1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1

15 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔ TẢ SÁNG KIẾN Mã số: ……......................... 1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1, năm học 2021 2022 ở trường tiểu học Minh Thuận 1”. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giải pháp tác nghiệp trong giáo dục. 3. Mô tả bản chất của sáng kiến: Tiếng việt lớp 1 chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong bậc tiểu học. Tiếng Việt dạy cho các em những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội,…Tiếng Việt còn là phương tiện giao tiếp giúp cho học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ và tiến đến để học tốt các môn học khác. Dạy Tiếng việt lớp 1, phần học âm, vần là hình thành những cơ bản ban đầu về đọc, viết định hướng cho các em việc nghe, nói trên cơ sở vốn tiếng việt các em đã có. Trong chương trình giáo dục tiểu học, song song với các môn học khác. Môn Tiếng Việt chiếm vị trí vô cùng quan trọng, không chỉ giúp các em nắm chắc cấu tạo ngữ âm, kiến thức cơ bản và hình thành các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Nó cũng góp phần cho các em tính cách chăm chỉ, cần cù, say mê học tập để tiến tới đọc thông, viết thạo và học tốt các môn học khác. Được đi học là bước ngoặc lớn trong đời trẻ. Người ta thường nói: Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ em là được đến trường, được học đọc, học viết. Bởi vậy, ngày nay vấn đề giáo dục tiểu học đang được nhiều Quốc gia quan tâm, nghiên cứu. Giúp cho trẻ có được những nhu cầu tối thiểu về thế giới quan và nhân sinh quan, khi học xong bậc tiểu học để có thể hòa nhập vào cuộc sống xã hội. Đồng thời tạo điều kiện để trẻ có thể tiếp tục học ở các bậc tiếp theo. Vì vậy, biết đọc, biết viết cả một thế giới mở ra trước mắt các em. Trên cơ sở đó giúp học sinh đọc đúng và hiểu các văn bản phù hợp với lứa tuổi, giáo viên là người giúp các em mở rộng tầm nhìn thế giới xung quanh, rung cảm trước cái đẹp, trước những buồn vui, yêu ghét của con người. Đồng thời hình thành ở mức đơn giản trong các em những nhận thức tình cảm và thái độ đúng đắn của con người Việt Nam hiện đại, biết phân biệt cái đẹp, cái xấu, việc thiện, việc ác, việc nào đúng sai. Biết yêu trường lớp, thầy cô, bạn bè, quê hương đất nước,…Có lòng nhân ái, có ý thức và bổn phận với ông bà, cha mẹ,…Có lối sống hồn nhiên trung thực. Đọc tốt sẽ góp phần nâng cao khả năng làm văn, kể chuyện hấp dẫn, làm toán giỏi,… 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: Mô tả đối tượng: Chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay là chú trọng nhiệm vụ hình thành và phát triển khả năng sử dụng Tiếng Việt coi trọng đồng thời cả bốn kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe. Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng ta đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời. Mô tả không gian thời gian: Trong tình hình hiện nay, đa số các em học sinh tiểu học nói chung, đặc biệt đối với học sinh lớp 1 nói riêng, một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, đến lớp để được học đọc, viết. Biết đọc, biết viết là sự thử thách lớn đối với các em. Nhưng hầu như các em chưa có ý thức tự học, tự giác rèn đọc. Để hình thành được kỹ năng nghe và đọc, kỹ năng nói và viết, của học sinh tiểu học hiện nay có rất nhiều điều phải quan tâm, băn khoăn, lo lắng. Coi trọng hơn là kỹ năng đọc và viết, nhưng nếu chúng ta làm bài văn, bài toán dù hay và đúng đến đâu đi nữa mà chữ viết chưa đẹp, nguệch ngoạc thì bài văn, bài toán kia không có giá trị. Nếu đọc không lưu loát, phát âm không chuẩn, không ngắt nghỉ đúng dấu câu, không biểu cảm thì người nghe sẽ không hiểu văn bản đó. Chính lẽ đó mà bản thân đưa ra: “Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1, năm học 2021 2022 ở trường tiểu học Minh Thuận 1”. Nhằm nâng cao chất lượng đọc viết cho học sinh. Ưu điểm chính: Được sự quan tâm sâu sắc của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cơ sở vật chất, lớp học khang trang, bàn ghế phù hợp với HS. Chuyên môn của trường tổ chức nhiều buổi thao giảng, chuyên đề, dự giờ thăm lớp,…Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò. Giáo viên luôn đạt mục tiêu giảng dạy lên hàng đầu, nhiệt tình trong công tác và có tinh thần ham học hỏi, thích tìm tòi. Đa số các em có đủ dụng cụ học tập, chăm học, ngoan ngoãn,… Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của các em, các em có đầy đủ đồ dùng học tập. Đặc biệt là được sự quan tâm của ngành giáo dục, lãnh đạo phòng đã mở nhiều lớp tập huấn, mở chuyên đề giáo dục để giúp cho giáo viên nâng cao tay nghề để đạt kết quả giảng dạy cao hơn. Bản thân đã dạy lớp 1 nhiều năm nên có một ít kinh nghiệm giảng dạy các môn học, trong đó có môn Tiếng Việt. Hạn chế: Giáo viên: Do thiết bị đồ dùng học tập của trường còn hạn chế nên GV phải tự chuẩn bị đầy đủ ĐDDH tự làm để minh họa tiết dạy do đó mất nhiều thời gian nghiên cứu bài dạy. Học sinh: Do các em còn nhỏ khả năng phát triển chưa hoàn chỉnh. Mặc khác do trình độ tư duy không đồng đều. Đa số các em chưa bắt nhịp môi trường học tập mới, còn nhút nhát. Nội dung TV lớp 1 mới số lượng chữ mỗi tiết nhiều mà yêu cầu HS sau tiết học phải đọc trơn nên HS đọc còn chậm, thậm chí có em chưa đọc được các âm đã học, có em phát âm không chuẩn nên cũng ảnh hưởng đến sự tự tin trong học tập, chất lượng học tập chưa cao. Phụ huynh: Còn một vài phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con em, thường khoán trắng việc dạy dỗ cho GVCN. 3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến: 3.2.1. Mục đích của giải pháp: Thực tế hiện nay trình độ của học sinh không đồng đều, ngoài việc học chính các em ít chăm lo đến việc học bài ở nhà, chủ yếu là chơi nhiều hơn học. Nhiều học sinh lơ là đến việc đọc, các em ít chịu rèn đọc những bài học đầu tiên, dẫn đến các em bị mất căn bản là chưa đọc được những âm đầu tiên dẫn đến khi ghép thành tiếng, từ, câu các em gặp khó khăn. Từ đó các em không theo kịp các bạn dẫn đến đọc yếu, đọc chưa rõ ràng, rành mạch. Ngoài ra có những em đọc vẹt không hiểu gì, thậm chí đọc luôn tuồn không ngắt nghỉ hơi, lên giọng, hạ giọng khi không cần thiết,... Vì vậy qua sáng kiến này giúp cho học sinh tham gia tích cực các hoạt động học tập; Hình thành các kĩ năng học tập, hành vi, ngôn ngữ giao tiếp, hợp tác một cách tích cực, tự giác, giúp các em đọc thông viết thạo môn Tiếng Việt. Nội dung sáng kiến là những kinh nghiệm dạy học đã thực hiện, được nghiên cứu một cách có hệ thống, có quy trình. Sáng kiến có ý nghĩa thiết thực và mang tính thực tiễn cao, đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và học sinh trong giai đoạn giáo dục hiện nay. 3.2.2. Nội dung giải pháp: Hiện nay, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học là một yếu tố rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động trong dạy học. Giáo viên đặc biệt chú ý tới các phương pháp như: phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại gợi mở. Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bằng cách tự quan sát, tự nhận xét, ghi nhớ, tự giác luyện tập rút kinh nghiệm qua thực hành luyện đọc, luyện viết dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên luôn tạo không khí học tập thoải mái, các em tích cực chủ động trong học tập với tinh thần “ Học mà chơi, chơi mà học”. Đưa ra giải pháp nhằm tạo sự hứng thú học tập cho các em, từ đó các em thích đi học, thích đến trường, đến lớp “ Yêu thầy, mến bạn”. Chính vì những lí do trên mà tôi thực hiện: “Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1. 3.2.3. Tên các giải pháp: Bản thân luôn phối hợp với phụ huynh học sinh giúp cho phụ huynh thấy được lợi ích và tầm quan trọng của việc rèn đọc đối với các em. Từ đó nhờ phụ huynh hỗ trợ thêm về việc các em luyện đọc ở nhà để góp phần rèn luyện đọc cho học sinh lớp 1 được thuận lợi hơn. Để thực hiện thành công trong tiết dạy, thì người giáo viên Tiểu học nào cũng phải tuân theo các quy trình và phương pháp dạy học. Nhưng để có kinh nghiệm rèn cho học sinh đọc tốt đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng hợp lý các phương pháp trong tiết dạy. Phải linh hoạt sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp và hình thức nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh, học sinh hoàn toàn chủ động tự giác sáng tạo và tích cực tiếp thu tri thức mới, áp dụng linh hoạt các biện pháp trong phần luyện đọc. Biết được tâm sinh lý của học sinh để có cách giáo dục tốt hơn. Có 7 giải pháp chính: Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò; trò và trò Giải pháp 2: Sắp xếp vị trí ngồi hợp lí Giải pháp 3: Hình thành các kĩ năng và động lực học tập trong chương trình tuần đầu tiên Giải pháp 4: Giúp các em nhớ âm, vần trong Tiếng việt Giải pháp 5: Phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt Giải pháp 6: Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò Giải pháp 7: Tổ chức trò chơi học tập 3.2.4. Triển khai các giải pháp: Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò; trò và trò: Hành động 1: Đối tượng giảng dạy là học sinh lớp 1, đây là lứa tuổi học sinh chuyển từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập. Vì vậy ngay từ đầu năm tôi thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa “ cô và trò”, giữa “ trò và trò”. Để làm được điều đó từ đầu năm tôi tạo dấu ấn sâu đậm ngày đầu đi học. Mọi thái độ ứng xử trong giao tiếp phải nhẹ nhàng, gần gũi qua các cử chỉ như: lời nói, ánh mắt, nụ cười, cầm tay, xoa đầu,…rất cần thiết nhằm giúp các em tự tin, sẵn sàng san sẻ khi các em muốn bày tỏ khi chưa hiểu bài, khi chưa hoàn thành nhiệm vụ, và xem “ Lớp học là ngôi nhà thứ hai” của mình. Hành động 2: Đối với HS có hoàn cảnh khó khăn. Giáo viên quan tâm, vận động phụ huynh, cả lớp hỗ trợ quần áo, đồ dùng học tập; phối hợp cùng BGH, tổng phụ trách xét tặng quà, hỗ trợ tiền hay tập sách cho các em. Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng. Khối 1 Tổng số học sinh 106 em Giải pháp Trước khi áp dụng mô tả sáng kiến Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến Hiệu quả Học sinh Tỷ lệ (%) Giải pháp 1 43 Học sinh 101 Học sinh 101 95 Giải pháp 2: Sắp xếp vị trí ngồi hợp lí: Hành động 1: Giáo viên khảo sát phân loại HS ngay tuần đầu. Đối với HS chưa nhận diện chữ cái, đọc chậm, HS cá biệt tôi liên hệ phụ huynh trao đổi việc học và dành nhiều thời gian để rèn luyện đối tượng này. Hành động 2: Xây dựng“ đôi bạn cùng tiến” để các em giúp đỡ nhau trong học tập. Phân công ban cán sự lớp để quản lí, thi đua học tập trong tổ nhóm. Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng. Khối 1 Tổng số học sinh 106 em Giải pháp Trước khi áp dụng mô tả sáng kiến Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến Hiệu quả Học sinh Tỷ lệ (%) Giải pháp 2 65 Học sinh 102 Học sinh 102 96 Giải pháp 3: Hình thành các kĩ năng và động lực học tập trong chương trình tuần đầu tiên: Hành động 1: Những tiết học đầu tiên tất cả đều mới mẻ, lạ lẫm với các em. Vì vậy trong tuần này tôi dạy HS làm quen mọi thao tác, tư thế khi ngồi, khi học, khi cầm bút, xóa bảng,… mọi cách nói năng giao tiếp ( nhận việc, trả lời,...) một cách chuẩn mực, rõ ràng, dứt khoát. Đây là giai đoạn hết sức quan trọng và bền vững trong suốt quá trình học tập và sau này. Hành động 2: Rèn cho các em những thao tác, những thói quen, tư thế, tác phong đạo đức đúng, đẹp sẽ hình thành nhân cách người học sinh vì “ Lớp Một là nền tảng” giúp cho các em thấy “ Đi học là hạnh phúc”, “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”,... Giải pháp này có tính mới, sáng tạo của sáng kiến và đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng. Khối 1 Tổng số học sinh 106 em Giải pháp Trước khi áp dụng mô tả sáng kiến Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến Hiệu quả Học sinh Tỷ lệ (%) Giải pháp 3 47 Học sinh 100 Học sinh 100 94 Giải pháp 4: Giúp các em nhớ âm, vần trong Tiếng việt: Hành động 1: Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Do vậy tôi dạy thật chắc các nét cơ bản, giúp các em nhớ và viết được các nét cơ bản, cho các em nhận diện cấu tạo, biết độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, điểm dừng bút. Hành động 2: Cho các em nhận biết được những điểm giống và khác nhau giữa các con chữ để dễ phân biệt và nhận biết không lẫn các chữ với nhau. Qua đó giúp em nhớ chắc mặt chữ, phát âm chuẩn hơn. +Về âm: Giúp cho các em nắm chắc các âm bằng cách qua phát âm. Nắm chắc cơ chế đánh vần qua các bước: Ví dụ: Tiếng bà các em không đọc được thì cho HS đánh vần: bà: bờabahuyềnbà hoặc bahuyềnbà. Nếu học sinh vẫn quên GV hỏi âm đầu là âm gì? giúp HS đánh vần và đọc trơn. Đích cuối cùng đọc đó là giáo viên hướng dẫn tất cả các em đều đọc trơn. +Về vần: Giúp các em nắm chắc các mẫu vần. Phát âm chính xác, phân biệt các cặp vần dễ lẫn như: Âm đầu: chtr; sx; ln và các vần có âm cuối dễ lẫn như ct; nng,…Học đến đâu có liên quan đến quy tắc chính tả thì cho học sinh nhắc lại nhằm khắc sâu kiến thức. GV luôn phải phát âm chuẩn để HS nghe đọc lại đúng và viết đúng chính tả. Đặc biệt luôn quan tâm rèn luyện HS cần quan tâm và bồi dưỡng HS giỏi thật tốt. Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng. Khối 1 Tổng số học sinh 106 em Giải pháp Trước khi áp dụng mô tả sáng kiến Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến Hiệu quả Học sinh Tỷ lệ (%) Giải pháp 4 45 Học sinh 103 Học sinh 103 97 Giải pháp 5: Phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt: Hành động 1: Tôi luôn nghiên cứu kĩ quy trình dạy học trong. Chủ động linh hoạt trong quá trình tổ chức giờ dạy phù hợp với HS lớp mình. Trong tiết dạy GV không nói nhiều, không làm thay, làm giúp học sinh mà giúp HS phát huy năng lực tự tìm ra kiến thức như phát hiện ra các âm, tìm tiếng mới, biết tiếng có âm vần kết hợp mấy dấu thanh,…

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số: ……

1 Tên sáng kiến:

“Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1, năm học 2021 - 2022 ở trường tiểu học Minh Thuận 1”.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Giải pháp tác nghiệp trong giáo dục

3 Mô tả bản chất của sáng kiến:

Tiếng việt lớp 1 chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong bậc tiểu học Tiếng Việt dạy cho các em những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội,…Tiếng Việt còn là phương tiện giao tiếp giúp cho học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ và tiến đến để học tốt các môn học khác Dạy Tiếng việt lớp 1, phần học âm, vần là hình thành những cơ bản ban đầu về đọc, viết định hướng cho các em việc nghe, nói trên cơ sở vốn tiếng việt các em đã có Trong chương trình giáo dục tiểu học, song song với các môn học khác Môn Tiếng Việt chiếm vị trí vô cùng quan trọng, không chỉ giúp các em nắm chắc cấu tạo ngữ âm, kiến thức cơ bản và hình thành các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe Nó cũng góp phần cho các em tính cách chăm chỉ, cần cù, say mê học tập để tiến tới đọc thông, viết thạo và học tốt các môn học khác

Được đi học là bước ngoặc lớn trong đời trẻ Người ta thường nói: Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ em là được đến trường, được học đọc, học viết Bởi vậy, ngày nay vấn đề giáo dục tiểu học đang được nhiều Quốc gia quan tâm, nghiên cứu Giúp cho trẻ có được những nhu cầu tối thiểu về thế giới quan và nhân sinh quan, khi học xong bậc tiểu học để có thể hòa nhập vào cuộc sống xã hội Đồng thời tạo điều kiện để trẻ có thể tiếp tục học ở các bậc tiếp theo Vì vậy, biết đọc, biết viết cả một thế giới mở ra trước mắt các em

Trên cơ sở đó giúp học sinh đọc đúng và hiểu các văn bản phù hợp với lứa tuổi, giáo viên là người giúp các em mở rộng tầm nhìn thế giới xung quanh, rung cảm trước cái đẹp, trước những buồn vui, yêu ghét của con người Đồng thời hình thành ở mức đơn giản trong các em những nhận thức tình cảm và thái độ đúng đắn của con người Việt Nam hiện đại, biết phân biệt cái đẹp, cái xấu, việc thiện, việc ác, việc nào đúng sai Biết yêu trường lớp, thầy cô, bạn bè, quê hương đất nước,…Có lòng nhân ái, có ý thức và bổn phận với ông bà, cha mẹ,…

Có lối sống hồn nhiên trung thực Đọc tốt sẽ góp phần nâng cao khả năng làm văn, kể chuyện hấp dẫn, làm toán giỏi,…

Trang 2

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:

Mô tả đối tượng:

Chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay là chú trọng nhiệm vụ hình thành và phát triển khả năng sử dụng Tiếng Việt coi trọng đồng thời cả bốn kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng ta đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời

Mô tả không gian thời gian:

Trong tình hình hiện nay, đa số các em học sinh tiểu học nói chung, đặc biệt đối với học sinh lớp 1 nói riêng, một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ

là được đến trường, đến lớp để được học đọc, viết Biết đọc, biết viết là sự thử thách lớn đối với các em Nhưng hầu như các em chưa có ý thức tự học, tự giác rèn đọc

Để hình thành được kỹ năng nghe và đọc, kỹ năng nói và viết, của học sinh tiểu học hiện nay có rất nhiều điều phải quan tâm, băn khoăn, lo lắng Coi trọng hơn là kỹ năng đọc và viết, nhưng nếu chúng ta làm bài văn, bài toán dù hay và đúng đến đâu đi nữa mà chữ viết chưa đẹp, nguệch ngoạc thì bài văn, bài toán kia không có giá trị Nếu đọc không lưu loát, phát âm không chuẩn, không ngắt nghỉ đúng dấu câu, không biểu cảm thì người nghe sẽ không hiểu văn bản

đó Chính lẽ đó mà bản thân đưa ra: “Một số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1, năm học 2021 - 2022 ở trường tiểu học Minh Thuận 1” Nhằm nâng cao chất lượng đọc viết cho học sinh.

Ưu điểm chính:

- Được sự quan tâm sâu sắc của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều

kiện cơ sở vật chất, lớp học khang trang, bàn ghế phù hợp với HS

- Chuyên môn của trường tổ chức nhiều buổi thao giảng, chuyên đề, dự

giờ thăm lớp,…Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò

- Giáo viên luôn đạt mục tiêu giảng dạy lên hàng đầu, nhiệt tình trong

công tác và có tinh thần ham học hỏi, thích tìm tòi

- Đa số các em có đủ dụng cụ học tập, chăm học, ngoan ngoãn,…

- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của các em, các em có đầy đủ

đồ dùng học tập

- Đặc biệt là được sự quan tâm của ngành giáo dục, lãnh đạo phòng đã mở

nhiều lớp tập huấn, mở chuyên đề giáo dục để giúp cho giáo viên nâng cao tay nghề để đạt kết quả giảng dạy cao hơn

- Bản thân đã dạy lớp 1 nhiều năm nên có một ít kinh nghiệm giảng dạy

các môn học, trong đó có môn Tiếng Việt

Trang 3

Hạn chế:

- Giáo viên: Do thiết bị đồ dùng học tập của trường còn hạn chế nên GV

phải tự chuẩn bị đầy đủ ĐDDH tự làm để minh họa tiết dạy do đó mất nhiều thời gian nghiên cứu bài dạy

- Học sinh: Do các em còn nhỏ khả năng phát triển chưa hoàn chỉnh Mặc khác do trình độ tư duy không đồng đều Đa số các em chưa bắt nhịp môi trường học tập mới, còn nhút nhát Nội dung TV lớp 1 mới số lượng chữ mỗi tiết nhiều mà yêu cầu HS sau tiết học phải đọc trơn nên HS đọc còn chậm, thậm chí

có em chưa đọc được các âm đã học, có em phát âm không chuẩn nên cũng ảnh hưởng đến sự tự tin trong học tập, chất lượng học tập chưa cao

- Phụ huynh: Còn một vài phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con

em, thường khoán trắng việc dạy dỗ cho GVCN

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

3.2.1 Mục đích của giải pháp:

Thực tế hiện nay trình độ của học sinh không đồng đều, ngoài việc học chính các em ít chăm lo đến việc học bài ở nhà, chủ yếu là chơi nhiều hơn học Nhiều học sinh lơ là đến việc đọc, các em ít chịu rèn đọc những bài học đầu tiên, dẫn đến các em bị mất căn bản là chưa đọc được những âm đầu tiên dẫn đến khi ghép thành tiếng, từ, câu các em gặp khó khăn Từ đó các em không theo kịp các bạn dẫn đến đọc yếu, đọc chưa rõ ràng, rành mạch Ngoài ra có những em đọc vẹt không hiểu gì, thậm chí đọc luôn tuồn không ngắt nghỉ hơi, lên giọng, hạ giọng khi không cần thiết,

Vì vậy qua sáng kiến này giúp cho học sinh tham gia tích cực các hoạt động học tập; Hình thành các kĩ năng học tập, hành vi, ngôn ngữ giao tiếp, hợp tác một cách tích cực, tự giác, giúp các em đọc thông viết thạo môn Tiếng Việt Nội dung sáng kiến là những kinh nghiệm dạy học đã thực hiện, được nghiên cứu một cách có hệ thống, có quy trình Sáng kiến có ý nghĩa thiết thực

và mang tính thực tiễn cao, đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và học sinh trong giai đoạn giáo dục hiện nay

3.2.2 Nội dung giải pháp:

Hiện nay, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học là một yếu tố rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động trong dạy học Giáo viên đặc biệt chú ý tới các phương pháp như: phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại gợi mở Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bằng cách tự quan sát, tự nhận xét, ghi nhớ, tự giác luyện tập rút kinh nghiệm qua thực hành luyện đọc, luyện viết dưới sự hướng dẫn của giáo

viên

Trang 4

Giáo viên luôn tạo không khí học tập thoải mái, các em tích cực chủ động trong học tập với tinh thần “ Học mà chơi, chơi mà học” Đưa ra giải pháp nhằm tạo sự hứng thú học tập cho các em, từ đó các em thích đi học, thích đến trường,

đến lớp “ Yêu thầy, mến bạn” Chính vì những lí do trên mà tôi thực hiện: “Một

số giải pháp giúp học sinh hứng thú đọc tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1.

3.2.3 Tên các giải pháp:

Bản thân luôn phối hợp với phụ huynh học sinh giúp cho phụ huynh thấy được lợi ích và tầm quan trọng của việc rèn đọc đối với các em Từ đó nhờ phụ huynh hỗ trợ thêm về việc các em luyện đọc ở nhà để góp phần rèn luyện đọc cho học sinh lớp 1 được thuận lợi hơn Để thực hiện thành công trong tiết dạy, thì người giáo viên Tiểu học nào cũng phải tuân theo các quy trình và phương pháp dạy học Nhưng để có kinh nghiệm rèn cho học sinh đọc tốt đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng hợp lý các phương pháp trong tiết dạy

Phải linh hoạt sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp và hình thức nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh, học sinh hoàn toàn chủ động tự giác sáng tạo và tích cực tiếp thu tri thức mới, áp dụng linh hoạt các biện pháp trong phần luyện đọc Biết được tâm sinh lý của học sinh để có cách giáo dục tốt hơn

Có 7 giải pháp chính:

*Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò; trò và trò

*Giải pháp 2: Sắp xếp vị trí ngồi hợp lí

*Giải pháp 3: Hình thành các kĩ năng và động lực học tập trong chương trình tuần đầu tiên

*Giải pháp 4: Giúp các em nhớ âm, vần trong Tiếng việt

*Giải pháp 5: Phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt

*Giải pháp 6: Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

*Giải pháp 7: Tổ chức trò chơi học tập

3.2.4 Triển khai các giải pháp:

*Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường

thân thiện giữa thầy và trò; trò và trò:

- Hành động 1: Đối tượng giảng dạy là học sinh lớp 1, đây là lứa tuổi học

sinh chuyển từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập Vì vậy ngay từ đầu năm tôi thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa “ cô và trò”, giữa “ trò và trò” Để làm được điều đó từ đầu năm tôi tạo dấu ấn sâu đậm ngày đầu đi học Mọi thái độ ứng xử trong giao tiếp phải nhẹ nhàng, gần gũi qua các cử chỉ như: lời nói, ánh mắt, nụ cười, cầm tay, xoa đầu,…rất cần thiết nhằm giúp các em tự

Trang 5

tin, sẵn sàng san sẻ khi các em muốn bày tỏ khi chưa hiểu bài, khi chưa hoàn thành nhiệm vụ, và xem “ Lớp học là ngôi nhà thứ hai” của mình

- Hành động 2: Đối với HS có hoàn cảnh khó khăn Giáo viên quan tâm,

vận động phụ huynh, cả lớp hỗ trợ quần áo, đồ dùng học tập; phối hợp cùng BGH, tổng phụ trách xét tặng quà, hỗ trợ tiền hay tập sách cho các em

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 1 43 Học sinh 101 Học sinh 101 95

*Giải pháp 2: Sắp xếp vị trí ngồi hợp lí:

- Hành động 1: Giáo viên khảo sát phân loại HS ngay tuần đầu Đối với

HS chưa nhận diện chữ cái, đọc chậm, HS cá biệt tôi liên hệ phụ huynh trao đổi việc học và dành nhiều thời gian để rèn luyện đối tượng này

- Hành động 2: Xây dựng“ đôi bạn cùng tiến” để các em giúp đỡ nhau

trong học tập Phân công ban cán sự lớp để quản lí, thi đua học tập trong tổ

nhóm

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 2 65 Học sinh 102 Học sinh 102 96

*Giải pháp 3: Hình thành các kĩ năng và động lực học tập trong

chương trình tuần đầu tiên:

- Hành động 1: Những tiết học đầu tiên tất cả đều mới mẻ, lạ lẫm với các

em Vì vậy trong tuần này tôi dạy HS làm quen mọi thao tác, tư thế khi ngồi, khi học, khi cầm bút, xóa bảng,… mọi cách nói năng giao tiếp ( nhận việc, trả lời, ) một cách chuẩn mực, rõ ràng, dứt khoát Đây là giai đoạn hết sức quan trọng và bền vững trong suốt quá trình học tập và sau này

- Hành động 2: Rèn cho các em những thao tác, những thói quen, tư thế,

tác phong đạo đức đúng, đẹp sẽ hình thành nhân cách người học sinh vì “ Lớp Một là nền tảng” giúp cho các em thấy “ Đi học là hạnh phúc”, “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”,

Giải pháp này có tính mới, sáng tạo của sáng kiến và đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Trang 6

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 3 47 Học sinh 100 Học sinh 100 94

*Giải pháp 4: Giúp các em nhớ âm, vần trong Tiếng việt:

- Hành động 1: Giai đoạn này vô cùng quan trọng Do vậy tôi dạy thật

chắc các nét cơ bản, giúp các em nhớ và viết được các nét cơ bản, cho các em nhận diện cấu tạo, biết độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, điểm dừng bút

- Hành động 2: Cho các em nhận biết được những điểm giống và khác

nhau giữa các con chữ để dễ phân biệt và nhận biết không lẫn các chữ với nhau Qua đó giúp em nhớ chắc mặt chữ, phát âm chuẩn hơn

+Về âm:

- Giúp cho các em nắm chắc các âm bằng cách qua phát âm

- Nắm chắc cơ chế đánh vần qua các bước:

Ví dụ: Tiếng / bà/ các em không đọc được thì cho HS đánh vần:

bà: bờ-a-ba-huyền-bà hoặc ba-huyền-bà Nếu học sinh vẫn quên GV hỏi âm đầu

là âm gì? giúp HS đánh vần và đọc trơn Đích cuối cùng đọc đó là giáo viên hướng dẫn tất cả các em đều đọc trơn

+Về vần: Giúp các em nắm chắc các mẫu vần Phát âm chính xác, phân

biệt các cặp vần dễ lẫn như: Âm đầu: ch/tr; s/x; l/n và các vần có âm cuối dễ lẫn như c/t; n/ng,…Học đến đâu có liên quan đến quy tắc chính tả thì cho học sinh nhắc lại nhằm khắc sâu kiến thức GV luôn phải phát âm chuẩn để HS nghe đọc lại đúng và viết đúng chính tả Đặc biệt luôn quan tâm rèn luyện HS cần quan tâm và bồi dưỡng HS giỏi thật tốt

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 4 45 Học sinh 103 Học sinh 103 97

*Giải pháp 5: Phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt:

- Hành động 1: Tôi luôn nghiên cứu kĩ quy trình dạy học trong Chủ động

linh hoạt trong quá trình tổ chức giờ dạy phù hợp với HS lớp mình Trong tiết dạy GV không nói nhiều, không làm thay, làm giúp học sinh mà giúp HS phát huy năng lực tự tìm ra kiến thức như phát hiện ra các âm, tìm tiếng mới, biết tiếng có âm vần kết hợp mấy dấu thanh,…

Trang 7

- Hành động 2: Luôn linh hoạt lựa chọn hình thức học tập Tổ chức thi

đua cá nhân, nhóm, trò chơi hiệu quả Các câu “ lệnh”,“ kí hiệu” rõ ràng để cho tiết học diễn ra tự nhiên nhẹ nhàng, hiệu quả

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 5 54 Học sinh 104 Học sinh 104 98

*Giải pháp 6: Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò:

- Hành động 1: Nhận xét đánh giá công bằng, tuyệt đối không chê bai HS.

Chọn những HS đọc tốt, viết đẹp để làm gương trước lớp vào cuối tuần, cuối kì Với HS cần quan tâm đến gần giúp đỡ, chỉnh sữa cho đúng, khen các em khi có tiến bộ dù rất nhỏ: Em có tiến bộ về đọc, cố gắng hơn Cô tin ở em!,

- Hành động 2: Tạo điều kiện cho các em tự đánh giá, tham gia đánh giá

lẫn nhau Điều đó rất cần thiết để các em tự tin, phấn đấu hơn

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 6 43 Học sinh 103 Học sinh 103 97

*Giải pháp 7: Tổ chức trò chơi học tập:

- Hành động 1: Giúp HS thay đổi không khí trong học tập, làm cho giờ

học sinh động, vui vẻ, tạo hứng thú trong học tập Giúp các em giảm bớt căng thẳng mệt mỏi và khắc sâu kiến thức bài học cho các em sau mỗi tiết học Kích thích sự tìm tòi, hiếu thắng của trẻ bằng những trò chơi có lồng ghép nội dung học tập phù hợp với mục tiêu bài học và trình độ lớp Các trò chơi phải đa dạng, phong phú nhiều hình thức thông qua thi đua cá nhân, nhóm, tổ

- Hành động 2: Các ví dụ minh họa

+ Để giúp học sinh có kỹ năng phân tích tốt tôi chọn trò chơi “chèo thuyền”

Ở trò chơi này cả lớp tham gia và gọi ngẫu nhiên Cứ một em điều khiển trò chơi hô “ gọi thuyền, gọi thuyền”

Cả lớp nói: “ thuyền ai, thuyền ai”

Người điều khiển: Thuyền bạn Lan

Cả lớp nói: “ Thuyền Lan chở gì?

Bạn Lan nói: Thuyền Lan chở Dưa

Cả lớp phân tích : dưa có âm d đứng trước và vần ưa đứng sau

Trang 8

+ Để giúp học sinh đọc tốt và khắc sâu quy tắc chính tả cho các em cuối tuần tôi thường tổ chức cho các em một trò chơi “ Tìm bạn thân”

Ở trò chơi này tôi chia học sinh thành hai nhóm khoảng 5- 6 em mỗi nhóm,

sử dụng các chữ cái bằng nhựa là đồ dùng của năm học trước kia, sau đó tôi chia lớp thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là nhóm bạn gái mỗi em cầm một nguyên

âm như: a, e, o, ê, ô, i, u, ư …, nhóm thứ hai là các bạn trai mỗi em cầm một chữ cái là phụ âm như: b, m, t, k, th, ph, gi, ng,…Sau khi người điều khiển hô to “ tìm bạn thân” khi bạn gái /m/ tìm bạn trai /i/ thì hai bạn đứng gần nhau đọc to /mi/, còn nếu bạn gái /k/ tìm bạn trai /e/ thì hai bạn đứng gần nhau và đọc to là /ke/ lúc này giáo viên kết hợp hỏi quy tắc chính tả âm cờ

Sau khi xen kẽ các trò chơi vào các hoạt động học tập tôi thấy học sinh học tập rất phấn khởi, các em tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập từ

đó giúp các em tiếp thu kiến thức một cách vững chắc, nắm được ngữ âm thông qua mô hình tách tiếng, vị trí các âm trong tiếng và nắm được luật chính tả sâu hơn Sau mỗi giai đoạn giáo viên cần thay đổi trò chơi, trò chơi phải phù hợp với nội dung của bài nhằm củng cố kiến thức và phát huy tinh thần hăng say trong học tập để các em phấn đấu hơn trong các tiết học sau

Giải pháp này có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và đã

bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.

Khối 1

Tổng số

học sinh

106 em

Giải pháp

Trước khi

áp dụng mô

tả sáng kiến

Sau khi áp dụng mô tả sáng kiến

Hiệu quả Học

sinh

Tỷ lệ (%)

Giải pháp 7 58 Học sinh 104 Học sinh 104 98

Các giải pháp trên có tính mới, tính sáng tạo được áp dụng đầu tiên và

đã bố trí thử nghiệm, kiểm chứng.( Có phiếu kiểm nghiệm kèm theo)

3.2.2.Triển khai các giải pháp

Giải pháp 1: Rèn kĩ năng nhận biết những biểu hiện hành vi xâm hại

Hành vi là một việc làm cụ thể nhưng trước khi một hành vi nào đó được thực hiện thì nó đều được biểu hiện ra bên ngoài Học sinh lớp 2 là lứa tuổi còn vụng dại, chưa có nhiều kinh nghiệm sống Chính vì vậy mà việc nhận biết những biểu hiện bị xâm hại tình dục của người xấu chưa được thấu đáo Đứng trước nguy cơ bị xâm hại tình dục, hầu hết các em đều ít có khả năng nhận ra

Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các em bị xâm hại tình dục Cho nên vai trò của giáo viên trong việc rèn kĩ năng nhận biết các hành vi xâm hại tình dục cho các em là hết sức quan trọng

Hành động 1: Trong quá trình giáo dục học sinh lớp mình, tôi đã rèn cho

các em nhiều kĩ năng hữu ích nhằm giúp các em có thể nhận biết được những biểu hiện của hành vi muốn xâm hại tình dục của đối phương là người khác giới

Trang 9

Thông qua những bài học có nội dung liên quan, tôi đã giúp các em rèn luyện kĩ năng nhận biết các biểu hiện của hành vi muốn xâm hại tình dục như: nhìn, nói, chạm, ôm và khi ở một mình

Ví dụ: Ngay từ ngày đầu đến lớp, tôi đã giáo dục các em về giới tính và hướng dẫn khi các em có nhu cầu đi vệ sinh cá nhân phải đi đúng nơi quy định, bên nam bên nữ rõ ràng không được đi chung vì lứa tuổi của các em rất tò mò và hiếu động để tránh các em khác có hành động không tốt hay những lời nói không nên

Hành động 2: Trong các buổi sinh hoạt lớp, hoạt động ngoại khóa giáo

dục cho các em qua các hoạt động vui chơi lồng ghép cho các em xem những đoạn clip về những tình huống có thể trẻ đang bị xâm hại, hoạc các hình ảnh mang tính chất tuyên truyền giáo dục học sinh về nâng cao ý thức phòng tránh bị xâm hại tình dục Đồng thời tôi đã hướng dẫn học sinh 5 kiểu báo động dẫn tới nguy cơ bị xâm hại tình dục và dấu hiệu nhận biết như sau: Báo động nhìn ( khi

bị người khác nhìn đắm đuối vào vùng kín), báo động nói ( khi nghe những lời nói có tính chất khiêu dâm), báo động chạm ( khi bị người khác sờ mó vào vùng nhạy cảm), báo động ôm ( khi bị người khác cố ý ôm, cọ xát vào cơ thể),báo động một mình ( khi đi một mình nơi tối tăm, vắng vẻ)

Ví dụ: Trong buổi sinh hoạt lớp tôi cho các em xem một đoạn clip với tình huống “ Trong lúc một bé gái đứng chơi trước sân nhà thì có một người nam lạ mặt nói là người thân của bố mẹ đến buông lời dụ ngọt cho bánh kẹo, cho quà rồi sờ mó bé gái, vuốt ve khắp người cô bé” Tôi yêu cầu các em nêu các hành động mà người thanh niên lạ mặt đã làm với bé Từ tình huống này tôi giáo dục học sinh nhận biết những kiểu hành động dẫn tới việc bị xâm hại tình dục

Giải pháp này đã thử nghiệm và kiểm chứng đầu năm học 2021-2022, kết quả như sau:

Khối

Lớp

Giải

pháp

Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng Tỉ lệ

SL TL

Hai Giải

pháp 1

3 giáo viên chưa thấy hết vai trò trách nhiệm của mình trong việc rèn kĩ năng nhận biết hành vi xâm hại tình dục

Còn 1 giáo viên chưa thấy hết vai trò trách nhiệm của mình trong việc rèn kĩ năng nhận biết hành vi xâm hại tình dục

%

Trang 10

Sau một thời gian ngắn rèn luyện kĩ năng này, việc nhận thức về việc phòng tránh bị xâm hại tình dục của các em được nâng lên rất nhiều Các em có khả năng biết được những biểu hiện của đối phương khi muốn xâm hại các em

Tính mới của giải pháp này là rèn các kĩ nhăng nhận biết cho các em bẳng những hình ảnh thực tế, clip tình huống gần gũi với thực tế cuộc sống hằng ngày của các em Sau một thời gian ngắn rèn luyện kĩ năng này, tôi thấy việc nhận thức về việc phòng tránh bị xâm hại tình dục của các em được nâng lên rất nhiều Các em có khả năng nhận dạng được những biểu hiện của đối phương khi muốn xâm hại các em

Giảỉ pháp này hoàn toàn mới, có tính sáng tạo, được áp dụng lần đầu tiên

Giải pháp 2: Rèn kĩ năng đối phó lại hành vi bị xâm hại

Đối phó lại những hành vi sai trái để bảo vệ mình là một việc làm mang tính nghệ thuật cao, đối phó lại việc bị người khác xâm hại tình dục cũng không ngoại lệ Học sinh lớp 2 là một lứa tuổi đang phát triển dần về mặt tâm sinh lí nhưng xét về mặt tâm lí vẫn còn là một đứa trẻ nên nguy cơ bị xâm hại rất cao Nhận thấy rõ đặc điểm này, tôi đã tiến hành rèn cho các em những kĩ năng cơ bản nhằm đối phó lại các hành vi xâm hại tình dục của người xấu:

Hành động 1: Thông qua các bài học có liên quan đến phòng tránh xâm

hại tình dục, tôi đã hình thành cho các em kĩ năng đối phó lại hành vi bọ xâm hại Từ những phương tiện sẵn có như: tranh, ảnh, mô hình,… tôi đã tiến hành cho các em tham gia nhiều hoạt động hữu ích cho cả lớp như: Cho các em thi tìm nhanh những địa chỉ đáng tin cậy để tìm kiếm sự giúp đỡ khi đứng trước nguy cơ bị xâm hại tình dục Cho các em tham gia diễn những tình huống có tính chất rèn kĩ năng phòng tránh bị xâm hại tình dục

Ví dụ: Xen lẫn tiết dạy tôi cho hai đội thi tìm nhanh những địa chỉ đáng tin cậy ( người thân, thầy cố giáo, chú công an, chú bảo vệ,…Đội nào nêu đúng địa chỉ đáng tin cậy trong thời gian nhanh nhất sẽ thắng cuộc

Hành động 2: Thông qua những giờ hoạt động trải nghiệm trên lớp, tôi đã

giúp các em rèn kĩ năng nhớ những khẩu hiệu phòng tránh bị xâm hại tình dục dưới dạng những câu thơ đồng dao,…

Ví dụ: những câu thơ, đồng dao giúp các em dễ nhớ:

“Mỗi khi bố mẹ vắng nhà Em cần cửa đóng, then cài chớ quên”

“Khi đi đường vắng một mình Trùng trùng nguy hiểm em đừng có đi” “ Có ai cho kẹo, cho quà Nhờ em đi hộ việc này cho tôi Em liền từ chối chớ ham Coi chừng người xấu muốn làm gì em”

“Có ai xa lạ Cho đi nhờ xe Em phải chối từ Nói với người đó: Người nhà cạnh bên”

Ngày đăng: 08/03/2022, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w