1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ luyện tập ngữ pháp tiếng anh cho học sinh lớp 6

22 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 211,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và những phương pháp, thủ thuật dạy học mới sẽ thực sự hiệu quả khi được áp dụng cho việc dạy ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh.. Vì vậy, giáo viên GV dạy tiếng Anh ở THCS thường chú trọng

Trang 1

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Cơ sở lý luận

Trong xu thế toàn cầu hóa, tiếng Anh đã trở thành cầu nối liên kết các nền văn hóa, tri thức và đặc biệt là con người từ những nước khác nhau trên thế giới Cầu nối này giúp thúc đẩy sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, hội nhập quốc tế và giúp đẩy mạnh nền kinh tế tri thức Ngành giáo dục nhận thấy

sự cần thiết về đổi mới về tư duy, hướng cộng đồng đến một xã hội học tập với nền kinh tế tri thức đầy sáng tạo trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang biến đổi mạnh mẽ, khi mọi mặt của đời sống xã hội đang trong quá trình chuyển động sâu sắc, đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập Từ năm 2007, nước ta trở thành thànhviên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vị thế của tiếng Anh càngđược khẳng định Vì vậy môn tiếng Anh ngày càng được chú trọng, được đầu tư và cải tiến trong nhà trường đặc biệt là ở bậc trung học cơ sở (THCS)

Lênin đã từng nói “Học, học nữa, học mãi” - học tập là một hành trình vô tận

và quá trình học tập luôn có những thay đổi để phù hợp với xã hội thực tế Bởi vậy,

để trang bị cho thế hệ trẻ tương lai một hành trang đầy đủ tất yếu phải đòi hỏi hệ thống giáo dục tiên tiến, phương pháp giảng dạy phù hợp, sáng tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo vì mục tiêu phát triển bền vững đồng thời nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực học sinh Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết với người dạy là phải chú trọng sử dụng các phương pháp kỹ thuật, thủ thuật dạy học phù hợp giúp người học vừa nắm được kiến thức đồng thời tạo sự hứng thú, không khí vui tươi cho lớp học Và những phương pháp, thủ thuật dạy học mới sẽ thực sự hiệu quả khi được áp dụng cho việc dạy ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh

Đối với chương trình tiếng Anh bậc THCS, kiến thức ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng góp phần đạt được mục đích cuối cùng của quá trình học ngôn ngữ là giao tiếp Vì vậy, giáo viên (GV) dạy tiếng Anh ở THCS thường chú trọng sử dụng

đa dạng các phương pháp để tổ chức cho học sinh (HS) học tập, nắm vững kiến thức

về cấu trúc câu, điểm ngữ pháp tiếng Anh bên cạnh việc tích lũy từ vựng và phát âmchuẩn xác, giúp HS sử dụng tiếng Anh một cách chính xác Sử dụng thành thạo các quy tắc ngữ pháp tiếng Anh giúp hình thành thói quen tổ chức ngôn ngữ ngay từ lúc

ý tưởng vừa mới được định hình Điều này giúp HS biết cách sắp xếp ngôn từ theo lối diễn đạt chuẩn xác và dễ hiểu của người bản xứ PGS, TSKH Lương Đình Hải (2009) đã nói: “Những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người” hay theo Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp (2020) lập luận rằng: “Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy” Điều đó cũng có nghĩa rằng, ngữ pháp sẽ giúp HS cải thiện tư duy ngôn ngữ theo một cách hoàn toàn khác với lối tư duy theo kiểu tiếng mẹ đẻ vốn có, hình thành lối tư duy trực tiếp bằng tiếng Anh Nói cách khác, ngữ pháp giống như khung xương của một cơ thể sống, giúp HS giao tiếp theo khuôn khổ chính xác nhất định

Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của xã hội, phương pháp dạy học cũng thay đổi theo để đáp ứng nhu cầu sử dụng thành thạo các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh

Trang 2

Chính vì thế, phương pháp dạy ngoại ngữ hiện nay đã chuyển từ đường hướng lấy người dạy làm trung tâm sang đường hướng lấy người học làm trung tâm Ở đó, người học được giao tiếp trong môi trường giao tiếp thực sự, được hoạt động theo cặp, hay theo các nhóm nhỏ để thực hiện các công việc cụ thể Có rất nhiều các phương pháp giảng dạy TA khác nhau, song phương pháp được nhiều GV mong muốn sử dụng nhất nhất là phương pháp sử dụng trò chơi ngôn ngữ Trò chơi là nguồn khích lệ, tăng cường hứng thú học tập cho HS và thường được coi là cách thức thu hút sự chú ý của HS vào môi trường giảng dạy ngoại ngữ

Bàn về vai trò của trò chơi trong dạy và học ngôn ngữ, Wright, Betteridge và Buckby (1984) đã viết: “Học ngôn ngữ là công việc khó khăn Người học cần nỗ lực

ở mọi thời điểm trong một thời gian dài Trò chơi giúp đỡ và khuyến khích nhiều người học duy trì sự yêu thích với môn học và nâng cao động lực học tập”, đồng thời “trò chơi giúp GV tạo ra ngữ cảnh trong đó ngôn ngữ trở nên hữu ích và có ý nghĩa” Cùng quan điểm trên, Lee (1995) nhấn mạnh: “Học tập là một hoạt động nghiêm túc nhưng nếu một người vui vẻ, cười nói thì không có nghĩa là việc học tập

đó trở nên thiếu trang trọng” Ông cho rằng việc học ngôn ngữ có thể đi đôi với sự tận hưởng Một trong những cách tốt nhất để làm điều này là thông qua trò chơi Richard-Amato (1996) trong cuốn sách của mình lập luận rằng: “Mặc dù trò chơi thường gắn liền với niềm vui, chúng ta không nên đánh mất các giá trị sư phạm của chúng, đặc biệt là trong việc dạy và học ngoại ngữ” Trò chơi có hiệu quả khi chúng tạo động lực, giảm căng thẳng cho người học và tạo cơ hội cho người học ngôn ngữ giao tiếp thực sự Có thể thấy, các tác giả trên đều nhấn mạnh mục đích quan trọng của việc sử dụng trò chơi trong dạy học là GV muốn có một bài học tốt hơn, đồng thời HS của họ cũng hưởng nhiều lợi ích nhờ phương pháp này Hơn thế nữa, ngữ pháp tiếng Anh với đặc thù là những quy tắc, cấu trúc cố định; quá trình ghi nhớ thường diễn ra với hình thức học thuộc lòng thì việc áp dụng trò chơi ngôn ngữ vào học tập ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh quả là một phương pháp phù hợp, mang lạinhiều hiệu quả tích cực cho HS

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trên thực tế, chương trình giảng dạy tiếng Anh ở trường phổ thông đã và đang được phổ cập ở hầu hết các khối, sách giáo khoa đã và đang tiếp tục được biên soạn, chỉnh sửa theo đường hướng giao tiếp, lấy người học làm trung tâm nhưng thực tế giáo viên - yếu tố then chốt quyết định chất lượng dạy và học ngoại ngữ vẫn đang trong quá trình bồi dưỡng, chuẩn hóa để phù hợp với yêu cầu của từng cấp học;một số giáo viên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp giảng dạy cũ, đang tạo những bước nền đầu tiên trong “công cuộc đổi mới giáo dục” nên vẫn chưa thành công trong việc thể hiện sự linh hoạt, chủ động, sáng tạo, dễ gây sự khô khan, nhàm chán cho học sinh

Bên cạnh đó, sách giáo khoa mới thay đổi về nội dung, cấu trúc với các điểm ngữ pháp nâng cao song thời lượng tiết dạy của chương trình đào tạo vẫn không thayđổi, điều này gây khó khăn cho GV trong quá trình biên soạn giáo án và thiết kế tiết dạy Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra mục tiêu khi kết thúc chương trình

Trang 3

giáo dục phổ thông, HS có khả năng giao tiếp đạt trình độ bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam Những vấn đề trên cũng làm cho HS gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với chương trình mới.

Khi học tập các tiết ngữ pháp trên lớp, sau khi được học về cấu trúc, cách sử dụng các điểm ngữ pháp thì thời gian luyện tập của HS rất ít Trên lớp, HS thường luyện tập một số bài tập trong sách theo hình thức cá nhân, cặp nhóm hoặc GV giao bài tập về nhà, và quá trình học và ghi nhớ phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần tự học

và khả năng nhớ bài riêng của mỗi cá nhân Những điều trên gây ra tâm lý e ngại học và luyện tập ngữ pháp cho HS, vì vậy việc ứng dụng một cách học – luyện tập ngữ pháp mới là một điều vô cùng cần thiết, phải kể đến phương pháp sử dụng các trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ

Trong quá trình dạy và học ngoại ngữ, HS sẽ học hiệu quả hơn nếu họ được học trong bầu không khí học tập vui vẻ, thư giãn và có nhiều cơ hội được thực hành trong bối cảnh của thế giới thực Việc sử dụng trò chơi trong giảng dạy là một trong những cách hữu hiệu nhất để tạo cho HS những giờ học trên lớp thoải mái và thú vị Tạo không gian cho HS có cơ hội để tham gia trò chơi trên lớp, họ sẽ được khuyến khích lựa chọn bạn chơi cùng với mình Điều này không chỉ tạo ra không khí học tậpthân thiện mà còn khích lệ họ giúp đỡ lẫn nhau Những HS nào kém hơn thì được những HS giỏi hơn trong nhóm giúp đỡ để trở nên tự tin hơn và có thể mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình

Việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ là một trong những phương pháp hữu hiệu có thể làm tăng động cơ học tập cho HS - một trong những yếu tố quyết định đến thành công trong việc học ngoại ngữ Đồng thời, chúngcòn giúp cho GV tạo ra những ngữ cảnh mà ở đó ngôn ngữ thực hành rất hữu dụng

và dễ hiểu với người học Người học muốn tham gia vào trò chơi thì họ phải hiểu người khác đang nói gì hay đã viết gì, và họ phải nói ra hoặc viết ra được những điều để trình bày quan điểm riêng của họ hay để trình bày thông tin cho người khác hiểu Từ đó, thông qua việc sử dụng trò chơi ngôn ngữ GV vừa có thể lồng ghép các điểm ngữ pháp vào trong hoạt động, khuyến khích HS rút ra bài học vừa khơi gợi sựhứng thú, sự tương tác và tăng khả năng ghi nhớ cho HS

Xuất phát từ quá trình đổi mới giáo dục, việc đổi mới phương pháp giảng dạyngữ pháp cũng là một điều tất yếu, phù hợp với nhu cầu thực tế của học sinh Để đi đến cái đích của tiếng Anh là nâng cao năng lực giao tiếp thì việc tích hợp trò chơi ngôn ngữ thông qua ngữ pháp cho thấy việc sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy ngữ pháp rất quan trọng

Là một sinh viên ngành Sư phạm tiếng Anh, tôi nhận thấy trò chơi ngôn ngữ

là một phương pháp dạy học hiệu quả, là một phần không thể thiếu trong dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy TA nói riêng Điều này không chỉ giúp cho HS nắm được nền tảng kiến thức ngữ pháp vững chắc mà còn là tiền đề phát triển các kỹ

năng khác nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ luyện tập ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh lớp 6”.

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ luyện tập ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh lớp 6

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ luyện tập

ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh lớp 6

- Khách thể nghiên cứu:

+Hoạt độngluyện tập ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh lớp 6

+ Các tài liệu (sách, báo, tạp chí)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, tổng hợp một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ luyện tập ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh lớp 6

- Số lượng trò chơi sưu tầm và biên soạn: 24 bài tập

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, nghiên cứu SGK tiếng Anh 6,

chương trình tiếng Anh 6 nhằm sưu tầm và biên soạn trò chơi ngôn ngữ thuộc lĩnh vực nghiên cứu

6.2 Phương pháp sưu tầm và biên soạn: Sưu tầm và biên soạn các trò chơi ngôn

ngữ thuộc lĩnh vực nghiên cứu

6.3 Phương pháp khảo sát: Điều tra bằng phiếu câu hỏi trên biểu mẫu Google

Form đối với GV dạy tiếng Anh 6 tại một số trường trên địa bàn thành phố Nha Trang nhằm thu thập thông tin có liên quan đến đề tài

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1 Khái quát đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học cơ sở

1.1.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh lớp 6

Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt

và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển

Trang 5

cao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển : thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.

Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính ngườilớn” ,điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiệnsống, hoạt động…của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng

về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn

Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít Có những

em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn

như:dũng cảm, tự chủ, độc lập …còn quan hệ với bạn gái như trẻ con Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bịquan trọng nhất cho những bước trưởng thànhsau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng

ở chỗ : trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáodục để các em có một nhân cách toàn diện

1.1.2 Đặc điểm hoạt động học của học sinh lớp 6

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với

sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn

Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được

Trang 6

rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còntrực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩxảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng mônhọc Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học Do vậy, GV phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú

ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em

1.1.3 Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh lớp 6

1.1.3.1 Đặc điểm tri giác

Tri giác là một quá trình tâm lí, phản ánh một cách trọn vẹn mộtsự vật hiện tượng khách quan khi chúng tác động trực tiếp tácđộng vào các giác quan của chúng

ta Với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, các em đã hình thành sự quan sát có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Trong quá trình quan sát cácem biết phân tích, tổng hợp từ nhiều chi tiết khác nhau để tìm ranhững yếu tố chung, quan trọng nhất của sự vật và hiện tượng

Nhờ ngôn ngữ phát triển nên tri giác của HS có hiệuquả cao hơn, phản ánh đối tượng đầy đủ hơn và chi tiết hơn, các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiên tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, cơ trình tự và hoàn thiện hơn

1.1.3.2 Đặc điểm trí nhớ

Trí nhớlà quá trình tâm lí phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, gìn giữ, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải qua và HS THCS cũng vậy Trí nhớ của lứa tuổi nàylà sự tăng cường tính chấtchủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao.Các em có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ; những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệt thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu cũng phát triển ở mức độ cao Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghinhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa

Trang 7

Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ có khuynh hướng muốn tái hiệnbằng lời nói của mình.Học sinh THPT sử dụng thành thạo các thao tác ghi nhớ và các thủthuật ghi nhớ Tuy nhiên vẫn có học sinh chủ yếu ghi nhớ máy móc vì không hiểubài mà vẫn cố gắng ghi nhớ

1.1.3.3 Đặc điểm tư duy

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và qua hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện

tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Ở lứa tuổi HS THCS

tư duy trừu tượng chiếm ưu thế Do cấu trúc của não phức tạp, chức năng của não phát triển hoànthiện nên tư duy của học sinh THPT phát triển về mọi mặt: Các em tiến hành các thao tác tư duy tương đối nhanh và linh hoạt; Trong giao tiếp có sự lập luận chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán; Tính độc lập và tính phê phán của tư duycũng phát triển; Khi phân tích, học sinh biết phân biệt dấu hiệu bản chất và

khôngbản chất; Khi phán đoán biết dựa vào luận cứ và cơ sở; Khả năng sáng tạo cũng phát triển mạnh nên học sinh thường hamhiểu biết

HS THCS muốn độc lập lĩnh hội kiến thức, tự mình giải quyết các nhiệm vụ được giao theo quan điểm và góc nhìn của bạn thân, không thích cách trả lời máy móc như lứa tuổi tiểu học Khi bàn luận về một vấn đề các em không dễ chấp nhận ý kiến người khác, phải chứng minh vấn đề một cách xác thực, có căn cứ rõ ràng, thậm chí là phê phán những quan điểm không phù hợp Nhìn chung học sinh THPT

có thể nắm được các khái niệm trừu tượng, phân tích vấn đề một cách logic và các mối quan hệ phức tạp của sự vật hiện tượng Tuynhiên cũng còn nhiều học sinh chưa chịu phát huy hết khả năng tưduy của mình, thường lười suy nghĩ Ngoài ra đối với một số HS, hoạt động nhận thức chưa thực sự trở thành hoạt động độc lập

1.1.3.4 Đặc điểm nhận thức

Nhận thức là quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việcđưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc Ở lứa tuổi này, HS đã có một nền tảng kiến thức nhất định Thông qua các hoạt động học tập, sinh hoạt trong và ngoài lớp học, quá trình tự nhận thức của các em ngày càng phát triển HS sẽ tích lũy kiến thức cho bản thân khi tiếp xúc với bài học, học tập từ bạn bè, thầy cô; nếu gặp một vấn

đề thì các em sẽ phân tích và đưa ra lựa chọn phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình

Trang 8

dạy của GV Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, khả năng chú ý của các em tăng lên

rõ rệt, tốc độ chú ý trở nên linh hoạt hơn và năng lực chú ý cao nhiều hơn so với họcsinh tiểu học.Vì vậy, ở mỗi giờ học, giáo viên cần lưu ý tạo hứng thú, sự say mê họctập cho các em.Chú ý có sự biểu hiện bề ngoài: ở nét mặt, động tác của con người

Có lúc sự chú ý hướng vào đối tượng bên ngoài, cũng có lúc lại hướng vào nội tâm Vì vậy, HS nhìn bề ngoài có vẻ chăm chú theo dõi đối tượng, ví dụ nghe giảng nhưng thực ra họ đang chú ý đến đối tượng khác Ngược lại, có người tưởng chừng

lơ đãng nhưng họ lại đang chú ý cao độ

1.1.3.6 Đặc điểm ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệthống kí hiệu từ ngữ đặc biệt dùng làm phương tiệngiao tiếp và làm công cụ tư duy của con người.Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm, từ vựngvà ngữ pháp Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hìnhvị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản Bất cứ ngôn ngữ củadân tộc nào cũng chứa đựng phạm trù ngữ pháp vàphạm trù lôgic Ngôn ngữ là hệ thống các dấu hiệu, kí hiệu từ ngữ nhờ đó mà có thể

chuyển tải được sự phối hợp của các âm có ý nghĩa nào đó đối với con người, có chức năng là phương tiện của giao tiếp và là công cụ của tư duy Khả năng ngôn ngữcủa HS THCS đã có sự phát triển hơn so với cấp học trước, ngôn ngữ của các em giàu hình tượng hơn, đặt câu đúng ngữ pháp trong khi nói và viết; HS THPT có nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của mình để diễn đạt ý nghĩ và tình cảm của mình một cách hay nhất; Tuy nhiên cũng có một số học sinh cầu kỹ trong ngôn ngữ, đặt câusai, viết lỗi chính tả, dùng từ không chính xác GV nên vừa khơi gợi hứng thú, tạo lỗi văn phong riêng cho mỗi cá nhân, đồng đời giúp đỡ các HS khắc phục những lỗi sai của bản thân

1.2 Khái quát chương trình tiếng Anh lớp 6

1.2.1 Mục tiêu chương trình tiếng Anh lớp 6

Sau khi hoàn thành chương trình môn Tiếng Anh cấp trung học cơ sở, học sinh có thể:

- Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm đáp ứng các nhu cầu giao tiếp cơ bản và trực tiếp trong những tình huống gần gũi và thường nhật

- Có kiến thức cơ bản về tiếng Anh, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh, có những hiểu biết khái quát về đất nước, con người, nền văn hoá của các quốc gia nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới, đồng thời có hiểu biết và tự hào về những giá trị của nền văn hoá dân tộc mình

- Có thái độ tích cực đối với môn học và việc học tiếng Anh, bước đầu biết sử dụng tiếng Anh để tìm hiểu các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông

- Hình thành và áp dụng các phương pháp và chiến lược học tập khác nhau để phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh trong và ngoài lớp học, quản lý thời gian học tập và hình thành thói quen tự học

Nghe - Nghe hiểu tiếng Anh sử dụng trong lớp học

- Nghe hiểu đoạn văn ngắn (khoảng 60-80 từ), đơn giản

Trang 9

về các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ được đề cập trong chương trình.

Đọc - Đọc hiểu nội dung chính các đoạn văn ngắn (khoảng

100-120 từ), đơn giản trong phạm vi các chủ điểm đã học trong chương trình

- Đọc hiểu nội dung chính các văn bản trên cơ sở ngữ liệu đã học có kết hợp với suy luận và tra cứu từ điển.Viết - Viết có hướng dẫn các đoạn văn ngắn (khoảng 60-70

từ) mô tả hoặc báo cáo tường thuật về các hoạt động của cá nhân hoặc lớp học trong khuôn khổ ngôn ngữ

và chủ điểm của chương trình

- Viết để phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và xã giao đơn giản như điền vào phiếu cá nhân, bảng điều tra, viết thư cho bạn

1.2.2 Nội dung chương trình tiếng Anh lớp 6

Theo chuơng trình phổ thông mới hiện nay, tiếng Anh lớp 6 gồm 12 đơn vị bài học Mỗi đơn vị gồm nhiều phần như: Getting started, A closer look 1, A closer look 2, Communication, Skills 1, Skill 2, Looking back, và Project Mỗi phần tương ứng một số nội dung liên quan đến chủ đề chung của đơn vị bài học

1. Unit 1 My new school - Đọc và học từ vựng về chủ đề

trường học

- Ôn tập về thì hiện tại đơn và hiện tại tiếp diễn

- Phát âm : /əu/ và/ a/

- Luyện nghe chủ đề trường học

- Luyện nói chủ đề trường học

- Dầu câu và viêt nội dung cho webpages

Trang 10

tại tiếp diễn Phát âm/s/, /z/ và /iz/

- Luyện nghe về đề tài bạn bè

- Luyện nối về kế hoạch tương lai, phẩm chất con người

- Luyện viết bài tả bạn bè và những hoạt động với bạn bè

- Bài tập ôn tập ngữ pháp các thì hiện tại đơn và hiện tại tiếp diễn

4. Unit 4 My

neighbourhood - Đọc và học từ vựng về chủ để khuvực sinh sống

- So sánh hơn với tính từ

- Phát âm: /i:/ và /i/

- Luyện nghe chủ đề những địa điêm trong khu vực đang sinh sống

- Luyện nói về những nơi trong khuvực đang sinh sống, cách hỏi đường

- Viết đoạn văn mô tà khu vực đangsinh sống

- Ôn tập từ vựng + ngữ pháp

5. Unit 5 Natural Wonder

of Viet Nam - Đọc và học từ vựng vê những kỳ quan thiên nhiên thế giới

- So sánh nhất với tính từ

- Phát âm: /s/ và/∫/

- Cách sử dụng động từ khiếm khuyết với must

Trang 11

- Luyện nghe và nói về chủ đề những dịa điểm thu hút du lịch và những lời khuyên khi du lịch

- Viết đoạn văn nối về những điều cần làm khi đi du lịch

- Ôn tập từ vựng + ngữ pháp

6. Unit 6 Our Tet holida - Đọc và học từ vựng tương lai đơn

- Cách sử dụng động từ khiếm khuyết với should và shouldn't

8. Unit 8 Sports and

Games - Đọc và học từ vựng về các vận động viên thể thao yêu thích

- Thì quá khứ đơn

- Câu cầu khiến

- Các trạng từ chi thời gian

9. Unit 9 Cities of the

world - Đọc và học từ vựng về các địa điếm nổi tiếng thế giới

Ngày đăng: 09/03/2022, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w