chuyên đề Thực chất về ý nghĩa cuộc cách mạng triết học Mác và vai trò đối với cách mạng Việt Nam Triết học của C.Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (1820 – 1895) là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Nó là kết quả của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và sự phát triển của khoa học nói chung, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội của thế kỷ XIX và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ra mạnh mẽ ở thời kỳ đó. Triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đòi hỏi phải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền đề cho sự ra đời lý luận mới đã được nhân loại tạo ra. Sự ra đời của triết học Mác không những là một tất yếu lịch sử mà còn tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại. Để tìm hiểu về thực chất và ý nghĩa của cách mạng trong triết học và vai trò của chủ nghĩa Mác đối với cách mạng Việt Nam. Em tiến hành nghiên cứu chuyên đề: Thực chất về ý nghĩa cuộc cách mạng triết học Mác và vai trò đối với cách mạng Việt Nam” nhằm mục tiêu sau: 1. Phân tích thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng triết học do C.Mác và Ph.Ănghen thực hiện. 2. Đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng với cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đởi đến nay.
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHUYÊN ĐỀ 14
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TRÊN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ ĐỐI VỚI
BẢN THÂN
\
Họ và tên : NGUYỄN THỊ THU HIÊN Lớp : CKI – K26
Chuyên ngành : Tâm Thần
THÁI NGUYÊN - NĂM 2020
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Chuyên đề 9: Thực chất về ý nghĩa cuộc cách mạng triết học Mác và vai trò đối với cách mạng Việt Nam
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học của C.Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (1820 – 1895) là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Nó là kết quả của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và sự phát triển của khoa học nói chung, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ra mạnh mẽ ở thời kỳ đó Triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đòi hỏi phải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền đề cho sự ra đời lý luận mới đã được nhân loại tạo ra Sự ra đời của triết học Mác không những là một tất yếu lịch sử mà còn tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại Để tìm hiểu về thực chất và ý nghĩa của cách mạng trong triết học và vai trò của chủ nghĩa Mác đối với cách
mạng Việt Nam Em tiến hành nghiên cứu chuyên đề: Thực chất về ý nghĩa
cuộc cách mạng triết học Mác và vai trò đối với cách mạng Việt Nam”
nhằm mục tiêu sau:
1 Phân tích thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng triết học do C.Mác và Ph.Ănghen thực hiện
2 Đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng với cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đởi đến nay
Trang 6NỘI DUNG
1 Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học
Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng to lớn trong lịch sử triết học, thực chất của cuộc cách mạng ấy được thể hiện:
1.1.Khắc phục sự đối lập giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, tạo nên sự thống nhất hữu cơ không thể tách rời là chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trước khi triết học Mác ra đời thì nhìn chung luôn có sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng:
• Ở Hy Lạp cổ đại đã có sự thống nhất nhất định giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng, điển hình trong triết học của Hêraclít, nhưng nhìn chung còn ở trình độ thấp Cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều còn thô sơ, chất phác
• Các nhà duy vật từ thời Phục hưng đến Cận đại đã có nhiều công lao trong việc giải thích tự nhiên, xã hội, tư duy, nhưng chủ nghĩa duy của họ vẫn mang tính siêu hình, máy móc Như vậy, thế giới quan duy vật vẫn tách rời khỏi phép biện chứng
• Triết học cổ điển Đức, Hêghen đã đối lập phép biện chứng với phương pháp siêu hình, nhưng phép biện chứng của Hêghen lại dựa trên nền thế giới quan duy tâm, nghĩa là thế giới quan duy vật vẫn tách rời khỏi phép biện chứng
• Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc, nhưng đó cũng là chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc, nghĩa
là thế giới quan duy vật này vẫn tách rời khỏi phép biện chứng
Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật thống nhất hữu cơ với phép biện chứng, còn phép biện chứng được đặt trên nền thế giới quan duy vật Do vậy, chủ nghĩa duy vật của Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biện
Trang 7chứng trong triết học là biện chứng duy vật Đồng thời cả chủ nghĩa duy vật
và phép biện chứng trong triết học Mác đều được Mác nâng lên một trình độ mới về chất với các giai đoạn trước kia
1.2 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện vĩ đại nhất trong cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
• Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội, của khoa học và triết học Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật chưa triệt để, nghĩa là mới duy vật trong giải thích tự nhiên, nhưng còn duy tâm trong giải thích lĩnh vực lịch sử, xã hội, tinh thần Cho nên chưa thể đuổi được chủ nghĩa duy tâm ra khỏi “nơi ẩn chứa cuối cùng của nó” là lĩnh vực xã hội
• Triết học của Mác đã giải thích không chỉ thế giới tự nhiên mà cả lĩnh vực lịch sử, xã hội, tư tưởng Do vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học của nhân loại, với quan điểm duy vật lịch sử, triết học Mác đã chấm dứt toàn bộ cái nhìn duy tâm, phiến diện về xã hội Xã hội, lịch sử, tư tưởng lầ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã được giải thích một cách khách quan, khoa học Chính vì vậy, V.I.Lênin đã khẳng định, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu khoa học vĩ đại nhất của khoa học, cũng vì vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng là biểu hiện vĩ đại nhất trong lịch sử triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
1.3 Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học và hoạt động thực tiễn của con người
• Triết học trước Mác nói chung, triết học duy vật trước Mác nói riêng, nhìn chung đều chỉ là giải thích thế giới mà chưa đề ra được con đường, biện pháp đúng đắn để cải tạo thế giới Cũng có các đại biểu triết học muốn cải tạo thế giới nhưng lại muốn nhờ vào các lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc ý thức,
Trang 8tinh thần Chưa một đại biểu nào hiểu được vai trò của thực tiễn đối với hoạt động cải tạo thế giới
• Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà quan trọng hơn là còn đề ra con đường, biện pháp, cách thức để cải tạo thế giới Đặc biệt, triết học Mác chỉ ra rằng con người muốn cải tạo thế giới phải bằng và thông qua hoạt động thực tiễn Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử triết học, triết học Mác đã gắn
bó mật thiết với hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người; còn hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người là cơ sở, động lực, mục đích của triết học Mác
1.4 Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể
• Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là bao trùm lên các khoa học hoặc bị hòa tan vào khoa học hoặc một ngành học khoa nào đó Chẳng hạn:
- Ở triết học phương Đông cổ, trung đại, triết học thường ẩn giấu đằng sau các học thuyết về xã hội, thế giới, con người, chính trị, đạo đức
- Ở Hy Lạp cổ đại, triết học được coi là khoa học của các khoa học
- Thời Trung cổ ở châu Âu, triết học được coi là bộ môn của Thần học, có nhiệm vụ chứng minh cho sự tồn tại của Chúa trời, Thượng đế
- Thời Cận đại phương Tây, triết học được coi là Mêtaphisica – cái nền của
“cây thế giới quan” (thể hiện trong triết học của Đềcáctơ)
- Triết học Cổ điển Đức là quay trở lại quan điểm cho rằng triết học là khoa học của các khoa học
• Quan hệ giữa triết học và khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau
Trang 9- Triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể, còn các khoa học cụ thể cung cấp vật liệu, tài liệu, thông
số khoa học cho triết học khái quát Ngay tiền đề khoa học tự nhiên cho sự ra đời của triết học Mác đã chứng minh cho mối quan hệ biện chứng này
- Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác và Ăngghen đã luận giải đúng đắn vấn đề thực tiễn và đưa phạm trù thực tiễn là lý luận nhận thức; khẳng định thực tiễn không chỉ là cơ sở, động lực của nhận thức, mục đích của nhận thức
mà còn là tiêu chuẩn của chân lý Đặt cơ sở khoa học để xây dựng lý luận nhận thức duy vật biện chứng, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để cải tạo thế giới Đồng thời, đặt ra cơ sở khoa học cho các môn khoa học cụ thể ra đời và phát triển
2 Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
Nhờ sự ra đời của triết học Mác mà vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học đã thay đổi về căn bản:
2.1 Với cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện đã làm cho triết học thay đổi vị trí, vai trò, chức năng trong mối quan hệ với thực tiễn cải tạo thế giới của con người, cũng như trong mối quan hệ với các khoa học
cụ thể khác Triết học Mác đã trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác
2.2 Cuộc cách mạng trong triết học Mác và Ăngghen thực hiện đã tạo ra cơ
sở khoa học cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở thành khoa học Bởi chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ rõ cơ sở cho tồn tại và phát triển của lịch sử
xã hội là tồn tại xã hội, cái cơ bản quyết định sự vận động và phát triển của xã
Trang 10hội đó chính là sản xuất vật chất, mặt khác chủ thể của quá trình sản xuất đó chính là giai cấp công nhân – “lực lượng vật chất của triết học Mác”
2.3 Nhờ sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
mà triết học Mác lại trở thành thế giới quan, phương pháp luận chung, cần thiết cho sự phát triển tiếp tục của các khoa học, cho hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người, đặc biệt là giai cấp công nhân, cho lực lượng tiến
bộ của nhân loại trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, xã hội, con người 2.4 Triết học mác-xít là cơ sở lý luận khoa học cho chiến lược và sách lược cách mạng của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xét lại, cơ hội, giáo điều
Như vậy, có thể thấy, lịch sử triết học Mác đã chứng minh toàn bộ quan điểm của Mác và Ăngghen là kết quả nghiên cứu trung thực của nhiều năm; tính chân lý và cách mạng của nó không có gì đáng nghi ngờ Triết học Mác, ngay
từ khi mới ra đời, đã biểu hiện ra không phải là những điều cứng nhắc, mà là kim chỉ nam cho hành động Đó là một học thuyết sinh động, luôn luôn phát triển một cách sáng tạo trong mối liên hệ hữu cơ với thực tiễn và các khoa học khác
Nhân loại mãi mãi khắc ghi những cống hiến to lớn của C.Mác - Người đã cùng Ph.Ăng-ghen xây dựng nên hệ thống lý luận cách mạng và khoa học, là kim chỉ nam, vũ khí tinh thần sắc bén, soi sáng sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh xóa bỏ
áp bức, bóc lột Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cao cả của C.Mác đã đi vào lịch sử thế giới như một trong những ngôi sao sáng nhất trên bầu trời trí tuệ nhân loại, đúng như Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi”[1]
Trong di sản lý luận kinh điển đồ sộ và uyên bác của C.Mác, bộ sách “Tư bản” mà Người coi là sự nghiệp của cả đời mình và Tuyên ngôn của Đảng
Trang 11Cộng sản được C.Mác và Ph.Ăng-ghen xuất bản lần đầu vào năm 1848, là những tác phẩm bất hủ, có tầm ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới
3 Đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng với cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đởi đến nay
Trên lĩnh vực triết học, “triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”[2] C.Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu lịch sử, xã hội, sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trở nên hoàn chỉnh, từ chỗ nhận thức thế giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người “Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, C.Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”[3] và đây là một trong những phát kiến vĩ đại nhất của C.Mác đối với nhân loại, như V.Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”[4]
Trên lĩnh vực kinh tế chính trị, C.Mác đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu và chỉ ra những quy luật kinh tế, quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản C.Mác đã phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư - “quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”[5]; chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu, mẫu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản, mà “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều
là tất yếu”[6] Đánh giá về khám phá vĩ đại trên của C.Mác, V.Lênin khẳng
Trang 12định: “Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”[7]
Về chủ nghĩa xã hội khoa học, C.Mác đã phát hiện ra quy luật vận động, phát triển của xã hội, chỉ rõ giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử tiêu diệt chế độ tư bản, sáng tạo ra xã hội mới Người khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[8]…
Với hệ thống lý luận hoàn chỉnh gồm ba bộ phận cấu thành là Triết học Mác-xít, Kinh tế chính trị Mác-xít và Chủ nghĩa xã hội khoa học gắn kết chặt chẽ với nhau, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã xây dựng nên một thế giới quan khoa học, phương pháp luận cách mạng để nhận thức và cải tạo thế giới, như V.Lênin khẳng định: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[9] Qua đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới đã tìm thấy trong học thuyết của C.Mác và Ph.Ăng-ghen vũ khí lý luận,
vũ khí tư tưởng sắc bén trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, hướng tới một tương lai xán lạn
Trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác và từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, V.Lênin đã kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, bổ sung, phát triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác về nhiều vấn đề quan trọng trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, như lý luận về chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản; lý luận về chiến lược và sách lược của giai cấp vô sản trong thời đại mới; lý luận về vấn đề
Trang 13dân tộc, thuộc địa, về phong trào giải phóng dân tộc; lý luận về vai trò của đảng và nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích Nga, đứng đầu là V.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã hiện thực hóa chủ nghĩa Mác bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Trong hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Liên Xô đã giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, đào tạo, quốc phòng,
an ninh…, là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và có nhiều đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi
ở một nước đã trở thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa; nhiều nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh đã giành được độc lập dân tộc và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển… Đó chính là những thành quả rực rỡ mà chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại
Đối với Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin đã trở thành sức mạnh vật chất và di sản tinh thần quý báu, gắn liền với truyền thống yêu nước của dân tộc ta Trên con đường đi tìm chân lý cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sớm tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa gắn chặt với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản Ngay từ đầu năm 1923, Người đã khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”[10] Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời năm 1930 là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với