việc, giảm lương
hoặc mất việc làm Đến cuối tháng 6 năm 2020,
ước tính khoảng 30,8 triệu người ở Việt Nam đã
bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng và 53,7%
người lao động phải đối mặt với việc giảm thu
nhập8
Chị đi làm thuê, ai mướn gì làm đó Trong thời
gian dịch bệnh thì không phải nghỉ việc nhưng
do ít người mướn hơn nên ít thu nhập hơn”
(Mẹ đơn thân, nuôi 2 trẻ em 10 tuổi và 5
tuổi, Làng Mui, Bình Giáo, Gia Lai)
Trong thời điểm thực hiện giãn cách xã hội,
quán cà phê nhà tôi phải đóng cửa Đến nay
quán đã mở cửa trở lại nhưng lượng khách
vẫn còn ít, mọi người chưa muốn tụ tập đông
và có lẽ cũng cắt giảm một phần chi tiêu”
(Bố của 2 trẻ em 14 và 12 tuổi, Khu phố 2,
Ninh Thuận)
Em có miếng đất nên vay ngân hàng xây nhà
trọ, cho thuê để kiếm tiền Nhà em cho công
nhân của công ty ở gần đây thuê Do dịch
bệnh công nhân không có việc làm, công ty
cho nghỉ một số, còn một số làm cầm chừng
nên họ về quê luôn hoặc chuyển đi nơi khác;
8 Gần 31 triệu người mất việc, giảm thu nhập vì COVID-19 -
VnExpress Kinh doanh https://vnexpress
net/gan-31-trieu-nguoi-mat-viec-giam-thu-nhap-vi-covid-19-4128 450.html
giờ số người thuê còn khoảng hơn một nửa?”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 7 tuổi, Phường Hòa Lợi, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
Em thuê cửa hàng làm cắt tóc gội đầu, gia đình cũng ở đây luôn, vì con em bị khuyết tật vậy nên em cũng không rời cháu được Đợt vừa rồi cửa hàng phải nghỉ hẳn theo quy định, mới mở cửa lại nhưng cũng chưa có khách mấy Người ta còn lo ăn chứ chưa lo đến làm đẹp Chồng em trước đi làm ở dưới Đà Nẵng, giờ nghỉ không có việc vì xưởng đó cũng đang tạm nghỉ, chưa biết bao giờ đi làm lại Thu nhập thì chỉ trông vào những việc mình làm đấy thôi, dừng việc thì thu nhập cũng không có”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 7 tuổi, Bình Giáo, Gia Lai)
Chồng chị và em trai làm thợ sơn, em gái thì làm xây dựng Trước dịch thì việc đều đều, trong dịch thì gần như không có việc, có đợt phải ở nhà gần một tháng Giờ thì đỡ hơn rồi, bắt đầu đi làm lại nhưng không có nhiều việc”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 8 tuổi, khu phố 9, Ninh Thuận)
Các nhóm lao động khác nhau chịu tác động ở nhiều mức độ khác nhau Lao động trong khu vực chính thức nhìn chung có khả năng ứng phó tốt hơn với đại dịch do có nguồn thu nhập ổn định, trong khi lao động khu vực phi chính thức gặp khó khăn hơn Nhóm lao động tự làm trong
hộ gia đình, nhóm làm công ăn lương không có giao kết hợp đồng lao động trong một số ngành dịch vụ, sản xuất và nhóm lao động tự do bị ảnh hưởng trầm trọng nhất bởi đại dịch Ngoài việc giảm giờ hoặc bị mất việc làm trong thời gian giãn cách xã hội, ngay cả các hoạt động kinh doanh (nhà hàng, quán cà phê, bán vé số, cắt tóc gội đầu v.v) khi mở cửa trở lại thì vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn, do nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sút, dẫn đến việc làm và thu nhập của người lao động cũng vẫn suy giảm Lao động trong các ngành sản xuất và xây dựng hầu hết cũng tạm ngừng hoạt động trong thời gian giãn cách xã hội Trong khi, những lao động
bị mất việc cũng bắt đầu đi làm trở lại khi kết
Trang 17thúc thời gian giãn cách theo quy định của Chính
phủ, tuy nhiên đa phần vẫn chưa đạt được số giờ
và mức thu nhập như thời điểm trước dịch Lao
động trong lĩnh vực dịch vụ hồi phục chậm nhất,
nhiều người vẫn chưa đi làm trở lại
Bảng 2 tóm tắt tình trạng ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của các nhóm lao động
Bảng 2: Ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của các hộ gia đình
Các nhóm lao động Ảnh hưởng việc làm Ảnh hưởng thu nhập
vực dịch vụ Tạm nghỉ việc khi giãn cách; chưa có việc làm sau giãn cách Không có thu nhập
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát, tháng 5/2020
Trong 46 cuộc phỏng vấn được tiến hành, chỉ
ghi nhận một vài trường hợp mà việc làm và thu
nhập không bị ảnh hưởng Đó là lao động trong
hộ sản xuất nông nghiệp trên đất của gia đình,
lao động là nhân viên môi trường, dọn vệ sinh,
làm bảo vệ và làm công nhân sản xuất găng tay
bảo hộ
Các hộ gia đình chăm sóc trẻ em khuyết tật,
hộ đơn thân nuôi con nhỏ vốn đã thiếu khả
năng, sức lực lao động chính, tình trạng ngày
càng giảm sút việc làm và thu nhập gây nguy cơ
nghiên trọng tới đảm bảo mức sống tối thiểu
Đây là nhóm có nguy cơ rơi vào nghèo và thậm
chí thiếu lương thực, không bảo đảm về nhu cầu
dinh dưỡng nếu không có hỗ trợ từ cộng đồng và
chính quyền
Hoàn cảnh thì một người phải ở nhà chăm
cháu nên kinh tế khó khăn hơn, cháu thứ 2
nhà em không nghe được nên cũng khó khăn
Nhiều khi stress, vợ chồng căng thăng”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 3 tuổi, Văn Lâm,
Hưng Yên)
Chồng chị đã mất vì tai nạn giao thông 6 năm rồi, để có tiền nuôi 3 đứa chị phải đi làm xa, vào Sài Gòn tìm việc Chị đi được 3 năm, vào đây cũng tìm được việc Hiện chị làm ở xưởng may ghế da Trước dịch thì lương được 6 triệu Giờ thì một ngày làm còn nửa ca nên chỉ được nửa lương 1 tháng nay là như thế rồi, tháng vừa rồi còn được lĩnh đúng 3 triệu, đủ tiền gửi
về nuôi con Họ nói phải qua tháng mới sắp xếp lại Mỗi lần chị gọi điện về bọn nhỏ lại hỏi bao giờ mẹ về, rồi mẹ khóc, con khóc”.
(Mẹ của 3 trẻ em: 14 tuổi, 13 tuổi
và 10 tuổi, Bình Giáo, Gia Lai)
Trang 18Biện pháp ứng phó của gia đình:
Cắt giảm chi tiêu gia đình là một trong những
biện pháp ứng phó đầu tiên khi lao động chính
của gia đình bị mất việc làm hoặc giảm thu nhập,
ảnh hưởng đến phúc lợi và điều kiện sống của
toàn hộ gia đình
Đối với những hộ gia đình có điều kiện kinh tế
ổn định và có tiết kiệm thì mức sống chưa bị ảnh
hưởng nhiều bởi đại dịch Tuy nhiên các hộ khó
khăn, không có tích lũy hoặc chi tiêu hoàn toàn
phụ thuộc vào thu nhập hàng ngày thì giai đoạn
này là khoảng thời gian khó khăn nhất
Cắt giảm chi tiêu, hạn chế lại; thứ nào không
cần thì cắt hẳn; không có tiền trả thì mua nợ;
bao giờ hết dịch thì đi làm trả nợ thiếu thì
vay mượn anh em họ hàng xung quanh; cũng
không có mà mượn, ai cũng khó…”
(Mẹ đơn thân nuôi hai trẻ em 10 tuổi và 5
tuổi, Bình Giáo, Gia Lai)
Các gia đình cũng cố gắng giảm chi phí thực
phẩm bằng cách tự tăng gia trồng trọt, chăn nuôi
và sử dụng sản phẩm gia đình sẵn có
Nhà em có vườn trồng rau, nuôi gà tự cung tự
cấp trong khi giãn cách”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 3 tuổi, Văn Lâm,
Hưng Yên)
Chi tiêu chỉ tập trung ưu tiên cho lương thực,
thực phẩm thiết yếu, còn các khoản chi cho
những mặt hàng không thiết yếu khác hầu như
đã bị cắt giảm
Mình có đi ra ngoài mua lương thực, thực phẩm trong thôn, nhưng nói chung là cả tháng không làm được ra tiền thì cũng phải dè xẻn”
(Mẹ 2 trẻ em 7 tuổi và 5 tuổi, thuộc hộ nghèo, Văn Lâm, Hưng Yên)
Giảm chất lượng dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày
là biện pháp nhiều gia đình đã áp dụng do giá thực phẩm tăng Điều này có tác động trực tiếp đến khẩu phần ăn, chế độ dinh dưỡng của gia đình và trẻ em, mặc dù các hộ gia đình vẫn cố gắng ưu tiên khẩu phần ăn cho trẻ em
Những thứ ăn uống cũng phải bớt, chủ yếu
lo cho các con thôi còn người lớn thì thế nào cũng xong”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 7 tuổi, Bình Dương).Các mặt hàng thông thường như: sữa, bánh kẹo, hoa quả… cũng giảm bớt hoặc không còn được duy trì đầy đủ như thời gian trước dịch
Thỉnh thoảng ăn tạm bợ qua ngày, miếng đậu, miếng rau, ăn uống tiết kiệm; Cũng phải lo đủ cho con trước, con đang tuổi lớn; kho mặn hơn tí cho có thịt ăn xong bữa cơm”
(Mẹ trẻ em khuyết tật, 7 tuổi, Bình Giáo, Gia Lai)
Một số biện pháp khác được thực hiện: Bán tài
sản, vật dụng để trang trải sinh hoạt hàng ngày
đã xảy ra đối với nhiều hộ gia đình, chủ yếu thuộc nhóm có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hoặc lao động
di cư chịu tác động nặng nề nhất bởi đại dịch Nhiều công nhân ở các khu công nghiệp phải chuyển sang thuê phòng trọ giá rẻ hơn, sống trong điều kiện tồi tệ hơn hoặc trở về quê Các trường hợp vay nợ để tiêu dùng cũng phổ biến hơn
Ăn uống cũng có giảm, cái gì cũng đắt mà tiền thì cũng không có Các thứ đường, sữa, bánh kẹo cho trẻ con cũng
phải giảm hết”
(Người nhận nuôi trẻ em mồ côi 14 tuổi, Chương
Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Trang 19Các biện pháp gia đình thực hiện phòng dịch
bệnh
Các hộ gia đình phải làm quen với việc sử dụng
nước rửa tay khô, cồn sát khuẩn, khẩu trang, xà
phòng Những thực hành như vậy đã được dạy
cho trẻ em Tuy nhiên, các hộ nghèo, cận nghèo,
hộ có điều kiện tài chính khó khăn thường không
được tiếp xúc, sử dụng những món đồ như vậy
Gia đình tự mua nước rửa tay, khẩu trang thì
dì nó may cho, con đi học hoặc ra đường thì
nhắc nó đeo vào, về đến nhà nhớ rửa tay Ở
phường có chỗ phát khẩu trang và nước rửa
tay, mình ra đó lấy”
(Mẹ 2 trẻ em 13 tuổi và 15 tuổi, Bình
Dương)
Trong giai đoạn giãn cách xã hội, mặc dù các hộ
gia đình đã tạo được thói quen vệ sinh phòng
dịch, tuy nhiên đảm bảo về thu nhập và sinh hoạt
hàng ngày của trẻ em là mối quan tâm lớn nhất
của các hộ gia đình
Tiếp cận chính sách của hộ gia đình có đối
tượng BTXH
Trong bối cảnh đại dịch ảnh hưởng nặng nề đến
mọi mặt của cuộc sống và thu nhập, khoản trợ
cấp hàng tháng và sau đó là khoản hộ trợ tài
chính do ảnh hưởng đại dịch COVID-19 của
chính phủ có ý nghĩ rất quan trọng đối với các gia
vào tiền trợ cấp hàng tháng của 2 vợ chồng
Cũng mừng là đợt dịch vừa rồi được hỗ trợ 20
kg gạo của xã Xã cũng phát thêm cho 800
nghìn vì phải nghỉ bán vé số”
(Bố khuyết tật, gia đình đối tượng BTXH,
nuôi trẻ em 3 tuổi, xã Mỹ An Hưng, Đồng
Tháp)
Em đưa con đi chữa nhiều nơi, bệnh viện với
trường phục hồi chức năng nên em thấy nhiều
khoản trợ cấp hàng tháng của nhà nước đó, có
người không biết, người nọ chỉ người kia, xong
rồi mọi người về làm hồ sơ nên bé nào cũng được hỗ trợ, có hỗ trợ là các gia đình mừng lắm, cũng đỡ một phần gánh nặng, mình còn cảm thấy được xã hội, được nhà nước quan tâm”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 7 tuổi, Bình Dương)
Nhà tôi, gạo thì xã phát cho đủ ăn; mình xuống xã nhận, có phiếu để nhận; một thùng
mỳ, 10kg; lần rồi được 20 kg gạo Được hỗ trợ
Ngược lại, một số địa phương khác các cán bộ địa phương đến tận nhà phát kịp thời cho các đối tượng Nhiều địa phương đã phát liền 2 tháng trợ cấp cho các hộ có đối tượng thụ hưởng nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt và phòng khả năng xảy ra giãn cách trong những tháng tiếp theo
Nhà em nhận trợ cấp hàng tháng ở bưu điện phường Vì dịch nên phát chậm, bình thường thì nhận từ ngày 6-10 hàng tháng, tháng 4 vừa rồi đến hết cách ly mới nhận nhưng nhận được 2 tháng là hơn 2 triệu”
(Mẹ đơn thân nuôi trẻ em 8 tuổi và 6 tuổi, phường Thời Hòa, Bình Dương)
Cháu thứ 2 nhà em bị khiếm thính, được nhận 540.000/ tháng Thôn có người dương tính nên bị cách ly nhưng có cán bộ xã đến chi trả trực tiếp tận nhà”
(Mẹ trẻ em khuyết tật 3 tuổi, Văn Lâm, Hưng Yên)
Trang 20Gia đình có 2 cháu hưởng chế độ trẻ em mồ
côi, mức trợ cấp là 540.000 đồng/tháng/2
cháu Cán bộ bưu điện đến phát tiền tận nhà
để thực hiện giãn cách xã hội nên rất thuận
lợi, không có khó khăn gì, người ta phát 2
tháng liền
(Người chăm sóc 2 trẻ mồ côi 4 tuổi và 8
tuổi, khu phố 3, Ninh Thuận)
2.2 Trẻ em sinh sống tại cộng đồng
Về học tập
Từ tháng 2/2020, yêu cầu giãn cách xã hội của
Chính phủ nhằm ứng phó mạnh mẽ với đại dịch
COVID-19 đã dẫn đến việc đóng của trường
học, ảnh hưởng đáng kể tới việc học tập của hơn
21 triệu trẻ em Việt Nam9 Đối với trẻ em từ 6
tuổi trở lên - độ tuổi học sinh tiểu học, THCS và
THPT – việc chuyển đổi từ học tập trung trên
lớp sang học trực tuyến tại nhà là một thay đổi
rất lớn, đòi hỏi sự thích nghi của cả học sinh, phụ
huynh lẫn thầy cô giáo
9 https://kutt.it/unicefvietnam
Theo báo cáo kết quả đánh giá nhanh ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 đối với trẻ em của nhóm Công tác vì Quyền trẻ em thì Trẻ dân tộc thiểu số, trẻ em khuyết tật và trẻ em sinh sống trong các hộ gia đình nghèo là những nhóm trẻ khó tiếp cận với giáo dục trong giai đoạn giãn cách xã hội và trường học đóng cửa và có khác biệt rõ rệt giữa học sinh tại thành phố và học sinh tại các vùng sâu, vùng xa, hoặc nhóm dễ bị tổn thương
Kết quả khảo sát nhanh cũng cho thấy, hầu hết các gia đình đều cho rằng việc học từ xa là một
áp lực đáng kể đối với trẻ em Đặc biệt với nhóm trẻ mầm non, thời gian nghỉ dịch không đến lớp
đã làm gián đoạn việc học tập và kết nối giữa các
em với nhà trường, các em phải nghỉ học ở nhà hoặc phải gửi về quê ở cùng với ông/bà/người thân Với nhóm trẻ em khuyết tật thì thực hiện giãn cách xã hội cũng đồng nghĩa với việc các em dừng hẳn việc học tập, rèn luyện
Nhà chị thuộc hộ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, nên được trợ cấp 700.000 đồng/tháng Tháng rồi thì bị chậm trợ cấp 1- 2 ngày, nhưng cũng không có ảnh hưởng
gì, vì dịch mà, cán bộ phường trực tiếp đến chi trả, do dịch nên nhận được 2 tháng (4-5) một lần”
(Mẹ đơn thân nuôi trẻ em
9 tuổi, Phước Mỹ, Đà Nẵng).