1. Trang chủ
  2. » Tất cả

LV Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

116 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 341,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT” với mong muốn đề xuất được các biện pháp, cách thức hướn

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp mới của đề tài 6

7 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 Ở NHÀ TRƯỜNG THPT 7

1.1 Khái quát chung về năng lực và năng lực đọc hiểu văn bản 7

1.1.1 Khái quát chung về nănglực 7

1.1.2 Năng lực đọc hiểu và cấu trúc của năng lực đọc hiểu văn bản 9

1.2 Khái quát chung về văn bản nghị luận 12

1.2.1 Khái niệm văn bản 12

1.2.2 Khái niệm văn bản nghị luận 14

1.2.3 Đặc trưng của văn bản nghị luận 15

1.3 Đặc điểm, vị trí của phần văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 12 27

1.3.1 Vị trí của phần văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 12 27

1.3.2 Đặc điểm của các văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn 12 29

1.4 Thực trạng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận và việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 32

1.4.1 Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng 33

1.4.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 34

Trang 2

Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 Ở NHÀ

TRƯỜNG THPT 41

2.1 Chuẩn đầu ra của việc đọc hiểu văn bản nghị luận ở lớp 12 41

2.1.1 Khái niệm chuẩn đầu ra 41

2.1.2 Thực trạng xác định chuẩn đầu ra của việc đọc hiểu văn bản nghị luận 43

2.1.3 Căn cứ xác định chuẩn đầu ra của việc đọc hiểu văn bản nghị luận ở lớp 12 theo hướng phát triển năng lực học sinh 45

2.2 Biện pháp, quy trình phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 50

2.2.1 Luyện kỹ năng xác định thể loại và luận đề văn bản nghị luận 50

2.2.2 Luyện kỹ năng xác định bố cục và tóm tắt văn bản nghị luận 54

2.2.3 Luyện kỹ năng xác định các luận điểm, luận cứ trong văn bản nghị luận 59

2.2.4 Luyện kỹ năng giải thích, cắt nghĩa, bình luận, khẳng định, bác bỏ các vấn đề dược nêu ra trong văn bản nghị luận 63

2.2.5 Luyện kỹ năng phân tích, đánh giá nghệ thuật nghị luận của văn bản 71

2.2.6 Luyện kỹ năng liên hệ, vận dụng sáng tạo văn bản nghị luận vào cuộc sống 76

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .82

3.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2 Nội dung thực nghiệm 82

Trang 3

3.4 Phương pháp, tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 83

3.5 Giáo án dạy thực nghiệm 84

3.6 Kết quả thực nghiệm 95

3.7 Kết luận sau thực nghiệm 97

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giáo dục phổ thông là nền tảng của cả hệ thống giáo dục quốc dân.Chất lượng của giáo dục phổ thông, trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chấtlượng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, sâu xa hơn, là nguồn gốc gópphần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn nhân lực quốc gia Nghịquyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung,chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học Tích cựcchuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới”

Giáo dục theo định hướng năng lực (hay định hướng phát triển nănglực, định hướng phát triển đầu ra) được đề cập nhiều từ những năm 90 của thế

kỉ trước và ngày nay, sau khi được kiểm nghiệm qua thực tế, nó đã trở thành

xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục theo định hướng năng lực trước hếtnhằm mục tiêu phát triển năng lực của người học, đảm bảo chất lượng đầu racủa việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhâncách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong các tình huống thực tiễnnhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộcsống và nghề nghiệp Giáo dục theo định hướng năng lực nhấn mạnh vai tròcủa người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức, đặc biệt chú trọngđến hoạt động học - tức là quá trình cố gắng và tiến bộ của mỗi học sinh

Là một môn học chủ chốt ở trường THPT, Ngữ văn có vai trò quantrọng trong việc hình thành và phát triển các năng lực thiết yếu cho HS Pháttriển năng lực đọc hiểu văn bản nói chung, văn bản nghị luận nói riêng là gópphần vào việc thực hiện mục tiêu quan trọng đó

1.2 Văn bản nghị luận (VBNL) là một kiểu văn bản quan trọng trongnhà trường, trong đời sống và trong học thuật Văn bản nghị luận thường được

Trang 5

dùng để trình bày, thể hiện, bộc lộ quan điểm, tư tưởng sâu sắc về một vấn đềnào đó nhằm thuyết phục người nghe, người đọc Trong lịch sử, các nhà tưtưởng, các nhà lí luận, triết học, các nhà chính trị thường để lại trước tác củamình dưới hình thức nghị luận Dạy học văn bản nghị luận có tác dụng rất lớntrong việc rèn luyện cho học sinh tư duy logic, trừu tượng; kĩ năng lập luậnsắc bén, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bảnlĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống Vì vậy, trong chương trình, sách giáokhoa Ngữ văn THPT, văn bản nghị luận chiếm một vị trí quan trọng Tuynhiên, văn bản nghị luận là kết quả chủ yếu của tư duy trừu tượng Để tiếpnhận tốt loại văn bản này, người học cũng phải có khả năng tư duy trừu tượngtốt Vì vậy, việc đọc hiểu văn bản nghị luận là khó đối với HS nói chung và

HS THPT nói riêng Trong chương trình Ngữ văn, HS được học khá nhiều vềvăn bản nghị luận nhưng kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận thì còn hạn chế

1.3 Trong thực tế dạy học, qua khảo sát, dự giờ, chúng tôi thấy việcdạy học đọc - hiểu văn bản nghị luận, nhìn chung, chưa có hiệu quả Giáo viênkhông thích dạy, HS không thích học vì văn bản nghị luận “khô khan, trừutượng" Hầu hết HS chỉ hiểu văn bản theo cách giảng giải của thầy chứ chưa

có kĩ năng vận dụng các tri thức công cụ cần thiết vào việc đọc hiểu một vănbản nghị luận mới, ngoài chương trình Nguyên nhân chủ yếu là do mục tiêu,nội dung và PPDH đọc hiểu văn bản nói chung, văn bản nghị luận nói riêngchưa được xây dựng trên quan điểm hình thành và phát triển năng lực HS

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực đọc

hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT” với

mong muốn đề xuất được các biện pháp, cách thức hướng dẫn học sinh lớp 12đọc hiểu văn bản nghị luận một cách độc lập và sáng tạo

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trang 6

Văn bản nghị luận là loại văn bản mới được đưa vào chương trình chưalâu, lại khó Nghiên cứu về dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận đến nay cònhạn chế chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về dạy họcvăn bản nghị luận Chủ yếu là những công trình dựa trên nhận thúc nền tảng

về việc dạy học văn bản theo đặc trưng thể loại hoặc phương thức biểu đạt củavăn bản

Có thể kể ra một số công trình bài viết tiêu biểu sau Trước hết phải kể

đến PP dạy học VBNL ở trường phổ thông (2008) của tác giả Hoàng Thị Mai

(chủ biên) Trong công trình này đã đề ra những nguyên tắc, biện pháp, cáchthức đặc thù trong dạy học VBNL ở trường phổ thông là “tái hiện sinh độngkhông khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm; tóm tắt văn bản nghịluận; phát hiện, khái quát luận đề luận điểm; lấy ví dụ, dẫn chứng tiêu biểungoài văn bản để phân tích, làm sáng tỏ luận điểm; đọc hiểu văn bản nghị luậntheo trình tự mạch nghị luận của văn bản; giảng bình trong giờ đọc - hiểuVBNL; Liên hệ thực tế; tổ chức hoạt động nhóm; kiểm tra, đánh giá” Trên cơ

sở thống nhất lí luận cuốn sách dành hẳn chương 3 thiết kế một số giáo án vàbài tập thể nghiệm để GV cũng như HS có thể tham khảo

Trong cuốn Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt, tác giả Trần Đình Chung dành chương 3 viết về dạy học VBNL.

Sau khi đưa ra những đặc trưng để nhận diện VBNL, tác giả cuốn sách đề xuấtnhững phương hướng dạy học cụ thể đối với từng kiểu loại nghị luận: nghịluận dân gian, nghị luận trung đại, nghị luận hiện đại Yêu cầu chung của dạyhọc VBNL là đảm bảo về đặc trưng thể loại, về tính tích hợp và tích cực

Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về cách dạy học tácphẩm nghị luận trung đại trong sách Ngữ văn THPT có luận án tiến sĩ của tácgiả Huỳnh Văn Hoa (2009) Tác giả đồng tình với nguyên tác dạy học văn bản

Trang 7

theo loại thể và lý giải như sau: “Trong thời đại bùng nổ thông tin, kho tàngkiến thức của nhân loại tăng lên vùn vụt, số lượng TPVH ngày càng lớn và hếtsức đa dạng, phong phú; thời gian học tập ngày càng bị chi phối bởi nhiềuhình thức hấp dẫn của đời sống hiện đại thì việc dạy học chạy theo nội dungcủa từng TP cụ thể là hết sức hạn chế, nếu không muốn nói là lạc hậu Thaythế việc chỉ chú ý đến nội dung cụ thể, dạy học hiện đại chú ý cung cấp chongười học cách thực tiếp cận kiến thức, cách mở khóa, giải mã để tự chiếmlĩnh tri thức Trong dạy và học văn, đó chính là cách thức tiếp nhận và giải mãvăn bản theo thể loại” [ 49, tr.59]

Bên cạnh đó có thể dẫn ra một số bài viết trực tiếp bàn đến việc nângcao năng lực độc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh trung học phổ thôngnhư:

Bài “Một số định hướng nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nghị luậncho học sinh trung học phổ thông của tác giả Lưu Thị Trường Giang đăng trêntạp chí giáo dục số 333 đã đánh giá tầm vai trò của Văn bản nghị luận trongviệc phát triển năng lực cần thiết cho học sinh “ VBNL có vai trò vô cùngquan trọng trong việc hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho

HS tiếp cận với cuộc sống đường đại, mà trước hết là năng lực đọc viết, nănglực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ; năng lực tư duy và tư duy phê phán; năng lựcvăn hóa và liên văn hóa Bởi thế, dạy học VBNL cần hướng dẫn HS tiếp cận,nhận diện các vấn đề đương đại; đối thoại với các vấn đề cuộc sống; tạo bảnlĩnh phản biện; biết liên kết VB và rèn luyện cho các em kỹ năng kết hợp cácthao tác nghị luận trong văn nghị luận”

Tác giả Lê Thị Phúc với đề tài “ Phát triển năng lực đọc hiểu cho họcsinh lớp 12 qua dạy học đoạn trích "Đất nước" (trích trường Mặt Đường KhátVọng) của Nguyễn Khoa Điềm Qua đây, tác giả đã tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ

Trang 8

sở thực tiễn về phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 12 qua dạy họcđoạn trích "Đất nước”, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao khả năng dạy và họcđọc hiểu văn bản, tác giả cũng đã tiến hành thực nghiệm sư phạm để khảonghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp.[86]

Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về VBNL vẫn còn rất ít Cácquan điểm đều thống nhất cho rằng, dạy học VBNL cần quán triệt nguyên tắcthể loại và nguyên tắc tích hợp Đây là những yêu cầu cơ bản để hướng dẫn vàđánh giá dạy học VBNL ở trường PT Nghiên cứu về dạy học VBNL, các tácgiả cũng đã đề xuất nhiều giải pháp, biện pháp, cách thức dạy học VBNL xuấtphát từ những đặc trưng VBNL Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trênchưa thực sự lưu tâm đúng mức đến rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu VBNL, chưanghiên cứu chuyên sâu về chuẩn đầu ra của việc đọc hiểu VBNL ở lớp 12, rènluyện kĩ năng đọc hiểu VBNL cho HS 12 Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu vềvấn đề “Phát triển năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12 ở nhà trườngTHPT” là rất cần thiết

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Việc nghiên cứu “Phát triển năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12 ởnhà trường THPT” chúng tôi hướng đến những mục đích sau:

- Đề xuất chuẩn đầu ra đối với việc đọc - hiểu VBNL ở lớp 12, THPT

- Đề xuất quy trình, biện pháp, cách thức phát triển kĩ năng đọc hiểuVBNL cho HS lớp 12 góp phần hình thành kĩ năng học độc lập và sáng tạo ởHS

Từ đó nhằm năng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học văn bảnnghị luận ở trường THPT và phát triển ở học sinh năng lực đọc hiểu, góp phầnthực hiện mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về văn bản nghị luận và việc phát triển năng lựcđọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

- Khảo sát, phân tích thực trạng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luậncho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

- Đề xuất chuẩn đầu ra, quy trình và các biện pháp phát triển năng lực đọchiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

- Thực nghiệm đánh giá tính khả thi của các lí thuyết đã đề xuất

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận chohọc sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Chương trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học VBNL

- Cách thức tổ chức dạy học và thực nghiệm các giải pháp phát triển năng lựcđọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Thu thập tài liệu từ các bài báo, các đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác cóliên quan Tiến hành phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống lýthuyết, từ đó rút ra các kết luận khoa học làm cơ sở lý luận cho đề tài

5.2 Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi

Bảng câu hỏi phục vụ khảo sát được thiết kế nhằm thu thập thông tin để phântích và kiểm định thực trạng dạy học VBNL và thực trạng phát triển năng lựcđọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12

Trang 10

5.3 Phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các biệnpháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 12 ở nhàtrường THPT như đã đề xuất

6 Đóng góp mới của đề tài

- Quy trình dạy học đọc hiểu VBNL luận văn đề xuất có thể góp phần đổi mớicách tổ chức dạy - học đọc hiểu VBNL ở trường THPT

Trang 11

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 Ở

NHÀ TRƯỜNG THPT 1.1 Khái quát chung về năng lực và năng lực đọc hiểu văn bản

1.1.1 Khái quát chung năng lực

Đã có rất nhiều tài liệu nêu các định nghĩa và cách hiểu về khái niệmnăng lực Ở đây chúng tôi không nhắc lại mà chỉ lựa chọn một cách hiểu vềnăng lực để sử dụng trong luận văn này

Có thể thấy, dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các định nghĩa vềnăng lực đều khẳng định: nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, khảnăng làm, chứ không chỉ biết và hiểu Tất nhiên hành động (làm), thực hiện ởđây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ khôngphải làm một cách “ máy móc ”, “ mù quáng ” Chúng tôi tán thành cách địnhnghĩa năng lực của CT của Indonesia: “ Năng lực (competence) là những kiếnthức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trongthói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hànhđộng kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với nghĩalàm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản(Puskur, 2002)”[87]

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp Kết quả phụ thuộc vàoquan điểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào CT thiết kế theo hướng tiếp cậnnăng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung/cốt lõi (key competence) và năng lực chuyên biệt (specific competence) Nănglực chung/ cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và

Trang 12

làm việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và pháttriển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học.

Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng chỉ có và cần cho một số người

ở một số lĩnh vực cụ thể nào đó Năng lực này được hình thành và phát triển

do một lĩnh vực/ môn học nào đó; vì thế CT Quesbec gọi là năng lực môn học

cụ thể (Subjectspecific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên năng lực chung

CT-Nhìn chung sự phân biệt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt

là cần thiết, tuy nhiên giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, góp phần bổ sung cho nhau và do vậy nhiều khi ranh giới giữa chúngthường bị nhòe mờ, không thật rõ ràng, minh bạch Chẳng hạn tư duy sáng tạo

là năng lực chung, nhưng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo như là mộtnăng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo vănhọc, sáng tạo công nghệ,…Giao tiếp là năng lực chung, nhưng khi đi sâu vàogiao tiếp ngôn ngữ nếu các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói (môn Tiếng Việt- vănhọc) được yêu cầu ở một mức độ nào đó thì nó lại trở thành năng lực chuyênbiệt Chẳng hạn, giữa nói và diễn thuyết (hùng biện) thì nói là năng lực chung,yêu cầu ở mức bình thường nhưng diễn thuyết và nhất là hùng biện khôngphải là năng lực chung mà là năng lực chuyên biệt Tương tự, năng lực đọc vàđọc diễn cảm cũng như vậy Năng lực của học sinh (HS) là đích cuối cùng củaquá trình giáo dục Bởi vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực của HS cầnđược đặt đúng chỗ trong mục tiêu dạy học

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – tức là

từ đề cao nội dung của chương trình học chuyển sang đề cao nội dung mà họcsinh chiếm lĩnh, ứng dụng và thực hiện được qua quá trình học và hoạt độngtrong thực tiễn cuộc sống Để làm được điều đó, nhất định phải thực hiện

Trang 13

thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ mộtchiều” sang dạy cách học vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thànhnăng lực và phẩm chất Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục

từ nặng về kiểm tra tái hiện sang kiểm tra, đánh giá sáng tạo; phải biết kết hợpgiữa kiểm tra, đánh giá (kiểm tra, đánh giá kết thúc) với kiểm tra đánh giáthường xuyên (kiểm tra, đánh giá quá trình) để có tác động kịp thời nhằm điềukhiển chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục Đây là nguyên tắc cầnthiết khi chúng ta xây dựng một nền giáo dục chất lượng cao đáp ứng đượcnhu cầu của xã hội

Hiện nay, các nhà giáo dục có nhiều ý kiến thảo luận về các năng lựcchung cần thiết phải hình thành và phát triển cho học sinh Ngoài việc hìnhthành và phát triển các năng lực đặc thù, mỗi môn học đều phải đóng góp vàoviệc hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung nêutrên Trong các năng lực chung ấy, mỗi môn học có vai trò và vị trí khác nhau.Môn Ngữ văn có vai trò và vị trí quan trọng nhất/ chủ yếu trong việc hìnhthành và phát triển năng lực giao tiếp

Ở môn Ngữ văn, năng lực thẩm mĩ gồm hai năng lực nối tiếp nhautrong quá trình tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương và tiếng Việt:năng lực khám phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cái đẹp

Năng lực khám phá cái đẹp lại gồm năng lực phát hiện cái đẹp vànhững rung động thẩm mĩ cái đẹp nghệ thuật thường không bộc lộ ngay, nênphải có con mắt tinh tường trên cơ sở những rung động thẩm mĩ mạnh mẽ thìmới phát hiện được

Năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ không tách rời nhau, mà cómối quan hệ gắn bó, tương hỗ để cùng phát triển qua môn Ngữ văn Nó giốngnhư cặp đôi ngựa cùng song hành để kéo cỗ xe song mã – Ngữ văn chạy về tớiđích: phát triển tốt nhất hai năng lực đó cho người học

Trang 14

1.1.2 Năng lực đọc hiểu và cấu trúc của năng lực đọc hiểu văn bản

1.1.2.1 Khái niệm đọc hiểu

Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về khái niệm đọc hiểu Theo UNESCO, “đọc hiểu là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng tài liệu viết hoặc in kết hợp với những bối cảnh khác nhau; nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục, cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia đầy đủ trong

xã hội rộng lớn”

PISA (2012) định nghĩa năng lực (NL) đọc hiểu (HĐ) (reading literacy)

“là sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi và chú ý đến một VB viết để đạt được mục đích của cá nhân, phát triển vốn kiến thức và tiềm năng của mình, và tham gia vào một xã hội ( ) Đọc bao gồm một phạm vi rộng các NL nhận thức, từ

NL cơ bản là giải mã thông tin, đến những kiến thức về từ vựng; ngữ pháp; đặc điểm, cấu trúc liên quan đến VB và ngôn ngữ; hiểu biết về thế giới” [88].

PISA (2009) khi định nghĩa về NL đọc còn đề cập một yếu tố nữa, đó chính là

NL siêu nhận thức (metacognitive competencies)

Nguyễn Thị Hạnh (2014) cho rằng NL đọc hiểu “bao gồm những yếu tố cấu thành sau: tri thức về VB, về chiến lược đọc hiểu; kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu; sự sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống cần đến đọc hiểu” [48]

Nguyễn Thị Hồng Vân (2015) đề xuất khái niệm NL đọc hiểu như sau:

“Đọc hiểu là toàn bộ quá trình: tiếp xúc trực tiếp (gồm quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu đó) với văn bản; nhận thức, tư duy (tiếp nhận và phân tích lí giải ý nghĩa của văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc những biểu tượng, ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa với VB); phản

Trang 15

hồi, sử dụng với văn bản (sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người đọc, tìm ra ý nghĩa lịch sử, giá trị của VB)” [90, tr.19]

Qua việc phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quanniệm về NL đọc hiểu, chúng tôi nhận thấy NL đọc hiểu là NL giải mã văn bản(VB), hiểu nghĩa của VB, kiểm soát quá trình hiểu, phản hồi lại với VB, sửdụng VB để giải quyết những vấn đề của cá nhân và cuộc sống trên cơ sở sửdụng, huy động kiến thức nền của bản thân và các thao tác đọc hiểu nhằm đạtđến những mục tiêu cụ thể

Do đọc hiểu có chức năng phát triển ở người đọc khả năng vận dụng đọcvào giải quyết nhiệm vụ học tập và các vấn đề có trong cuộc sống nên đọchiểu không chỉ là kĩ năng mà là một năng lực - năng lực đọc hiểu Năng lựcđọc hiểu được bắt đầu hình thành từ môn học Ngữ văn, vì vậy nó là một nănglực chuyên biệt của môn học này

1.1.2.2 Cấu trúc của năng lực đọc hiểu văn bản

Tiêu chí để đánh giá NL chính là các khả năng cụ thể vận dụng tổng hợpkiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ trong học tập vàcuộc sống Các khả năng cụ thể này được định danh thành các NL bộ phận

Sự thể hiện của các NL bộ phận được đánh giá dựa vào những chỉ số hành vibiểu hiện cụ thể của từng NL Đó là các chỉ số để đo lường, kiểm soát, đánhgiá kết quả đạt được của một chương trình theo định hướng phát triển NL.Chính các NL bộ phận và các chỉ số biểu hiện cụ thể này sẽ giúp xác định cácyếu tố đầu vào cần thiết để hình thành nên các NL bộ phận và các chỉ số hành

vi Việc xác định cấu trúc NL đọc hiểu VBTS được thực hiện trên cơ sở ấy

Trang 16

Các số hành vi của các thành tố/kỹ năng thành phần của năng lực đọc

- Nhận biết thông tin về tác giả, bối cảnh tác giả

- Nhận biết từ ngữ, chi tiết, đối tượng, đề tài của văn bản

- Xác định cốt truyện, nhân vật, cảm xúc, ý chính, thông

điệp…của văn bảnPhân tích kết nối

thông tin của văn

bản

- Kết nối ý tưởng cơ bản từ các thông tin trong văn bản

(như đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật; mạchcảm xúc, mạch lập luận; cách thức hành động; các từngữ, phép tu từ trong văn bản; kiến thức về các vấn đề xãhội, văn học, kiến thức về các kinh nghiệm thực tế, …)

- Đối chiếu, phân tích những thông tin, ý chính của văn

bản qua kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân

- Khái quát hóa các thông tin về nội dung và nghệ thuật

của văn bảnPhản hồi và đánh

giá văn bản

- Nhận xét, đánh giá giá trị của văn bản, ý tưởng, cảm hứngcủa tác giả qua việc liên kết, so sánh, đối chiếu với các mốiliên hệ ngoài văn bản và kinh nghiệm sẵn có bản thân;

- Khái quát hóa các vấn đề về lí luận như phong cách, thờiđại, quá trình sáng tác, giá trị lịch sử và văn học,…

- Rút ra được bài học cho bản thân và những thông điệp củavăn bản

Trang 17

phương pháp để đọc hiểu các văn bản tương tự hoặc thuộccác nội dung, vấn đề khác

- Rút ra ý nghĩa tư tưởng, các giá trị sống của cá nhân từ văn bản

[Mô hình phát triển năng lực của Nguyễn Ngọc Thúy – Tạp chí Khoa học số

Năng lực đọc hiểu văn bản

Thu nhận thông tin

Giải thích ý tưởng cơ bản

Phản hồi đánh giá văn

bản

Đánh giá ý tưởng giá trị

Khái quát hóa ý nghĩa lý luận

Rút ra bài học kinh nghiệm

Vận dụng thông tin từ văn bản vào thực tiễn

Vận dụng thông tin trong tình huống hành dộng

Rút ra ý nghĩa tư tưởng giá trị của cá

nhân

Trang 18

quyết nhiệm vụ của cuộc sống, lúc này nó trở thành năng lực chung của mỗihọc sinh, mỗi cá nhân.

1.2 Khái quát chung về văn bản nghị luận

1.2.1 Khái niệm văn bản

Có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản Theo Từ điển tiếng Việt,

Văn bản là “chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn” [40,tr1360].

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Văn bản là khái niệm được dùng để chỉ văn bản trong ý nghĩa rộng nhất Văn bản là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có khả năng tiềm tàng, có thể đọc ra ý nghĩa được, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữ tạo thành hay không Do đó, một nghi thức, một điệu múa, một nét mặt, một bài thơ… đều là văn bản Còn văn bản theo nghĩa hẹp truyền thống, như tác phẩm của một nhà văn, một văn kiện thì được gọi là tác phẩm” [15,tr394]

Còn theo nhóm tác giả SGK Ngữ văn 10, tập 1, “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hay nhiều câu, nhiều đoạn

và có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề và triển khai chủ đề đó một cách trọn vẹn

- Các câu trong văn bản có sự liên kết chặt chẽ, đồng thời cả văn bản được xây dựng theo một cấu trúc mạch lạc.

- Mỗi văn bản có dấu hiệu biểu hiện tính hoàn chỉnh về nội dung (thường mở đầu bằng một nhan đề và kết thúc bằng hình thức thích hợp với từng loại văn bản)

- Mỗi văn bản nhằm thực hiện một (hoặc một số) mục đích giao tiếp nhất định” [16,tr24]

Trang 19

Mặc dù quan niệm về văn bản của các tác giả có những điểm khác nhaunhưng có sự thống nhất ở chỗ: Đa số các tác giả đều xem xét văn bản là sảnphẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nó tồn tại ở hai dạng: nói vàviết Mỗi văn bản là một tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ (nói - viết) được tổchức thành một hệ thống chặt chẽ, hoàn chỉnh về mặt hình thức, trọn vẹn vềmặt nội dung thông báo.

1.2.2 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trongđời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lựcbiểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống Trước tác của cácnhà tư tưởng, nhà lí luận, nhà triết học, nhà chính trị đều viết dưới dạng thứcnghị luận

Có nhiều cách phát biểu khác nhau về văn bản nghị luận:

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ

về một vấn đề nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lý lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề” [3 ,tr1078]

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị,

xã hội, triết học, văn hóa…Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó… Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ” [22, tr331].

Theo SGK Ngữ văn 11, tập 2: “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức…) Vấn đề được nêu ra như

Trang 20

một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình” [13,tr110]

Cũng cùng quan điểm như trên về văn bản nghị luận, các tác giả

của cuốn Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp hai (Tài liệu BDTX chu kì

1992 - 1996 cho GV văn cấp 2 phổ thông) trong một cách diễn đạt khác đã

quan niệm: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo luận với người khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn hóa nghệ thuật … Nét nổi bật nhất trong văn nghị luận là hệ thống lí lẽ và dẫn chứng đầy đủ, tiêu biểu để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm khêu gợi, thuyết phục người đọc, người nghe hiểu rõ vấn đề, tin vào tính minh xác của sự lập luận và tán thành với quan điểm, tư tưởng của người viết để người đọc có thể vận dụng chúng vào cuộc sống xã hội và cá nhân” [5,tr4].

Tựu chung lại văn bản nghị luận là một thể loại văn bản dùng lí lẽ đểthể hiện tư tưởng, quan điểm, thái độ của người viết, người nói về các vấn đềcủa đời sống (chính trị, đạo đức, văn hóa, văn học ) Các vấn đề đó đượctrình bày bằng một hệ thống lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu với lập luận chặt chẽ,thuyết phục và một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn chính xác

1.2.3 Đặc trưng của văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một thể văn đặc biệt, khác các thể văn hư cấu (thơ,truyện, kịch) ở chỗ: nếu trong thơ, tác giả dùng nhiều đến tưởng tượng và lấyngôn từ hàm xúc, tinh tế, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu để biểuhiện cảm xúc của mình và bản chất của cuộc sống; trong truyện, kịch tác giảlấy việc xây dựng thế giới hình tượng nhân vật làm trung tâm để miêu tả cuộcsống, con người và biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn thì trong văn bảnnghị luận tác giả không dùng hư cấu - một hoạt động cơ bản của tư duy hình

Trang 21

tượng - mà dựa vào tư duy logic, vận dụng lí lẽ, thực tế và ngôn từ trực tiếpcủa mình để trình bày một thái độ, một quan điểm, một tư tưởng về một vấn

đề đạo đức, chính trị, xã hội nào đó nhằm thuyết phục người đọc, người ngheđồng ý, đồng tình, đồng cảm với vấn đề và cách giải quyết vấn đề của tác giả

Có thể khái quát một số đặc điểm của VBNL như sau:

1.2.3.1 VBNL Phát biểu một cách trực tiếp tư tưởng, quan điểm, thái

độ, tình cảm của người viết, người nói về một vấn đề của cuộc sống

Không giống như văn miêu tả, kể chuyện thể hiện cảm xúc tư tưởngqua hình ảnh, biểu tượng, văn nghị luận là nơi phản ánh trực tiếp lập trường,

tư tưởng, quan điểm, thái độ trước vấn đề đặt ra của cuộc sống Nếu ở vănhình tượng, hư cấu, thái độ quan điểm của người viết thường được thể hiệnmột cách kín đáo thông qua nhân vật, kết cấu cốt truyện, hình tượng thẩm mĩthì ở văn bản nghị luận những điều đó lại được trình bày một cách trực tiếp,tường minh để người đọc có thể dễ dàng nhận ra

Đọc áng “thiên cổ hùng văn” Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) người

đọc không thể không nhận ra lòng yêu nước nồng nàn của tác giả, lòng yêu

nước đó được bộc lộ trực tiếp qua từng câu chữ: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” Bình Ngô đại cáo

(Nguyễn Trãi) chính là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn

về chủ quyền, độc lập dân tộc, bản cáo trạng kẻ thù, bản anh hùng ca về cuộckhởi nghĩa Lam Sơn Tuy lời lẽ giàu chất hình ảnh, trữ tình nhưng ý tứ, quanđiểm được bộc lộ trực tiếp qua lí lẽ, dẫn chứng và lập luận sắc bén Ngay mởđầu bài cáo, để thu phục nhân tâm, Nguyễn Trãi đã khẳng định tư tưởng nhânnghĩa và chân lí độc lập của dân tộc Đại Việt (nhân nghĩa gắn liền với yêu

Trang 22

nước chống ngoại xâm): “…Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…” Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần

và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”

Hay như, trong văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc bằng cách nhìn, cách nghĩ sâu rộng, mới mẻ và nhiệt tình

của một người gắn bó hết mình với đất nước, với nhân dân, Phạm Văn Đồng

đã làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa thơ văn của Nguyễn Đình Chiểuvới hoàn cảnh của tổ quốc lúc bấy giờ và với thời điểm hiện nay bằng lập luậnkhúc chiết Đồng thời, tác giả hết lòng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, một ngườitrọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước, một ngôi saosáng trong nền văn nghệ của dân tộc Việt Nam Như vậy, ở nước ta văn bảnnghị luận là một thể loại văn học giàu truyền thống Phạm vi đề tài của nóphong phú, đa dạng: từ đề tài về chiến tranh, hòa bình, chủ quyền độc lập củaquốc gia đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóadân tộc; từ vai trò, vị trí, ý nghĩa đến đặc trưng nghệ thuật của văn chương…

Dù nghị bàn về vấn đề gì thì trong văn bản nghị luận quan điểm, tư tưởng, thái

độ của tác giả cũng được bày tỏ một cách trực tiếp

1.2.3.2 Thuyết phục người đọc bằng hệ thống luận điểm, luận cứ xác đáng, tin cậy và bằng cách lập luận chặt chẽ, hùng hồn

Nếu như trong văn bản tự sự và kịch, nhân vật, cốt truyện, xung đột…

là những yếu tố cơ bản - xương sống - của tác phẩm thì trong văn bản nghị

Trang 23

luận luận điểm, luận cứ, luận chứng, lập luận là những yếu tố cơ bản làm nêntác phẩm

 Luận điểm của bài văn nghị luận:

Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giácủa tác giả đối với một vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ Luận điểmchính là linh hồn của bài văn nghị luận, nó thống nhất các phần, các đoạn vănthành một khối Giá trị của luận điểm thể hiện ở tính đúng đắn, chân thật, phùhợp với thực tế Chỉ khi đó, luận điểm mới có sức thuyết phục

Luận điểm của bài văn nghị luận được thể hiện dưới hình thức nhữngcâu văn ngắn gọn, với những phán đoán có tính khẳng định hoặc phủ định.Chẳng hạn như:

- Thời gian là vàng

- Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

- Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

- Nước Việt Nam là một nước tự do và độc lập

Trong một văn bản nghị luận, luận điểm có tính hệ thống: có luận điểmchính và luận điểm phụ Luận điểm chính thường làm kết luận của văn bản, nó

là cái đích mà nghệ thuật lập luận phải dẫn dắt người đọc đạt tới Các luậnđiểm phụ dùng làm luận điểm xuất phát hay luận điểm mở rộng trong quátrình lập luận Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trongvăn bản là yêu cầu cần thiết xác định khả năng hiểu sâu, khả năng thâu tómvấn đề và kĩ năng tư duy logic, mạch lạc của người đọc

Như vậy luận điểm là điểm tựa lớn nhất của toàn bộ bài viết Nógiống như chiếc đinh để người ta treo móc toàn bộ chiếc áo là bài văn nghị

Trang 24

luận trên đó Vì vậy, một bài văn nghị luận không có luận điểm giống như một

cơ thể sống không có linh hồn vậy Nhưng bài văn nghị luận có luận điểmchưa phải là yếu tố quyết định bài văn đó hay mà quan trọng hơn là luận điểmbài văn ấy có độc đáo, sâu sắc, mới mẻ hay không Nếu chỉ dừng lại ở chỗ cóluận điểm mà luận điểm đó đã cũ, là những cái hiển nhiên, ai cũng biết thì bàivăn đó rất dễ rơi vào nhàm chán, đơn điệu Từ đó đặt ra yêu cầu luận điểmtrong bài văn nghị luận phải là ý hay Ý hay là ý đúng, ý mới, ý riêng, tậptrung, nổi bật, có cơ sở đạo lí và khoa học vững chắc thuyết phục được người

đọc, người nghe Ví dụ, trong văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Phạm Văn Đồng đã đưa ra một luận điểm hiển

nhiên nhưng bất ngờ, mới mẻ đối với việc nhìn nhận và đánh giá sự nghiệp

thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”

 Luận cứ của bài văn nghị luận:

Để khẳng định hay phủ định các luận điểm, người ta dùng các luận cứ

“Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục” 12,tr19 “Lí lẽ được hiểu là những đạo lí, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sự việc, số liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm Dẫn chứng phải xác thực, đáng tin cậy, không thể bác bỏ” [13,tr28] Ví dụ trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, để làm sáng tỏ luận điểm mở rộng thứ nhất (Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta), Bác Hồ đã dùng hai luận

cứ: luận cứ thứ nhất là các dẫn chứng về các trang sử kháng chiến chốngngoại xâm của tổ tiên ta (như “Những trang sử vẻ vang Bà Trưng, Bà Triệu,Trần Hưng Đạo, Lê Lợi…”); luận cứ thứ hai là lí lẽ phân tích, khẳng định cần

Trang 25

ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc Để làm sáng tỏ luận điểm mở

rộng thứ hai (Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước), Bác Hồ đã sử dụng tới mười luận cứ, trong đó chín luận cứ là các dẫn

chứng về các gương tích cực tham gia kháng chiến của mọi tầng lớp nhân dân,mọi lứa tuổi, luận cứ cuối cùng là lí lẽ khái quát đặc điểm chung của chín luận

cứ trên

Như vậy, nếu luận điểm là ý kiến mà người viết tin là đúng đắn nhưngngười đọc có thể chưa tỏ tường thì luận cứ lại là những lẽ phải và sự thật hiểnnhiên mà người viết và người đọc đều thừa nhận Nếu luận điểm là điều cầnchứng minh thì luận cứ là công cụ, phương tiện cái dùng để chứng minh Luậnđiểm quyết đinh việc chọn luận cứ còn luận cứ phải phục vụ cho luận điểm

 Lập luận của bài văn nghị luận:

Khi xem xét tính hệ thống của các luận điểm và luận cứ, chúng ta cầnchú ý đến vai trò của từng luận điểm, mối quan hệ của chúng và cách sắp xếpchúng trong hệ thống Cách tổ chức lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểmchính là lập luận của bài văn nghị luận

“Lập luận là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục […] Lập luận bao gồm các cách quy nạp, diễn dịch, phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ […], lập luận có ở khắp trong bài văn nghị luận” [13,tr28] Như vậy, nếu luận điểm là nội dung thì lập luận

là hình thức thể hiện nội dung; luận điểm là “lời nói” thì lập luận là cách thểhiện lời nói

Từ trước đến nay, những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bàivăn hàm chứa trong đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực Tính logic,

Trang 26

chặt chẽ với những lí lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển hiện buộc người nghekhông thể không công nhận là đặc điểm của những văn bản nghị luận này

Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một văn bản nghị luận có logic

lập luận chặt chẽ, giàu tính thuyết phục Bài cáo chia làm bốn phần rõ rệt, mỗiphần đều có trọng tâm, tất cả đều hướng tới tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt là tưtưởng nhân nghĩa gắn liền với yêu nước, độc lập dân tộc Phần mở đầu: Tácgiả đã khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập dân tộc của ĐạiViệt; tiếp đó tác giả đã viết lên một bản cáo trạng đanh thép của giặc Minh; kểlại diễn biến của cuộc chiến đấu từ mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu caosức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinhthành sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; và cuối cùng là lời tuyên bốkháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử Lập luận của bài cáo hết sức chặtchẽ, ngay trong từng phần cũng rất logic, hợp lí làm tăng sức thuyết phục chobài cáo Ở phần hai, khi tố cáo tội ác của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết vớimột trình tự logic: Đầu tiên, tác giả chỉ rõ âm mưu cướp nước ta của giặcMinh, vạch trần luận điệu bịp bợp “phù Trần diệt Hồ” của chúng:

“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà bán nước cầu vinh”

Tiếp đó, tác giả đi sâu tố cáo chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh

mẽ những hành động tội ác của giặc Minh: hủy hoại cuộc sống của con ngườibằng những hành động dã man diệt chủng, tàn sát người vô tội: “nướng dânđen”, “vùi con đỏ”, bằng sự hủy hoại môi trường sống “Nặng thuế khóa sạchkhông đầm núi”, “Tàn hại cả giống côn trùng cỏ cây”… Những hình ảnh có

Trang 27

sức ám ảnh lớn, hình ảnh đối lập tình cảnh cùng cực của người dân vô tội với

kẻ thù xâm lược được tác giả sử dụng triệt để Tất cả đã khắc họa đậm nét bộmặt quỷ sứ, khát máu người của bè lũ xâm lược

Để diễn tả tội ác chất chồng của quân giặc, khối căm hờn chất chứa củanhân dân ta, Nguyễn Trãi đã kết thúc bản cáo trạng bằng câu văn đầy hìnhtượng:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Nhơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

Tội ác của giặc là vô hạn, sự nhơ bẩn của chúng là vô cùng, đến nỗi:

“Lẽ nào trời đất rung tha

Ai bảo thần dân chịu được”

Có thể thấy, Bình Ngô đại cáo là một văn bản chính luận mẫu mực về

nghệ thuật lập luận Trong nghệ thuật lập luận, để tăng tính thuyết phục, ngườiviết thường giả định là người đọc không đồng ý với mình để từ đó lập luậnphản bác huy động mọi lí lẽ dẫn chứng hòng đánh đổ luân lí của đối phươngbuộc hắn phải tâm phục khẩu phục Chính vì thế, lập luận trong bài văn nghịluận thường có màu sắc đối thoại, tranh luận Chẳng hạn, để ca ngợi “NguyễnTrãi là người anh hùng dân tộc”, Phạm Văn Đồng viết:

“Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, đã ca ngợi Nguyễn Trãi như sau: “Gió thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông tiên

ở trong tòa ngọc, cái tài làm hay làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ…” Nguyễn Trãi không phải là một ông tiên Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của

Trang 28

dân tộc Sự nghiệp và sáng tác của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc Nguyễn Trãi rất xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta Ca ngợi người anh hùng dân tộc, chúng ta rửa mối “hận nghìn năm” của Nguyễn Trãi” (Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc)

Tóm lại, cùng với luận điểm, lập luận là yếu tố giường cột dựng lênngôi nhà nghị luận, thiếu các xương sống này bài nghị luận sẽ không thể đứngvững được

 Ngôn ngữ và giọng điệu của bài văn nghị luận:

Để tăng tính thuyết phục, lôi cuốn của bài văn nghị luận, người viếtkhông chỉ sử dụng hệ thống lí lẽ và lập luận chặt chẽ, hùng hồn mà còn lựachọn kỹ yếu tố ngôn ngữ và giọng điệu cho bài văn nghị luận

Mục tiêu thứ nhất của bài văn nghị luận là nhằm thuyết phục ngườinghe, người đọc tin và ủng hộ, hưởng ứng và hành động theo lời kêu gọi củatác giả Để thuyết phục người đọc, người viết phải viết lên sự thật, bởi bảnthân sự thật có sức thuyết phục mạnh hơn tất cả Do đó, trước hết ngôn từtrong văn bản nghị luận phải chính xác, chính xác với bản chất của đối tượng

và chính xác trong thái độ đối với đối tượng đó Chính xác đến từng cung bậc

và sắc thái

Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả,trần thuật kể lể sự việc mà dùng loại câu khẳng định hoặc phủ định với nộidung hầu hết là các phán đoán, nhận xét, đánh giá chắc chắn, sâu sắc Do nhucầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến hệ thống từ lập luận, ví dụ

như: thật vậy, thế mà, cho nên, vì thế, tuy nhiên, vả lại, mà còn, có nghĩa là, giả sử… Đó là các từ có vai trò liên kết các ý, các vế, các đoạn trong văn nghị luận để tạo nên tính chặt chẽ trong lập luận Chẳng hạn, trong Xin lập khoa

Trang 29

luật (Nguyễn Trường Tộ), để tạo nên những quan hệ logic chặt chẽ giữa các

vế, các câu, các đoạn, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ lập luận:

“…Từ xưa đến nay các vua nắm quyền thống trị cứu nước giúp đời đều nhờ hiểu luật, còn các sách vở khác cũng chỉ là phụ thuộc Nếu trong nước không có luật, thì dù có vạn quyển sách cũng không thể trị được dân Điều này quá rõ Bởi vì sách vở có chép nào là sự tích chính sự thời xưa của cổ nhân, nào là những bài luận hay ho của người xưa để lại, nào những áng văn chương trau chuốt của Chư Tử, nào những tiểu thuyết dã sử của những người hiểu sự đặt bày Trong đó, hay có, dở có, kẻ nói này, người nói khác, xét kĩ những thứ sách vở đó chỉ làm rối trí thêm chẳng được tích sự gì Cho nên Khổng Tử nói: “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc” Thử xem có những nhà nho suốt đời đọc sách, đáng lẽ cử chỉ của họ phải làm khuôn phép cho đời, vậy mà tại sao có nhiều người, cuộc đời của họ

và ứng sử của họ còn tệ hơn những người quê mùa chất phác?”…

Văn nghị luận chủ yếu sử dụng tư duy logic nhưng không gạt bỏ ngônngữ gợi cảm Vì ngôn ngữ gợi cảm, giàu sắc thái biểu cảm, biểu hiện nhiệttình, thái độ của tác giả trước vấn đề nghị luận là yếu tố tăng sức thuyết phụccho văn bản Những yếu tố trữ tình đó tác động mạnh mẽ vào tình cảm ngườiđọc, người nghe, có tác dụng chinh phục tâm hồn con người Tình cảm hỗ trợthêm cho lí, lí tiếp thêm sức mạnh cho tình cảm, do đó sức thuyết phục tăng

lên gấp bội Trong Chiếu cầu hiền, thái độ cầu hiền của vua Quang Trung được bộc lộ thống thiết, xúc động qua ngôn ngữ “Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng, tài cao chưa thấy có ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”.

Trang 30

Để thể hiện thái độ của tác giả trước vấn đề nghị luận cũng như tăngtính thuyết phục của vấn đề nghị luận, văn bản nghị luận phải có giọng điệuriêng Giọng điệu trong văn nghị luận là giọng hùng biện, sục sôi, mạnh mẽ,

hừng hực khí thế, như sóng cuộn trào Chẳng hạn, giọng điệu của Hịch tướng

sĩ (Trần Quốc Tuấn) là hùng hồn, thống thiết; của Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh) là khúc chiết, hùng hồn, tự tin; còn Tuyên ngôn Độc lập là

tác phẩm có giọng điệu đa thanh: phần mở đầu khúc chiết, âm vang, trangtrọng; phần nội dung chính: hùng hồn, đanh thép khi nói về tội ác của thựcdân Pháp đối với nhân dân ta, giọng tự hào khi nói về quá trình nổi dậy giànhchính quyền của nhân dân; lời tuyên ngôn và tuyên bố cuối cùng có giọngđanh thép, khảng khái

1.2.3.3 Tính đối thoại

Làm văn dù tự sự, miêu tả, thuyết minh hay biểu cảm cũng đều là mộthoạt động sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và vì thế đối thoại, dù tường minhhay ngầm ẩn, sẽ là hoạt động chủ yếu Tính chất này của làm văn càng đượcthể hiện tập trung và tiêu biểu hơn trong làm văn nghị luận Ở đây, đối thoại là

để trao đổi, để lắng nghe, để tìm ra tiếng nói chung, một tiếng nói thống nhấttrong việc thỏa mãn nhu cầu của các bên tham gia đối thoại Đối thoại là mộtquá trình hiểu lẫn nhau, tránh cách nhìn nhận áp đặt Nhưng muốn đối thoại

và đối thoại có hiệu quả thì trong văn nghị luận, chúng ta cần phải xác địnhđược: đối tượng đối thoại là ai, mục đích đối thoại là gì, nội dung đối thoại rasao và lời lẽ trong văn nghị luận cần phải được cân nhắc như thế nào Khônglàm sáng rõ được những điều này, hiệu quả của việc nghị luận không thể đạtmục đích

Văn nghị luận nhằm bàn bạc, trao đổi, đối thoại với người khác và cũng

có thể là với chính mình về một vấn đề, một hiện tượng nào đó có ý nghĩa xã

Trang 31

hội Đã là nghị luận thì dù bài đó được viết trong hay ngoài nhà trường, nếukhông có bàn bạc, không có đối thoại cũng sẽ không còn là văn nghị luận nữa.Với tư cách là một nghệ thuật thuyết phục theo cách mà người viết mongmuốn, nghị luận luôn cần phải xác định và hướng tới người nhận một cách cụthể, rõ ràng.

Bởi vậy, văn nghị luận bao giờ cũng đòi hỏi phải có “người đối thoại”,

“kẻ trò chuyện” để giao tiếp - dù đó chỉ là người giao tiếp giả định Có nhưvậy, người nghị luận mới lựa chọn được những nội dung trao đổi hợp lí, đưa

ra được chiến lược giao tiếp phù hợp và thông tin mới tới đúng địa chỉ cầnđến Việc hiểu biết về người đối thoại, đặc biệt về chính kiến, quan điểm, thái

độ của họ về vấn đề, về hiện tượng được đưa ra đối thoại càng tường tận baonhiêu thì độ hàm súc, tính thuyết phục của bài văn nghị luận càng cao bấynhiêu Ở đây, hiệu quả của nghị luận luôn tỉ lệ thuận với việc hiểu biết vềngười đối thoại Nếu không xác định được rõ ràng, chính xác đối tượng đốithoại thì bao nhiêu lí lẽ, bao nhiêu công sức trong việc lựa chọn nội dung nghịluận hoặc sẽ bị lạc hướng, hoặc trở nên vu vơ, vì hoạt động nghị luận khôngnhằm hướng tới một “địa chỉ” người nhận cụ thể nào

Nội dung đối thoại trong nghị luận là những quan điểm, những chínhkiến, những nhận định… về ý nghĩa xã hội của hiện tượng mà người viết cho

là “còn vấn đề”, “có vấn đề”, “nên cân nhắc”, “phải được xem xét thêm” hoặc “nên được trao đổi thêm”,“nên được làm sáng rõ thêm” Trong

nghị luận, các tư tưởng, các chính kiến, quan niệm có thể được nêu ra mộtcách ngầm ẩn, kín đáo hoặc cũng có thể được nêu ra trực tiếp để chúng được

cọ xát, được đối chiếu, so sánh hoặc thậm chí đối lập nhau và được phân tích,nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau… Ở đây sự va chạm giữa hai quan điểm,hai chính kiến về cùng một hiện tượng; hoặc sự va chạm của các nhận định,các phán đoán về những hiện tượng xã hội, dù là ngầm ẩn hay lộ diện, đều là

Trang 32

những điều thường xuyên xảy ra Sự va chạm đó không hẳn lúc nào cũngnhằm mục đích bác bỏ, mà chủ yếu là giúp chúng ta, qua sự cọ sát, va chạm

ấy của những quan điểm, những chính kiến mà nhìn nhận được hiện tượngmột cách đa chiều hơn, sâu sắc hơn nhằm chiếm lĩnh và nhận thức kháchquan, đúng bản chất về hiện tượng bằng những suy luận và tư duy logic.Trong sự cọ sát và va chạm đó, chân lí sẽ hiện ra Chính vì thế mà Lưu Hiệp

trong Văn tâm điêu long cho rằng, nghị luận“là để phân biện đúng sai, phải

trái; tìm hết lí lẽ, truy cứu ở cái chỗ vô hình; khoan xuyên vật cứng để chothông; khơi chỗ sâu để xem giới hạn; nó là cái giỏ để bắt trăm điều nghĩ suy;

là thước đo cân nhắc vạn sự Vì thế cho nên nghĩa lí của nó phải không đượcmâu thuẫn, lời lẽ kị vụn vặt, phải làm cho tâm hợp” và trong nghị luận thì

“mọi kẽ hở đều được bịt kín, lời phù hợp mà ý chặt chẽ, kẻ địch không tìmđược chỗ lợi dụng, đó là điều cốt yếu của nó” [Lưu Hiệp (2007) Văn TâmĐiêu Long, NXB Lao động, tr 52]

Tóm lại, văn bản nghị luận là một kiểu văn bản đặc biệt có những đặcđiểm chủ yếu sau: Phát biểu một cách trực tiếp tư tưởng, quan điểm, thái độ,tình cảm của người viết về một vấn đề của đời sống; thuyết phục người đọcbằng hệ thống luận điểm, luận cứ xác đáng, tin cậy và bằng cách lập luận sắcbén; ngôn ngữ chính xác, trong sáng, cú pháp rõ ràng, chặt chẽ, giọng điệuhùng hồn Xác định rõ những đặc điểm cơ bản này sẽ giúp chúng ta phân biệtđược điểm khác nhau giữa một giờ đọc - hiểu văn bản nghị luận với một giờđọc - hiểu văn bản văn chương hình tượng, có hướng phân tích và lựa chọnđược những nội dung cơ bản, các phương pháp, biện pháp tổ chức dạy họcphù hợp với đặc trưng thể loại văn bản

Trang 33

1.3 Đặc điểm, vị trí của phần văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 12.

1.3.1 Vị trí của phần văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 12

Văn bản nghị luận có vị trí, vai trò rất quan trọng trong cuộc sống Cóthể thấy văn bản nghị luận có mặt ở hầu khắp các hoạt động, từ những cuộctrò chuyện, trao đổi, hội họp trong sinh hoạt hằng ngày đến các báo cáo, tiểuluận, luận văn, trong hành chính, khoa học, văn hóa VBNL là một công cụ

để con người trao đổi, đối thoại, thuyết phục để hiểu nhau hơn, gần gũi nhauhơn và nhận ra được bản chất, quy luật của sự vật hiện tượng

Trong nhà trường, vấn đề mà các văn bản nghị luật đặt ra thường lànhững vấn đề gần gũi, quen thuộc hoặc có ý nghĩa quan trọng như: bảo vệ môitrường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, kế thừa và phát huy truyền thốngvăn hóa dân tộc, vai trò của người hiền tài đối với đất nước; vai trò của vănhọc với cuộc sống; độc lập tự do của dân tộc…được tiếp cận với những vấn đề

ấy cùng những quan điểm, lập luận, cách đánh giá, giải quyết vấn đề của tácgiả văn bản nghị luận, học sinh sẽ có nhận thức sâu sắc, học được cách bày tỏquan điểm đánh giá rõ ràng, đúng đắn về các vấn đề trong cuộc sống

Đồng thời, qua đọc hiểu các VBNL, các em còn học được cách suy nghĩ

để giải quyết vấn đề hợp lý, hợp tình và sáng tạo theo cách riêng của mình,nhất là về những vấn đề rất gần gũi với cuộc sống hiện nay, như khắc phụcbệnh vô cảm, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa thiên tai, dịch bệnh,

Văn bản nghị luận còn có khả năng bồi dưỡng lòng nhân ái, ý thức côngdân, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác ở học sinh Khi các em trăn trở đitìm những giải pháp giải quyết vấn đề mà các tác giả đặt ra trong văn bản nghịluận nghĩa là các em đang thể hiện vai trò công dân, tinh thần trách nhiệm của

Trang 34

mình đối với xã hội Những tác phẩm nghị luận mẫu mực là sự hòa quyệnnhuần nhuyễn giữa lý trí và tình cảm, giữa nghệ thuật và thực tiễn, giữa kháchquan và chủ quan, giữa tình cảm trong sáng kết tinh cùng với lý trí tỉnh táocủa những nhân cách lỗi lạc đã trở thành những tấm gương, như những ngôisao “càng nhìn càng thấy sáng” để học sinh có thể soi vào đó và tự hoàn thiệnchính bản thân.

Văn bản nghị luận có vai trò quan trọng như vậy, nhưng qua khảo sátchương trình và sách giáo khoa hiện hành, chúng tôi nhận thấy vị trí văn bảnnghị luận của chương trình và sách giáo khoa hiện hành chưa tương thích vớiquan điểm của chương trình về việc “tăng cường phần nghị luận xã hội, nghịluận văn học” trong nhà trường phổ thông [23,tr23] Bản thân việc thay đổimột số VBNL trong chương trình sách giáo khoa hiện hành so với trước cũng

có điều cần phải bản đến

Mặc dù ở chương trình lớp 12, sách giáo khoa hiện hành đã tăng cường

một số văn bản nghị luận mới như: Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của tác giả Phạm Văn Đồng, Đô-xtôi-ép-xki của

X.Xvaigơ nhưng lại bớt đi một số văn bản nghị luận vốn được học trước đâyvới lý do “có chủ đề không sát với thời sự ngày nay” như đối với các chươngtrình lớp 10 và lớp 12 [23,tr42]

Vì vậy, về căn bản, số lượng văn bản nghị luận trong chương trình lớp

12 hiện hành vẫn ít Ở THPT văn bản nghị luận chỉ chiếm tỉ lệ 12% so vớitổng số văn bản được học cụ thể như sau: THPT có 16 văn bản nghị luận trêntổng số gần 130 văn bản đọc hiểu, trong đó lớp 12 có 6 văn bản nghị luận.Nếu chia văn bản thành 4 thể loại: tự sự, trữ tình, kịch, nghị luận theo chươngtrình giáo dục phổ thông [22,tr44] thì số lượng văn bản nghị luận cần phải đọchiểu theo loại thể trong chương trình hiện nay chưa thật sự thỏa đáng

Trang 35

Chúng tôi cho rằng, vị trí của phần văn bản nghị luận ở lớp 12 cấpTHPT chưa thực sự xứng tầm với chức năng và ý nghĩa quan trọng của nótrong chương trình học Bởi vậy mà học sinh chưa nhận thức đúng được vaitrò của văn bản nghị luận.

1.3.2 Đặc điểm của phần văn bản nghị luận trong chương trình

Ngữ văn lớp 12

Để nghiên cứu đặc điểm của phần văn bản nghị luận trong chươngtrình Ngữ Văn lớp 12, chúng tôi đã khảo sát kĩ chương trình, sách giáo khoaNgữ văn THPT và khái quát một số đặc điểm của văn bản nghị luận cấpTHPT như sau:

1.3.2.1 Tính cập nhật (các vấn đề của đời sống và nghệ thuật trong văn bản)

Theo nhìn nhận của chúng tôi, văn bản nghị luận trong chương trìnhTHPT, sách giáo khoa hiện hành có tính cập nhật cao Đề tài của văn bản nghịluận trong chương trình, sách giáo khoa đã bao quát được một phạm vi rộnglớn các vấn đề của đời sống và nghệ thuật Từ đề tài về dựng nước, giữ nước

(Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập (lớp 12), Chiếu cầu hiền) đến triết học, luân lý (Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác, Về luân lý xã hội ở nước ta), phát triển giáo dục, khuyến khích nhân tài (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia), bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc (Trích diễm thi tập, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc), phòng chống dịch bệnh (Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS) Từ những vấn đề chung về văn học - nghệ thuật (Một thời đại thi ca, Mấy ý nghĩ về thơ) hay từ chân dung văn học (Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, Đô-xtôi-ep-xki).

Những đề tài này đã thể hiện quan điểm “dạy học văn gắn với thực tế đời

Trang 36

sống, rút ngắn khoảng cách giữa văn học nhà trường và đời sống xã hội, nângcao vốn hiểu biết về văn hóa – xã hội nói chung cho học sinh” [55,tr10].

1.3.2.2 Tính tiêu biểu (So với các văn bản nghị luận nói chung)

Việc khảo sát các đề tài của văn bản nghị luận trong chương trình, sáchgiáo khoa hiện hành cũng cho thấy tính tiêu biểu của những văn bản nghị luậnđược chọn lựa đưa vào chương trình Có thể xem những văn bản nghị luậntrong chương trình lớp 12, sách giáo khoa hiện hành là những văn bản tiêubiểu về tư tưởng, đề tài, văn phong nghị luận Một số văn bản được coi là

mẫu mực của mọi thời đại như: Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Chính tính tiêu biểu của văn bản nghị luận

trong chương trình lớp 12, sách giáo khoa hiện hành đã góp phần giúp họcsinh có phương pháp đọc hiểu, có khả năng tạo lập văn bản nghị luận tốt hơn

số lượng nhiều hơn (7/16 văn bản nghị luận có chủ đề nghiêng về chính trị,trong đó lớp 12 có 2 bài) so với các văn bản nghị luận viết về những vấn đềkhoa học, xã hội, tư tưởng đạo lý, văn học nghệ thuật là những vấn đề rất cầnthiết đối với học sinh trong thời đại hiện nay

Xét về mặt thời gian, văn bản nghị luận trong chương trình THPT hiệnhành được sắp xếp cụ thể lại nhưng vẫn bám sát tiến trình lịch sử, nghĩa làtheo trình tự từ trung đại tới hiện đại Những lớp đầu cấp, (lớp 10,11) học sinh

Trang 37

chủ yếu học các văn bản nghị luận trung đại, còn học sinh lớp 12 tiếp nhậnvăn bản nghị luận hiện đại hơn Sự sắp xếp văn bản nghị luận theo cách nàytuy có tính hệ thống nhưng cũng ảnh hưởng tới kết quả đọc hiểu văn bản nghịluận của học sinh bởi lớp thấp lại phải tiếp nhận văn bản trung đại là nhữngvăn bản có độ khó cao hơn so với văn bản nghị luận hiện đại.

1.3.2.4 Tính phát triển so với chương trình các cấp học khác

So với cấp THCS, yêu cầu đọc hiểu văn bản nghị luận ở THPT cao hơn

Đề tài văn bản nghị luận ở THPT đề cập tới những vấn đề rộng hơn, nội dungvăn bản trừu tượng phức tạp hơn

Chẳng hạn, đọc văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăngghen),

để hiểu được những cống hiến to lớn của Các Mác (tìm ra quy luật phát triểncủa loài người; phát hiện ra những giá trị thặng dư; chuyển lý thuyết cáchmạng thành hành động cách mạng), học sinh phải có kiến thức và trình độ tưduy cao hơn cấp THCS Hơn thế, văn bản là một bài điếu văn, được viết tronghoàn cảnh đặc thù với một sự kiện đặc biệt cùng những con người thật Đó là

sự đánh giá của một vĩ nhân về một vĩ nhân Vì thế, trong quá trình đọc hiểu,học sinh còn phải tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của văn bản, liên hệ với hoàn cảnhcủa người viết, của thời đại lúc đó để thấy được ý nghĩa thời sự của bài điếu,nhận thức sâu sắc giá trị nhiều mặt của các luận điểm mà Ăngghen nêu ra

Tóm lại, phần văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 12 đãđược lựa chọn kĩ lưỡng, đảm bảo sự đa dạng, phong phú về đề tài, chủ đề,phong cách nghị luận, có tính tiêu biểu mẫu mực Sự nâng cấp kiến thức đượctăng lên đòi hỏi học sinh lớp 12 phải có kiến thức và tư duy vững vàng để đọchiểu các vấn đề mà văn bản đặt ra ở lớp 12 Học sinh phải sử dụng phươngpháp đọc và viết văn bản nghị luận nhiều hơn các khối 10, 11 để đồng thờiphát triển cả kĩ năng đọc và tạo lập VBNL Điều này cũng đúng theo quy luật

Trang 38

nhận thức từ dễ đến khó đối với các em học sinh trong quá trình phát triển khảnăng đọc hiểu văn bản nghị luận.

1.4 Thực trạng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận và việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở trung học phổ thông hiện nay

Đối với dạy học môn Ngữ văn, mục tiêu cuối cùng cần đạt được là pháttriển phẩm chất và năng lực người học Một trong những năng lực mà mônhọc Ngữ văn mang lại là năng lực đọc hiểu, tiếp nhận, cảm thụ, phân tích vàđánh giá các giá trị văn học, thông qua đó mà phát triển cảm xúc thẩm mỹ,tâm hồn, tình cảm, nhân cách (năng lực thẩm mỹ- nhân văn)…Như vậy, cầndạy cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em dần dần có thể tự đọc

và học suốt đời; không chỉ chú ý dạy nội dung một số tác phẩm cụ thể, học tácphẩm nào chỉ biết tác phẩm ấy

Để khảo sát thực trạng đọc hiểu văn bản nghị luận chúng tôi sẽ tậptrung nghiên cứu về năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận và phương pháp pháttriển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT hiện nay

1.4.1.Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng

1.4.1.1 Mục đích khảo sát

- Đánh giá thực trạng năng lực đọc hiểu văn bản nghị của học sinh lớp

12 ở trung học phổ thông hiện nay

- Đánh giá thực trạng dạy học phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghịluận cho học sinh lớp 12 ở Trung học phổ thông hiện nay

1.4.1.2 Nội dung khảo sát

- Kĩ năng, kết quả đọc hiểu văn bản nghị luận một cách độc lập, sáng tạocủa học sinh lớp 12;

- Nhận thức, phương pháp, biện pháp dạy học của giáo viên nhằm pháttriển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12

Trang 39

1.4.1.3 Đối tượng khảo sát và địa bàn khảo sát

Nhằm đánh giá được thực trạng năng lực và phát triển năng lực đọc hiểuvăn bản nghị luận của học sinh lớp 12 trong trường THPT chúng tôi tập trungvào đối tượng khảo sát là: 10 giáo viên Ngữ văn, 200 học sinh lớp 12 (12C4,12C5, 12H, 12G) của trường THPT Nguyễn Hoàng và trường THPT HàTrung thuộc huyện Hà Trung – tỉnh Thanh Hóa

1.4.1.4 Phương pháp khảo sát

- Cho HS làm một bài kiểm tra đọc hiểu một văn bản hoặc đoạn VBnghị luận mới để đánh gía khả năng đọc hiểu văn bản nghị luận hiện tại củacác em

- Dùng phiếu điểu tra khảo sát, phỏng vấn, dự giờ để nắm bắt thực trạngdạy học phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ởtrung học phổ thông hiện nay

1.4.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng

Qua quá trình khảo sát chúng tôi đã có kết quả và đánh giá về năng lựcđọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 12 trường THPT như sau:

1.4.2.1 Thực trạng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT

Trước khi đọc hiểu văn bản ở trên lớp, chúng tôi cho học sinh 2 trườnglàm 1 bài kiểm tra với yêu cầu: “ Em hãy đọc hiểu văn bản “Thông điệp nhânNgày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 – Cô-phi An-nan” ” kết quảnhư sau:

Về xác định thể loại văn bản, hầu hết các em (72%) đều trả lời đúng đây

là thể loại văn bản nghị luận về vấn đề xã hội (144/200 học sinh); 28% (56HS) xác định sai thể loại Như vậy, qua kết quả trên, chúng tôi nhận thấy các

em học sinh đã bước đầu xác định đúng được thể loại văn bản nghị luận

Trang 40

Về yêu cầu xác định luận đề và tóm tắt văn bản trên, kết quả cho thấy có

108 em học sinh (chiếm 54%) trên tổng số 200 em học sinh xác định đúng, sốcòn lại xác định sai luận đề và chưa tóm tắt đầy đủ nội dung của bài văn nghinnghị trên như đa số tóm tắt chưa hợp lí, bỏ sót luận điểm, luận cứ, ý quantrọng

Về việc xác định các luận điểm, luận cứ, hầu hết học sinh vẫn chưa đạtyêu cầu Chỉ có 102 em học sinh nêu được luận điểm và luận cứ hoặc ý chínhcủa văn bản tuy chưa thật trúng 98 em học sinh còn lại chưa nêu được luận

cứ, luận điểm bị sai lệch Điều này cho thấy không ít học sinh chưa đọc hiểuđược văn bản và đang gặp khó khăn trong việc phân tích, hiểu thể loại văn bảnnghị luận Việc này cũng dẫn đến kết quả khái quát hệ thống luận điểm củahọc sinh chỉ đạt ở mức trung bình

Khi yêu cầu HS chỉ ra những bình luận, khẳng định hay bác bỏ vấn đề

về việc phòng chống HIV/ AIDS, 75% học sinh không có ý kiến, quan điểmriêng, còn lại tuy đưa ra được bình luận nhưng chưa thực sự thuyết phục, chưathật sự hiểu được vấn đề văn bản nêu ra; lập luận hoặc nông cạn hoặc thiếuchặt chẽ

Ngoài bài kiểm tra, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát các bài kiểmtra về văn nghị luận thường kì, cuối kì, cuối năm của học sinh Chúng tôi ýthức rằng, các bài kiểm tra 2 tiết thường kì, cuối kì của học sinh cũng là một

cơ sở đánh giá hiệu quả học đọc hiểu VBNL của học sinh Dựa theo sự phânloại mức độ tư duy của giáo sư Anthony Nikko, chúng tôi phân loại bài kiểmtra đạt yêu cầu (từ thang điểm 5 – 10 điểm) thành 4 mức độ sau: Mức độ nhậnbiết vấn đề, mức độ thông hiểu vấn đề, mức độ vận dụng thấp, mức độ vậndụng cao

Ngày đăng: 08/03/2022, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết (2012), Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy họctiếng Việt nhìn từ tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
9. Compagnon (2006), Bản mệnh của lí thuyết, văn chương và cảm nghĩ thông thường, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ản mệnh của lí thuyết, văn chương và cảm nghĩthông thường
Tác giả: Compagnon
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
16. Đinh Trí Dũng (2007), “Nắm vững quan điểm thể loại trong dạy học Ngữ văn theo chương trình mới ở trường THPT”, in trong Kỉ yếu hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm vững quan điểm thể loại trong dạy họcNgữ văn theo chương trình mới ở trường THPT
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
17. Phan Huy Dũng (2007), “Về vai trò người tham dự - chia sẻ của người GV trong giờ dạy đọc văn”, in trong Kỉ yếu hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò người tham dự - chia sẻ của ngườiGV trong giờ dạy đọc văn
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
25. Nguyễn Thị Hạnh, “Kinh nghiệm thử nghiệm và đánh giá CT, SGK phổ thông ở Mĩ và Hàn Quốc”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 84/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thử nghiệm và đánh giá CT, SGKphổ thông ở Mĩ và Hàn Quốc
26. Nguyễn Thị Hạnh, “Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học giáo dục Đại học sư phạm TP HCM, số 56/ 3/ 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữvăn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam
30. Nguyễn Thái Hòa, “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu”, Tạp chí Thông tin khoa học sư phạm, số 8/ 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu
33. Nguyễn Trọng Hoàn, “Đọc hiểu văn bản ngữ văn ở trường THPT”, Tạp chí Giáo dục số 143/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đọc hiểu văn bản ngữ văn ở trường THPT”
41. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trongnhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
69. Nguyễn Thị Lan (2013), “Tìm hiểu cấu trúc, nội dung của SGK Ngữ văn trung học Trung Quốc”, Tạp chí Khoa học giáo dục, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu cấu trúc, nội dung của SGK Ngữvăn trung học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2013
79. Phan Trọng Luận (2009), Văn học nhà trương, nhận diện, tiếp cận, đổi mới, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhà trương, nhận diện, tiếp cận, đổimới
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
85. Lê Thị Phúc, (2015) “ Phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 12 qua dạy học đoạn trích "Đất nước", Luận văn thạc sĩ sư phạm văn, Trường ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 12qua dạy học đoạn trích "Đất nước
87.Nguyễn Thị Hồng Vân, “Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn THCS theo hướng tiếp cận năng lực”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 65/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn THCStheo hướng tiếp cận năng lực
88. Nguyễn Thị Hồng Vân (2013), “Phát triển CTGDPT môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận năng lực”. In trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam. NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển CTGDPT môn Ngữ văntheo hướng tiếp cận năng lực
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB Đại học sưphạm
Năm: 2013
4. Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết(1992) Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp hai ,Tạp chí KHGD, số 23/1992 Khác
5. Hoàng Hòa Bình (2013), Từ đổi mới mục tiêu GD đến đổi mới PPDH Ngữ văn. In trong Kỉ yếu hội thảo Antoine khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường PT Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Khác
6. Hoàng Hòa Bình (Chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Hiền Lương, Vũ Nho, Nguyễn Thị Phương Thảo, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Hồng Vân (2014), Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Khác
7. Hoàng Hòa Bình, Năng lực và cấu trúc của năng lực, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 117, tháng 6 năm 2015.\ Khác
8. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay - cái đẹp, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
10.Nguyễn Sĩ Cẩn (1983), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy văn học cổ Việt nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng thống kê đánh giá mức độ đọc hiểu văn bản nghị luận - LV Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 ở nhà trường THPT
Bảng 2 Bảng thống kê đánh giá mức độ đọc hiểu văn bản nghị luận (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w