Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020 Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của việt nam trong giai đoạn 2016 2020
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016-2020.
Nhóm 13 Trương Quý Thanh Bình Nguyễn Ngọc Hà Ngô Hà My Hoàng Xuân Trường
PHẦN MỞ ĐẦU (GIỮ NGUYÊN KHÔNG ĐỔI GÌ)
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ nước ngoài là nguồn lực tài chính từ nước ngoài nhằm bổ sung cho sựthiếu hụt về vốn đầu tư trong nước Nợ nước ngoài được xem là một yếu tố quantrọng và cần thiết cho quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của cácnước đang phát triển, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mà xu hướng mở cửahòa nhập nền kinh tế đã trở thành phổ biến
Tuy nhiên, việc quản lý nợ không hiệu quả có thể đưa một nước lâm vào tìnhtrạng khó khăn về tài chính, thậm chí có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ.Việc giám sát quá trình vay và trả nợ nước ngoài không chặt chẽ có thể dẫn tới sựmất cân đối nghiêm trọng cho nền tài chính quốc gia Việc sử dụng nguồn vốn vaynước ngoài kém hiệu quả, sai mục tiêu và sự trì trệ trong thay đổi chính sách đểthích nghi với bối cảnh quốc tế có thể khiến các nước vay nợ có nguy cơ trở thànhnhững nước mắc nợ trầm trọng Chính vì vậy, quản lý nợ nước ngoài như thế nàocho hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp bách trong phát triển kinh tế củamỗi quốc gia
Vấn đề vay và trả nợ ở Việt Nam mới thực sự nổi lên như một vấn đề quantrọng kể từ khi có sự nối lại các hoạt động cho vay với các tổ chức tài chính đaphương Những khoản vay nợ nước ngoài ngày càng tăng về món vay, doanh sốvay, tính đa dạng của các hình thức vay và trả nợ Theo dữ liệu của Bộ Tài chính,từ năm 2006 đến năm 2011, nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam tăng nhanh,từ 31,4% lên 41,5% Cơ cấu nợ của Việt Nam chủ yếu là nợ vay dài hạn với lãisuất ưu đãi Điều kiện vay nợ ngày càng ngặt nghèo hơn, lãi suất vay đã tăng từ
Trang 2của Việt Nam còn thấp Hệ số ICOR của Việt Nam tăng liên tục qua các thời kỳ,tăng từ 4,7 lần (thời kỳ 1996-2000), lên tới 5,2 lần (thời kỳ 2001-2005) và lên tới6,2 lần (thời kỳ 2006-2010), chứng tỏ hiệu quả đầu tư không những thấp mà còn bisụt giảm Khả năng trả nợ càng ngày càng khó khăn, năm 2010, Việt Nam phải trảcác chủ nợ nước ngoài là 1,67 tỷ USD (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD),tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009 Tính đến năm 2020, tổngsố tiền phải trả là 2,4 tỷ USD.
Tuy nhiên, kể từ khi Luật Quản lý nợ công năm 2009 được ban hành và đếnnăm 2017 Luật Quản lý nợ công được sửa đổi đã nâng cao hiệu quả quản lý nợcông Nhờ đó, nợ nước ngoài của quốc gia trong 5 năm qua không quá 50% GDP,nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia dưới 25% tổng kim ngạch xuất khẩu hànghóa, dich vụ Cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ giảm dần, từ 59,7% năm
2010 xuống còn 35,3% trong năm 2020
Nợ vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh cũng đang có xu hướng giảmdần, từ 10,5% năm 2010 xuống 6% năm 2020 Nợ nước ngoài của khu vực công(nợ Chính phủ và Chính phủ bảo lãnh) được kiểm soát chặt chẽ Tỷ trọng nợ nướcngoài của khu vực công có xu hướng giảm nhanh trong cơ cấu nợ nước ngoài củaquốc gia, từ 73,6% năm 2010 xuống mức 63,4% năm 2015 và 43,7% năm 2020.Tốc độ tăng dư nợ nước ngoài của khu công cũng được kiểm soát chặt chẽ, từ mứctrung bình 13%/năm giai đoạn 2011-2015 giảm xuống còn khoảng 3%/năm giaiđoạn 2016-2020, góp phần bồi đắp dư đia chính sách, kiềm chế nghĩa vụ nợ trựctiếp và dự phòng của ngân sách nhà nước
Theo các chuyên gia Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới, ViệtNam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, các thành phần kinh tế, baogồm cả Chính phủ lẫn khu vực tư nhân, đã có khả năng tiếp cận vay nước ngoàitheo điều kiện thi trường nhưng cũng đặt ra những vấn đề mới cho công tác quảnlý và sử dụng nguồn vốn đó một cách hiệu quả Từ những yếu tố trên, nhóm nghiêncứu nhận thấy việc tìm hiểu “Thực trạng và những đánh giá về công tác quản lý nợnước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020” là rất cần thiết Bài nghiêncứu sẽ chỉ ra hiệu quả của những thay đổi trong việc cải cách quản lý cơ chế nợnước ngoài 5 năm qua, qua đó đinh hướng cho cải cách cơ chế hiện hành và thaythế trong bối cảnh tự do hóa các biện pháp kiểm soát các loại hình dòng vốn khác,khắc phục những tồn đọng trong công tác quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
2 Tổng quan tài liệu
Trang 3a Tổng quan trong nước
Quản lý hiệu quả nợ nước ngoài luôn là một trong những vấn đề cấp thiếtcủa Chính phủ Việt Nam tại mọi giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế Hạ
Thi Thiều Dao trong “Nâng cao hiệu quả quản lí nợ nước ngoài trong quá trình
phát triển kinh tế tại Việt Nam” (2006) cho rằng quản lí nợ nước ngoài bao gồm hai
khía cạnh là kinh tế và thể chế Khía cạnh kinh tế tập trung vào đinh mức nợ nướcngoài và đảm bảo các điều khoản vay mượn sao cho phù hợp với khả năng trả nợtrong tương lai Khía cạnh thể chế bao gồm cơ cấu tổ chức, môi trường pháp lí vàchức năng nhiệm vụ
Ở một góc nhìn tổng quan, tác giả Nguyễn Thi Thanh Hương ở bài viết
“Tăng cường quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam” (2007) đề cập một cách khái quát
về thực trạng nợ nước ngoài, cách quản lý nợ nước ngoài đồng thời cũng đưa ranhững đề xuất trong việc tăng cường quản lý nợ một cách có hiệu quả của ViệtNam trong giai đoạn những năm trước 2010
Tác giả Trần Thi Kim Chi trong bài nghiên cứu “Quản lý nợ vay nước ngoài
tại Việt Nam” (2008) chỉ ra rằng vốn nước ngoài là một nhân tố cực kỳ quan trọng
và cần thiết cho quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ở bất kỳ một nướchay một nền kinh tế đang phát triển nào, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khimà xu hướng mở cửa hòa nhập đã trở thành phổ biến Từ đó, bài nghiên cứu đã chỉ
ra những nhận thức đúng đắn vai trò vay và trả nợ như thế nào để vừa khai thácnguồn vốn vay nước ngoài sao cho hiệu quả để biến việc vay mượn thành một đònbẩy phát triển kinh tế vừa không làm gia tăng những nguy cơ đối với an ninh tàichính và không phụ thuộc vào những can thiệp về kinh tế và chính tri từ nướcngoài không phải dễ dàng giải quyết đối với Việt nam hiện nay
Từ năm 2010, Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp và nguồnvốn trở nên ít ưu đãi hơn khi Việt Nam tốt nghiệp vốn viện trợ chính thức của Hiệphội phát triển quốc tế - IDA (2017) và của Quỹ phát triển châu Á - ADF (2019).Điều này đã đặt ra một thách thức mới cho Chính phủ Việt Nam trong việc bảođảm nguồn vốn nước ngoài cho quốc gia cũng như quản lý dòng vốn đang có sựsuy giảm một cách hiệu quả hơn Tác giả Nguyễn Thanh Tùng trong bài viết
“Quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam” (2010) đã phân tích các công cụ quản lý nợ
của Chính phủ thông qua hai khía cạnh chính: Khung thể chế và Khía cạnh kinh tế.Bên cạnh đó, xuất phát từ tình hình thực tế của quốc gia, tác giả đề ra những kiếnnghi trong nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ nước ngoài, tập trung trong
Trang 4xây dựng thể chế và cơ chế quản lý hữu hiệu; đồng thời vẫn cần duy trì hoạt độnghuy động nguồn vốn này sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Trong bài nghiên cứu “Hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam”
(2014), tác giả Nguyễn Thi Thùy Dung đã đánh giá về sự hiệu quả của công tácquản lý nợ nước ngoài ở giai đoạn 2000-2013 từ các tiêu chính đánh giá mức độ antoàn nợ của IMF và WB; từ đó đề xuất mô hình quản lý nợ trong giai đoạn mới choViệt Nam Đặc biệt, tác giả còn đề cập đến các mô hình quản lý nợ nước ngoài củacác quốc gia trong khu vực, thông qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho thực trạnghiện nay của nước ta
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng, “Việt Nam giai đoạn trước năm 2012”
(2012) đã khái quát các quy đinh về nợ công nói chung và quản lý nợ nước ngoàinói riêng của Việt Nam Đánh giá cho thấy sự bất cập trong việc thực thi, triển khaicác văn bản pháp luật về lĩnh vực này Từ đó đưa ra các đề xuất nhằm quản lý nợnước ngoài về phương diện văn bản pháp qui
Theo tác giả Vũ Thi Thu Hải trong bài viết “Quản lý nợ nước ngoài ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay” (2015), bên cạnh các giải pháp sử dụng vốn vay
cho Chính phủ, tác giả còn chú trọng kiến nghi các biện pháp đảm bảo khả năngtiếp nhận nợ nước ngoài ổn đinh bền vững cũng nhưng các biện pháp làm giảm chiphí vay nợ thông qua chính sách tỷ giá hối đoái và ổn đinh lạm phát Những chínhsách là một trong những tiền đề nhằm giảm bớt gánh nặng và giúp cho công tácquản lý, sử dụng vốn vay nước ngoài của Việt Nam có hiệu quả hơn
b Tổng quan nước ngoài
Michael P Dooley, “Debt management and crisis in developing countries”
(2000) cho biết chính sách quản lý nợ của chính phủ ở các quốc gia đang phát triểnphải cân bằng được các mục tiêu mâu thuẫn nhau Bài nghiên cứu đã chỉ ra một vàichính sách quản lý nợ tiêu biểu của một số quốc gia đang phát triển trên thế giớicùng với đó là đưa ra các nhân tố làm tăng rủi ro vỡ nợ
Daud “Malaysia in the period from 1996Q1 to 2011Q4” (2016) đã nghiên
cứu tác động của nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế Malaysia trong giai đoạn19961-20114 bằng mô hình ARDL Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệphi tuyến tính trong dài hạn giữa nợ chính phủ và tăng trưởng kinh tế với ngưỡngnợ được tính toán là khoảng 362.386 triệu RM (đồng tiền Malaysia), trong khi nợChính phủ đã là 456.128 triệu RM Do đó, nghiên cứu chỉ ra là nợ chính phủ tácđộng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của Malaysia trong giai đoạn nghiên cứu
Trang 5Các nghiên cứu của Frimpong và Abayi, “Ghana in the period 1970-1999” (2006), Daud và cộng sự, “Malaysia period 1991-2009, quarterly data” (2013); Korkmaz, “Turkey, 1st quarter 2003 to 3rd quarter 2014” (2016) cho thấy các
quốc gia vay nợ sử dụng hiệu quả vốn vay nước ngoài sẽ tạo động lực cho tăngtrưởng kinh tế cũng như tạo dòng tiền tốt để thanh toán nợ vay trong tương lai Vìvậy, các quốc gia nhỏ có tỷ lệ nợ nước ngoài cao đã trở thành đối tượng nghiên cứuvề tác động tích cực của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Namtrong giai đoạn 2016-2020, từ đó đưa ra đánh giá về những thành tựu đã đạt đượcvà chỉ ra nguyên nhân của những tồn đọng trong công tác quản lý Trong tình hìnhmới, nhóm nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vàsử dụng nợ nước ngoài
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác quản lý nợ nước ngoài nóichung và ở Việt Nam nói riêng
Phân tích thực trạng công tác quản lý nợ công của Việt Nam trong giai đoạn2016-2020
Đánh giá hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn2016-2020
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nợ nước ngoàicủa Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nợ nước ngoài
- Phạm vi nghiên cứu:
Việt Nam
Giai đoạn: 2016 - 2020
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu
Bài nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp:
Dữ liệu: Quy mô nợ nước ngoài bao gồm: nợ ngắn hạn, nợ trung và dài hạn, nợ củakhu vực công, nợ của khu vực tư nhân; quy mô trả nợ; trái phiếu chính phủ
Nguồn dữ liệu: Niên giám thống kê, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB); Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) Các trang web như Google, Proquest, Sciendirect ; bộ số liệu của cácnghiên cứu trước có liên quan đến đề tài; các văn bản pháp luật có liên quan đếnquản lý nợ nước ngoài như Nghi đinh, Thông tư, Quyết đinh của Chính Phủ vàcác cơ quản có liên quan đến quản lý nợ nước ngoài
Phương pháp so sánh: So sánh theo chuỗi thời gian để đánh giá được những
bước cải thiện trong quản lý nợ nước ngoài
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Thực trạng công tác quản lý nợ công của Việt Nam trong giai đoạn
2016-2020 như thế nào?
Công tác quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 đãhiệu quả chưa?
Những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn đọng là gì?
Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nợ nước ngoài của ViệtNam trong thời gian tới?
7 Khoảng trống nghiên cứu:
Các nghiên cứu trước đó đều chỉ phân tích đến công tác quản lý nợ nướcngoài của Việt Nam trong các giai đoạn trước, chưa có đề tài nào nghiên cứu vềhiệu quả của công tác này trong giai đoạn 2016-2020 Vì vậy, các giải pháp đượckiến nghi trong những nghiên cứu này đều chưa có tính cập nhật để phù hợp vớitình hình kinh tế của nước ta trong giai đoạn mới
8 Kết cấu bài nghiên cứu
Trang 7Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nợ nước ngoài
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn2016-2020
Chương 3: Đánh giá tình hình công tác quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam tronggiai đoạn 2016-2020
Chương 4: Đề xuất đinh hướng nâng cao công tác quản lý nợ nước ngoài của ViệtNam trong tương lai
Chương 1: Cơ sở lí luận về công tác quản lý nợ nước ngoài (GIỮ NGUYÊN KHÔNG ĐỔI GÌ)
1.1 Tổng quan về nợ nước ngoài
1.1.1 Định nghĩa
Đinh nghĩa nợ nước ngoài theo Quy chế quản lí vay và trả nợ nước ngoàitương đồng với đinh nghĩa chuẩn quốc tế về nợ nước ngoài Ban hành kèm nghiđinh số 90/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ thì “vay nợ nước ngoài làkhoản vay ngắn, trung và dài hạn (có hoặc không có lãi) do Nhà nước Việt Nam,Chính phủ Việt Nam hoặc doanh nghiệp là pháp nhân Việt Nam (kể cả doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vay của tổ chức tài chính quốc tế, của Chínhphủ, của ngân hàng nước ngoài hoặc của tổ chức và cá nhân nước ngoài khác”.Như vậy, có thể hiểu nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả cácpháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các cá nhân vàhộ gia đình
Trong cuốn “Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng” donhóm công tác liên ngành của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) có viết: “Tổng nợ nướcngoài, tại bất kì thời điểm nào, là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế,không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc hoặc lãi tại mộtsố thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượngkhông cư trú trong quốc gia”
Đinh nghĩa quốc tế về nợ nước ngoài bao hàm từ nợ nước ngoài của khu vựccông, nợ nước ngoài của khu vực tư nhân có sự bảo lãnh của nhà nước và nợ nướcngoài của khu vực tư nhân không được bảo lãnh Khái niệm nợ nước ngoài về cơ
Trang 8bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với hệ thống thống kê tài khoản quốc gia(SNA).
1.1.2 Phân loại nợ nước ngoài
Phân loại các khoản nợ vay nước ngoài chủ yếu căn cứ vào các tiêu chí khácnhau giúp cho công tác theo dõi, đánh giá và quản lí nợ có hiệu quả Cách phânloại chủ yếu kết nối với nợ ngoài của một quốc gua là phân loại theo phạm vi pháthành
a Phân loại theo lãi suất cho vay
Vay với lãi suất cố đinh
Vay với lãi cố đinh là các khoản vay mà hàng năm người nợ phải trả cho chủnợ một số tiền lãi bảng số dư nợ nhân với lãi suất cố đinh được quy đinh trong hợpđồng
Vay với lãi suất thả nổi
Lãi suất thả nổi là khoản vay được tính căn cứ vào một loại lãi suất nhấtđinh biến động hàng ngày trên thi trường tự do
Vay với lãi suất dùng làm cơ sở tham chiếu (LIBOR)
Vay với lãi suất LIBOR là các khoản vay mà người nợ phải trả một khoảntiền lãi căn cứ theo lãi suất LIBOR và cộng thêm một khoản phụ phí từ 0,5% đến3% do các ngân hàng cho vay xác đinh
b Phân loại theo thời hạn vay
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống Thờigian đáo hạ ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường khôngthuộc đối tượng quản lí một cách chặt chẽ như nợ dài hạn Tuy nhiên nếu ngắn hạnkhông trả được sẽ gây mất ổn đinh cho hệ thống ngân hàng Đặc biệt, khi tỉ trọngnợ ngắn hạn trong tổng nợ có xu hướng tăng phát hết sức cẩn thận vì luồng vốn rút
ra đột ngột có thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia
Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặcđã gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày kí kết vay nợ cho tới ngày đến hạn
Trang 9khoản thanh toán cuối cùng Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lí nhiềuhơn do khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.
c Phân loại theo hình thức vay
Vay ưu đãi
Vay ưu đãi là các khoản vay chủ yếu là do Chính phủ các nước phát triểncho Chính phủ các nước đang phát triển vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất,thời hạn thanh toán, thời hạn ân hạn (khoảng thời gian từ khi kí hiệp đinh vay vốnđến lần đầu tiên phải trả vốn gốc) và phương thức thanh toán
Vay thương mại
Khác với vay ưu đãi, vay thương mại không có ưu đãi về cả lãi suất lẫn thờigian ân hạn Lãi suất vay thương mại là lãi suất thi trường tài chính quốc tế vàthường thay đổi theo lãi suất thi trường Chính vì vậy, vay thương mại thường cógiá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thương mại của Chính phủ phảiđược cân nhắc hết sức cẩn trọng và chỉ quyết đinh vay khi không còn cách nàokhác
1.1.3 Vai trò của nợ nước ngoài
Nguồn vốn vay từ nước ngoài chiếm vai trò quan trọng trong sự phát triểnkinh tế xã hội của mỗi quốc gia, vai trò của nó được thể hiện qua nhiều đặc điểm
Đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, vay nợ nước ngoài là nguồn tài trợđầu tư bổ sung phổ biến của các nước có nền kinh tế thi trường đang phát triểnluôn trong tình trạng thiếu vốn Với việc đi vay nợ nước ngoài, quốc gia đó có cơhội đầu tư phát triển ở mức cao hơn Như vậy, đối với các quốc gia đang phát triểnviệc sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài về bản chất là vấn đề cân đối giữa tiêudùng trong hiện tại và tương lai
Góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lí
Thông qua việc vay vốn nước ngoài, mỗi quốc gia sẽ góp phần bổ sung thêmnguồn vốn về nhập khẩu máy móc, thiết bi hiện đại cùng kĩ thuật tiên tiến từ nướcngoài Các dự án đầu tư đã góp phần hiện đại hoá nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy
Trang 10các ngành, lĩnh vực khác chuyển đổi theo tạo ra một lực lượng lao động mới vàgóp phần thúc đẩy hiệu quả của cả nền kinh tế.
Ổn định tiêu dùng trong nước
Khi những cơn sốc đột ngột giáng vào nền kinh tế thì sản lượng bi thiếu hụtnặng nề và tiêu dùng trong nước bi ảnh hưởng nghiêm trọng Trong trường hợp cócác cuộc khủng hoảng tài chính hoặc thiên tai bất ngờ làm ảnh hưởng đến nền sảnxuất, kinh tế của mỗi quốc gia thì bên cạnh các khoản viện trợ quốc tế thì vay nợnước ngoài đóng vai trò là biện pháp góp phần ổn đinh tiêu dùng trong nước ngắnhạn, giúp nền kinh tế phục hồi
1.2 Quản lý nợ nước ngoài
Xét theo nghĩa hẹp, quản lí nợ bao gồm việc khống chế mức gia tăng nợtrong quan hệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu của đấtnước Cụ thể hơn là giảm mức nợ gốc, nợ lãi phải trả cho tương xứng khả năngkinh tế của nước vay nợ và tránh nợ chồng chất vượt quá mức vay nợ thận trọngcủa một quốc gia, đảm bảo khả năng thanh toán của quốc gia đó
Xét theo nghĩa rộng, quản lí nợ nước ngoài bao hàm trong nó hệ thống điềuhành vĩ mô sao cho vốn nước ngoài được sử dụng có hiệu qủa và không gia tăngđến mức vượt quá khả năng thanh toán để không tích luỹ nợ Hay nói cách khác,quản lí nợ là bảo đảm một cơ cấu vốn vay thích hợp với các yêu cầu phát triển kinhtế, thực hiện phân bố vốn một cách hợp lí và kiểm soát động thái nợ và sự vậnhành vốn vay
Như vậy, quản lí nợ nước ngoài không tách rời khỏi quản lí chính sách vĩ môvới quản lí ngân sách nhà nước, dữ trữ quốc tế và cán cân thanh toán Quản lí nợnước ngoài hiệu quả đòi hỏi cả chính sách tốt và thể chế mạnh nhằm điều hành vàphối hợp các hoạt động vay mượn Quản lí nợ nước ngoài không đơn thuần là vayvà trả mà phải là vay và trả sao cho đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế,duy trì ổn đinh trong phát triển kinh tế và tương xứng với khả năng thanh toán củanền kinh tế
1.2.1 Nội dung quản lí nợ nước ngoài
Quản lí nợ nước ngoài bao gồm khía cạnh về thể chế và kinh tế Quản lí vềmặt thể chế liên quan đến khía cạnh luật pháp, sắp xếp thể chế, chức năng nhiệmvụ mà cơ quan quản lí nợ phải đảm nhiệm Còn quản lí về mặt kinh tế tập trung
Trang 11vào đinh mức nợ nước ngoài cần thiết và đảm bảo các điều khoản và điều kiện vaymượn sao cho phù hợp với khả năng trả nợ trong tương lai.
Quản lí về mặt thể chế
Môi trường pháp lí như hiến pháp, các đạo luật trực tiếp điều chỉnh quan hệvay và trả nợ nước ngoài và các luật có liên quan, các văn bản dưới luật hướng dẫnthi hành…
Cơ cấu tổ chức là điều kiện tiên quyết để quản lí có hiệu quả, phải đảm bảothực hiện một số chức năng nhất đinh như chức năng hoạch đinh chiến lược, chứcnăng kiểm soát, chức năng thống kê…
Quản lí về mặt kinh tế
Khâu vay vốn liên quan đến việc dự đoán các hoạt động kinh tế thể hiệntrong các giao dich của cán cân thanh toán, thu chi ngân sách và tiết kiệm, đầu tư.Ngoài ra, nhu cầu vay mượn cần phải được xây dựng dựa trên khả năng trả nợtrong tương lai
Khâu sử dụng vốn vay đảm bảo tập trung nguồn vốn này vào những khu vựcthực sự cần vốn, những khu vực vó khả năng đem lại hiệu quả cao Ngay từ khitiếp nhận dự án sử dụng vốn, cơ quan thẩm đinh cần phải xem xét tính khả thi vàkhả năng hoàn vốn của dự án
Khâu trả nợ nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ từ đó xâydựng và củng cố uy tín của bên đi vay đối với các chủ nợ, đồng thời kiểm soátđược luồng ra của các khoản thanh toán nợ để tránh những biến động bất lợi đốivới kinh tế trong nước Trong trường hợp gặp khó khăn trả nợ thì biện pháp cầnthiết là thương lượng lại nợ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí nợ nước ngoài
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lí nợ nước ngoài của mộtquốc gia, có những nhân tố bên trong nền kinh tế và cũng có những nhân tố bênngoài Các nhân tố này có thể có những ảnh hưởng thuận lợi, cũng có thể có nhữngảnh hưởng bất lợi đến công tác quản lí nợ
Môi trường pháp lí
Trang 12Một môi trường kinh tế vĩ mô ổn đinh và cơ sở pháp lí rõ ràng là nhân tốquan trọng trong việc thu hút nguồn vốn tài trợ và đầu tư nước ngoài Một chínhsách kinh tế mở tạo điều kiện cho cầu về nguồn vốn trong nước có cơ hội gặp cungvề vốn trên thi trường quốc tế Các nhà kinh tế đã rút ra kết luận là vay nợ, viện trợchỉ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế đối với các nền kinh tế có môitrường chính sách vĩ mô tốt Các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp tạo điều kiệnthuận lợi cho việc thực thi các chính sách quản lí nợ nước ngoài có hiệu quả Chínhsách tỉ giá và lãi suất hợp lí có thể góp phần giảm thiểu hoặc tránh được các nguycơ khủng hoảng tài chính.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là điều kiện tiên quyết để quản lí có hiệu quả, phải đảm bảothực hiện một số chức năng nhất đinh như chức năng hoạch đinh chiến lược, chứcnăng kiểm soát, chức năng thống kê,
Chính sách vĩ mô
Cán cân thương mại và lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp tới quản lí nợ nướcngoài Khi nợ tồn trở nên tương đối lớn so với GDP thì tăng trưởng của nợ nướcngoài phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất Việc thay đổi lãi suất trên thi trường tàichính quốc tế cũng tác động trực tiếp đến quản lí nợ nước ngoài
Tỷ giá hối đoái có thể có tác động làm tăng hoặc giảm gía tri các khoản nợ.Nếu đồng tiền vay có xu hướng tăng giá liên tục, gánh nặng nợ cũng sẽ có xuhướng tăng liên tục Tương tự, nếu đồng nội tệ mất giá so với đồng tiền vay thìgánh nặng nợ cũng bi trầm trọng thêm
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2016-2020
2.1 Tổng quan về vay nợ nước ngoài của Việt Nam
2.1.1 Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam
Là một quốc gia đang trên đà phát triển với mục tiêu “cơ bản trở thành nướccông nghiệp” với “thu nhập trung bình cao”, Việt Nam luôn cần nguồn vốn lớn chocác hoạt động nâng cấp cơ sở hạ tầng và hiện đại hóa nền kinh tế Tuy nhiên thựctế cho thế, với tiền đề tỷ lệ thu nhập, tiết kiệm và dự trữ ngoại hối thấp cùng thâmhụt ngân sách cao dẫn tới tình trạng Việt Nam không có đủ nguồn lực để thực hiện
Trang 13các mục tiêu kinh tế này Từ đó, các khoản vay nợ đến từ nước ngoài cho quốc giatrở thành một trong số những nguồn cung vốn đầy tiềm năng cho quá trình thúcđẩy nền kinh tế, trong đó chủ yếu được phân thành nợ nước ngoài của Chính phủvà nợ nước ngoài của khu vực tư nhân:
2.1.1.1 Nợ nước ngoài của Chính phủ
a Khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Tính đến năm 2019, Việt Nam đã tiếp nhận trên 85 tỷ USD vốn ODA và vốnvay ưu đãi Trong đó, 7 tỷ USD là vốn viện trợ không hoàn lại (chiếm 8% tổng vốnODA và vốn vay ưu đãi), trên 70 tỷ USD là vốn vay với lãi suất dưới 2% (tươngđương 90% tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi) và 1,7 tỷ USD vốn vay kém ưu đãinhưng lãi suất vẫn thấp hơn vốn vay thương mại (chiếm 2%) Lượng giải ngân đạtgần 65 tỷ USD Tính riêng trong giai đoạn 2016-2020, huy động vốn ODA và vốnvay ưu đãi đạt 12,553 tỷ USD, trong đó vốn vay là 12,04 tỷ USD (vay ODA: 9,169tỷ USD, vay ưu đãi: 2,871 tỷ USD), viện trợ không hoàn lại là 513 triệu USD
Việt Nam đã huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ 51 nhà tài trợ, gồm 28nhà tài trợ song phương và 31 nhà tài trợ đa phương Trong đó, khoảng 80% nguồnvốn ODA của Việt Nam được huy động từ 6 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Thế giới(WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản(JICA), Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM), Cơ quan phát triển Pháp(AFD) và Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW)
Hình 1: Thu hút vốn ODA lũy kế hàng năm
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 14Cơ cấu vốn ODA được huy động chủ yếu vào các ngành giao thông vận tải,môi trường và phát triển đô thi, năng lượng và công nghiệp, nông nghiệp và pháttriển nông thôn, xóa đói giảm nghèo
Hình 2: Cơ cấu vốn ODA huy động trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, dòng vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng giảm đáng kể (đặcbiệt khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010) và trởnên ít ưu đãi hơn khi Việt Nam “tốt nghiệp” vốn viện trợ chính thức của Hiệp hộiphát triển quốc tế - IDA (2017) và của Quỹ phát triển châu Á - ADF (2019) Đồngthời, đóng góp của ODA trong tổng đầu tư phát triển cũng như đầu tư từ ngân sáchnhà nước cũng trong xu hướng giảm Tỷ lệ vốn ODA/GDP giảm một nửa từ 2,9%trong giai đoạn 2011-2015 còn 1,5% trong giai đoạn 2016-2019 Tương tự, tỷ lệODA/Tổng đầu tư phát triển giảm từ 8,8% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 4,7%giai đoạn 2016-2019 Đóng góp của ODA và vốn vay ưu đãi trong tổng vốn đầu tưtừ ngân sách nhà nước cũng đã giảm từ 38,8% (2011-2015) xuống còn 27,3%(2016-2020)
Tỷ lệ giải ngân thấp và chậm là một hạn chế lớn và cũng là một trong nhữngnguyên nhân làm giảm hiệu quả thu hút và hạn chế dòng ODA vào Việt Nam Tínhđến 2019, tỷ lệ giải ngân lũy kế đạt khoảng 75% tổng vốn ODA và vay ưu đãi đã
Trang 15ký kết với Việt Nam Trong 8 tháng đầu năm 2020, tỉ lệ giải ngân vốn ODA củacác bộ mặc dù đã được cải thiện, ước thực hiện hết tháng 8/2020 là 3.742 tỷ đồng,đạt 21,64% dự toán được giao, cao hơn tỷ lệ giải ngân của cùng kỳ năm 2019, tuynhiên, nếu so với kết quả giải ngân vốn đầu tư trong nước hiện là 40% kế hoạch thì
tỉ lệ giải ngân ODA thấp hơn đáng kể Tính riêng trong giai đoạn 2016-2020, theokế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 2016-2020, vốn vay ODA và vay ưu đãi nướcngoài được điều chỉnh theo Nghi quyết của Quốc hội là 360.000 tỷ đồng Tiến độgiải ngân nguồn vốn ODA chậm không chỉ làm phát sinh chi phí, ảnh hưởng tớiviệc thực hiện dự án, mà có thể dẫn tới tranh chấp hợp đồng với nhà thầu, ảnhhưởng đến uy tín của Việt Nam cũng như quyết đinh đầu tư của các nhà tài trợ
Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA củaChính phủ, các chính sách, thể chế liên quan đã và đang tiếp tục được hoàn thiện
b Vay thương mại qua các hình thức song phương và đa phương
Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn nợ nước ngoài của Việt Nam ở khu vực cônglà nợ phát sinh từ việc vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Nợ thương mạichỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, không đáng kể trong tổng nợ nước ngoài
c Vay từ thị trường vốn quốc tế dưới hình thức phát hành trái phiếu ra nước ngoài
“Trái phiếu Chính phủ” (TPCP) là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hànhnhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình,dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước
Thi trường TPCP đã trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quantrọng cho ngân sách nhà nước, gắn công tác phát hành TPCP với tái cơ cấu nợChính phủ thông qua việc tập trung phát hành các kỳ hạn dài và đa dạng hóa cơ sởnhà đầu tư
Đặc biệt công tác phát hành TPCP đã khẳng đinh được vai trò là công cụ táicơ cấu nợ công, giúp nợ công giảm tỷ trọng vay nước ngoài từ 73,6% năm 2010xuống mức 63,4% năm 2015 và 34,8% năm 2021 Trên thi trường sơ cấp, trongvòng 12 năm, hơn 2,47 triệu tỷ đồng vốn đã được huy động cho Ngân sách nhànước để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế đất nước Con số này tươngứng với mức huy động bình quân năm đạt hơn 206 nghìn tỷ đồng, chiếm xấp xỉ10% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội năm 2020, và 28,3% tổng vốn đầu tư của khuvực Nhà nước năm 2020
Trang 16Bất chấp mặt bằng lãi suất trên thi trường trái phiếu Chính phủ vẫn giảm,trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước bán ra vẫn tăng cao Theo phòng chàogiá của Hiệp hội thi trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), lãi suất giao dich tráiphiếu Chính phủ có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn từ 5 năm trở lên,trong khi chỉ tăng nhẹ ở các kỳ hạn 1 năm, 2 năm và 3 năm.
Từ năm 2005 đến nay, Việt Nam cũng đã có 3 lần phát hành trái phiếu Chínhphủ ra thi trường vốn quốc tế và ghi nhận khá thuận lợi Đặc biệt, các đợt pháthành này cũng giúp các nhà hoạch đinh chiến lược tích lũy kinh nghiệm khi tráiphiếu mới phát hành năm 2014 có lãi suất thấp hơn hẳn so với 2 lần phát hànhtrước Đồng thời, việc hoán đổi trái phiếu đã làm giảm nghĩa vụ trả lãi trái phiếutrong mỗi kỳ trả lãi tương đương hơn 5 triệu USD
2.1.1.2 Vay thương mại nước ngoài của khu vực doanh nghiệp
a Nợ nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh
Năm 2016, Bộ Tài chính chỉ cấp bảo lãnh chính phủ cho 1 dự án vay nướcngoài với tri giá bảo lãnh là 170 triệu USD Năm 2017, không có dự án đầu tư nàođược cấp bảo lãnh chính phủ cho khoản vay mới mặc dù có một số dự án đăng kýtừ năm 2016 đã dự kiến chuyển sang năm 2017 do không thể hoàn thành việc thuxếp vốn với các đối tác nước ngoài (tổng tri giá khoảng 2,8 tỷ USD, hầu hết là cácdự án đầu tư nhà máy nhiệt điện)
Đến năm 2018, Bộ Tài chính đã thẩm đinh và báo cáo Thủ tướng Chính phủquyết đinh cấp bảo lãnh cho 2 dự án đầu tư trong lĩnh vực điện (nhà máy nhiệt điệnVĩnh Tân 4 mở rộng của EVN và Sông Hậu 1 của PVN) vay nước ngoài với tri giálà 1.614 triệu USD Trong năm này, Bộ Tài chính không thực hiện cấp bảo lãnhChính phủ cho các dự án vay vốn trong nước
Năm 2019, Bộ Tài chính không thực hiện thẩm đinh và cấp bảo lãnh chínhphủ cho các khoản vay mới trong và ngoài nước để đầu tư các dự án
Như vậy, việc hạn chế cấp bảo lãnh Chính phủ cho các dự án mới đã dẫn đếntổng dư nợ được Chính phủ bảo lãnh có xu hướng giảm dần qua các năm đến năm2020
b Nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh
Trang 17Trong những năm gần đây, quy mô nợ nước ngoài của quốc gia tăng nhanh,chủ yếu là do nợ nước ngoài của doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụngtheo hình thức tự vay tự trả, tập trung ở một số doanh nghiệp FDI có quy mô lớn -chiếm khoảng 48,4% tổng nợ nước ngoài của quốc gia so với tỷ lệ 25,6% của năm
2011 và 40,4% của năm 2016
Cụ thể, năm 2016 tăng 25,7% so với 2015; năm 2017 tăng 39,6% so với
2016 Điều này dẫn đến việc gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP.Theo đó, chỉ số nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP trong các năm 2015, 2016,
2017 và năm 2018 tương ứng là 42%, 44,8%, 48,9% và 49,7% - áp sát ngưỡng50% GDP được Quốc hội cho phép
Theo Chính phủ, khoản nợ tự vay, tự trả của khối tư nhân tăng nhanh chủyếu là do hoạt động rút vốn và trả nợ gốc các khoản vay nước ngoài ngắn hạn củadoanh nghiệp và tổ chức tín dụng trong thời gian qua tăng mạnh Thực tế, việc giatăng mức vay nước ngoài ngắn hạn của tổ chức tín dụng là nhằm hỗ trợ nguồn vốntín dụng ngắn hạn, điều hòa thanh khoản ngoại tệ trong hệ thống
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng thực hiện hình thức phát hành tráiphiếu nhằm huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Bộ Tài chính cho biết,trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN)là 116.085 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ 2018, trong đó ngân hàng thươngmại phát hành 36.700 tỷ đồng (chiếm 36%), doanh nghiệp bất động sản là 22.122tỷ đồng (19%), lượng phát hành của công ty chứng khoán chiếm 3,5%, còn lại làcác doanh nghiệp khác Tính riêng năm 2020, giá tri phát hành TPDN đạt mức kỷlục 429,5 nghìn tỷ VND, tăng 28,3% so với năm 2019
2.1.2 Quy mô và cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2016-2020
Quy mô nợ công giai đoạn 2016-2020
Trang 18Nguồn: Bộ Tài Chính
Năm 2016, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng 14,5% so với năm 2015,trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ tăng 8,6%; nợ nước ngoài được Chính phủbảo lãnh tăng 3%; nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp tăng 26,8% Điều đó kéo theonghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóavà dich vụ là 29,7%, trong khi giới hạn cho phép là 25% Đến hết năm 2016, tổngdư nợ nước ngoài của quốc gia là 2.013.681 tỉ đồng, bằng 44,7% GDP Con số nàyvẫn trong giới hạn an toàn (dưới 50%) nhưng chỉ số nợ nước ngoài của quốc gia có
xu hướng tăng cao hơn năm trước)
Cuối năm 2017, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP ở mức 48,9%, sátvới ngưỡng 50% được Quốc hội cho phép Trong đó, các khoản vay trung và dàihạn tăng 22,56% so với năm 2016, nhưng nợ vay nước ngoài ngắn hạn của cácdoanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo hình thức tự vay tự trả năm 2017 lên đến21,9 tỷ USD, tăng tới 73% so với năm 2016
Trong năm 2018, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP giảm xuống cònkhoảng 46,0%, trong đó cơ cấu nợ nước ngoài quốc gia đều giảm Cụ thể, nợ nướcngoài của Chính phủ được kiểm soát chặt chẽ, còn 19,3% GDP, nợ nước ngoài củaChính phủ bảo lãnh còn 4,4% GDP, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệpcòn 22,3% GDP, tỷ lệ trả nợ so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá, dichvụ khoảng 25%, bảo đảm các quy đinh và thông lệ quốc tế