1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề cương luận văn truyền hình với vấn đề ô nhiễm môi trường ở việt nam hiện nay

24 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ô nhiễm môi trường là vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là tại các nước đang phát triển như Việt Nam. Ô nhiễm môi trường sinh thái không chỉ tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Ngày 01082016, Tạp chí Forbes đã công bố kết quả nghiên cứu về Chỉ số hiệu suất môi trường của Đại học Yale (EPI) nhằm đánh giá và xếp hạng các quốc gia về các vấn đề môi trường thuộc hàng ưu tiên trong hai lĩnh vực là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ hệ sinh thái. Năm vấn đề chính được đánh giá, xếp hạng gồm nước và điều kiện vệ sinh, chất lượng không khí, ảnh hưởng tới sức khỏe, nông nghiệp, đa dạng sinh học và môi trường sống. Nghiên cứu được thực hiện 2 năm một lần với dữ liệu lấy từ các cơ quan chính phủ và các cơ quan nghiên cứu khác. Tính tổng quát năm vấn đề được đánh giá, Việt Nam xếp hạng thứ 131 trên thế giới, thấp hơn Trung Quốc ở vị trí số 109, Syria xếp thứ 101, Mỹ xếp thứ 26, đứng đầu bảng xếp hạng là quốc gia Bắc Âu Phần Lan. Trong đó, với xử lý nước thải, Việt Nam đạt số điểm 19,8100, xếp hạng 124139 quốc gia. Về mật độ che phủ rừng, Việt Nam đạt điểm 23,97100, xếp hạng 100116 quốc gia. Khí hậu và Năng lượng, Việt Nam đứng gần đáy 105113 quốc gia. Về chỉ số ảnh hưởng tới sức khỏe, Việt Nam đạt điểm 69,61100 và đứng thứ 93. Số điểm này được đo bởi chỉ số Mức độ Rủi ro do tiếp xúc với Môi trường (ERE), dùng để đánh giá các mối nguy hiểm đối với sức khỏe con người gây ra bởi 5 yếu tố môi trường gồm nguồn nước, vệ sinh, ô nhiễm chất dạng hạt, ô nhiễm không khí trong gia đình và ô nhiễm ozon. Đáng chú ý nhất trong số 5 vấn đề được đánh giá, xếp hạng thì chất lượng không khí ở Việt Nam đứng thứ 170180 quốc gia được đánh giá, xếp hạng với điểm số đạt 54,76100. Trước đó, nghiên cứu của Forbes Việt Nam cũng cho thấy, chất lượng không khí ở Việt Nam rất thấp khi gam màu đỏ đậm, đỏ, vàng bao trùm khắp cả nước. Trong đó miền Bắc ô nhiễm nặng hơn miền Nam. Liệu không khí Việt Nam có thuộc nhóm ô nhiễm nhất thế giới? Điều này cho thấy, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều rủi ro sức khỏe từ môi trường, hay nói một cách khác, ô nhiễm môi trường đang là là một trong những thách thức lớn nhất, ảnh hưởng lớn đến sự phát phát triển kinh tế, xã hội của nước ta. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến nay, trên cả nước có tới 283 khu công nghiệp với hơn 550.000 m3 nước thảingày đêm; 615 cụm công nghiệp trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung; hơn 5.000 doanh nghiệp khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, hơn 4.500 làng nghề, lưu hành gần 43 triệu xe mô tô và trên 2 triệu ô tô. Hằng năm, cả nước sử dụng hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật; phát sinh hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại. Hiện có 458 bãi chôn lấp rác thải, trong đó có 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Cùng với đó, tình trạng chuyển đổi đất rừng, khai thác khoáng sản, xây dựng thủy điện, khai thác tài nguyên đa dạng sinh học đã dẫn đến thu hẹp diện tích các hệ sinh thái tự nhiên, chia cắt các sinh cảnh, suy giảm đa dạng sinh học. Các vấn đề môi trường theo dòng chảy sông Mekong, sông Hồng, các sông xuyên biên giới ngày càng phức tạp. Khu vực FDI hiện đóng vai trò chủ yếu trong xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, FDI có chiều hướng dịch chuyển dòng vốn vào các ngành tiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môi trường… Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra nhanh, phổ biến, phức tạp hơn so với dự báo, tác động nhiều mặt đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục của đất nước. Không những chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống mà ô nhiễm môi trường còn làm giảm uy tín của nhiều cá nhân, tập thể, các cơ quan chức năng liên quan. Nói vậy bởi, cách đây không lâu cả nước “sôi sục” trước sự việc ô nhiễm môi trường nước biển nghiêm trọng ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) làm cá chết hàng loạt, làm ngư dân, người nông dân điêu đứng thậm chí phá sản… Tất cả những vấn đề nêu trên đã, đang góp phần làm cho môi trường nói chung, môi trường sống ở Việt Nam nói riêng ngày một xấu đi và ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người và đời sống xã hội Việt Nam. Ngày 2482016, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: “Thực trạng ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí ngày càng nghiêm trọng, nhất là ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông, khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn… diễn ra trên diện rộng buộc chúng ta phải thay đổi tư duy phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững”. Thủ tướng cũng nhấn mạnh: “Kiên quyết không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người dân”… Mặc dù có chủ trương quyết sách từ Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng, nhưng để những chủ trương, nghị quyết về môi trường đi vào cuộc sống, cần có sự tham gia của thêm nhiều các cơ quan chức năng trong đó có báo chí. Thực trạng môi trường ô nhiễm do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức không đúng đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, cần sự chung tay và nhiệt tâm của cả cộng đồng xã hội, cả nhân loại trên toàn cầu. Trong rất nhiều nhiệm vụ và thách thức đặt ra thì truyền thông về bảo vệ môi trường vẫn giữ một vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu nhằm nâng cao nhận thức và hành động của cộng đồng ứng phó với ô nhiễm môi trường. Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, báo chí, truyền thông nói chung, truyền hình nói riêng đã và đang tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Truyền hình với vai trò là cơ quan thông tin, tuyên truyền của Đảng, Nhà nước và được đánh giá là một trong những công cụ truyền thông quan trọng trong bảo vệ môi trường. Với những ưu thế như: Thông tin nhanh chóng, cách thức thể hiện đa dạng, sinh động, phù hợp với nhiều nhóm xã hội khác nhau… truyền hình có nhiều thuận lợi hơn các loại hình truyền thông khác trong thông tin, truyền thông thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trước vấn đề bảo vệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù có nhiều ưu thế như vậy nhưng thời gian qua truyền hình vẫn chưa phát huy được hết thế mạnh của mình trong việc phản ánh vấn đề ô nhiễm môi trường. Cụ thể, ý thức của cá nhân, cũng như tập thể hay những cơ quan xí nghiệp liên quan nhiều đến vấn đề xả thải, gây ô nhiễm… trên truyền hình chưa được khai thác triệt để và thể hiện một cách quyết liệt; không ít tác phẩm chất lượng chưa như mong mỏi, khán giả chưa thật hào hứng đón đợi... Vậy làm thế nào để có nhiều hơn nữa những chương trình về ô nhiễm môi trường được phân tích một cách sâu sắc, thuyết phục; được thể hiện sinh động, dễ hiểu? Làm thế nào để khán giả xem truyền hình đặc biệt là các cơ quan, xí nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hiểu nhiều hơn thực trạng và từ đó tự điều chỉnh hành vi của mình, cơ quan mình nhằm giảm thiểu tình trạng này?... góp phần trả lại sự trong lành của môi trường sống? Trước thực tế này, tác giả đã chọn vấn đề: “Truyền hình với vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ trả lời một cách thấu đáo, toàn diện những câu hỏi đã nêu ra ở trên.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ô nhiễm môi trường là vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thếgiới, nhất là tại các nước đang phát triển như Việt Nam Ô nhiễm môitrường sinh thái không chỉ tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xãhội bền vững mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của các thế hệhiện tại và tương lai Ngày 01/08/2016, Tạp chí Forbes đã công bố kết quảnghiên cứu về Chỉ số hiệu suất môi trường của Đại học Yale (EPI) nhằmđánh giá và xếp hạng các quốc gia về các vấn đề môi trường thuộc hàng ưutiên trong hai lĩnh vực là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ hệ sinh thái.Năm vấn đề chính được đánh giá, xếp hạng gồm nước và điều kiện vệ sinh,chất lượng không khí, ảnh hưởng tới sức khỏe, nông nghiệp, đa dạng sinhhọc và môi trường sống Nghiên cứu được thực hiện 2 năm một lần với dữliệu lấy từ các cơ quan chính phủ và các cơ quan nghiên cứu khác

Tính tổng quát năm vấn đề được đánh giá, Việt Nam xếp hạng thứ

131 trên thế giới, thấp hơn Trung Quốc ở vị trí số 109, Syria xếp thứ 101,

Mỹ xếp thứ 26, đứng đầu bảng xếp hạng là quốc gia Bắc Âu - Phần Lan.Trong đó, với xử lý nước thải, Việt Nam đạt số điểm 19,8/100, xếp hạng124/139 quốc gia Về mật độ che phủ rừng, Việt Nam đạt điểm 23,97/100,xếp hạng 100/116 quốc gia Khí hậu và Năng lượng, Việt Nam đứng gầnđáy 105/113 quốc gia

Về chỉ số ảnh hưởng tới sức khỏe, Việt Nam đạt điểm 69,61/100 vàđứng thứ 93 Số điểm này được đo bởi chỉ số Mức độ Rủi ro do tiếp xúcvới Môi trường (ERE), dùng để đánh giá các mối nguy hiểm đối với sứckhỏe con người gây ra bởi 5 yếu tố môi trường gồm nguồn nước, vệ sinh, ônhiễm chất dạng hạt, ô nhiễm không khí trong gia đình và ô nhiễm ozon.Đáng chú ý nhất trong số 5 vấn đề được đánh giá, xếp hạng thì chất lượngkhông khí ở Việt Nam đứng thứ 170/180 quốc gia được đánh giá, xếp hạngvới điểm số đạt 54,76/100 Trước đó, nghiên cứu của Forbes Việt Nam

Trang 2

cũng cho thấy, chất lượng không khí ở Việt Nam rất thấp khi gam màu đỏđậm, đỏ, vàng bao trùm khắp cả nước Trong đó miền Bắc ô nhiễm nặnghơn miền Nam Liệu không khí Việt Nam có thuộc nhóm ô nhiễm nhất thếgiới? Điều này cho thấy, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều rủi rosức khỏe từ môi trường, hay nói một cách khác, ô nhiễm môi trường đang

là là một trong những thách thức lớn nhất, ảnh hưởng lớn đến sự phát pháttriển kinh tế, xã hội của nước ta

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến nay, trên

cả nước có tới 283 khu công nghiệp với hơn 550.000 m3 nước thải/ngàyđêm; 615 cụm công nghiệp trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lýnước thải tập trung; hơn 5.000 doanh nghiệp khai thác khoáng sản, vật liệuxây dựng, hơn 4.500 làng nghề, lưu hành gần 43 triệu xe mô tô và trên 2triệu ô tô

Hằng năm, cả nước sử dụng hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thựcvật; phát sinh hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 7 triệu tấn chất thảirắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại Hiện có 458 bãi chônlấp rác thải, trong đó có 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh

Cùng với đó, tình trạng chuyển đổi đất rừng, khai thác khoáng sản,xây dựng thủy điện, khai thác tài nguyên đa dạng sinh học đã dẫn đến thuhẹp diện tích các hệ sinh thái tự nhiên, chia cắt các sinh cảnh, suy giảm đadạng sinh học Các vấn đề môi trường theo dòng chảy sông Mekong, sôngHồng, các sông xuyên biên giới ngày càng phức tạp

Khu vực FDI hiện đóng vai trò chủ yếu trong xuất khẩu của ViệtNam Tuy nhiên, FDI có chiều hướng dịch chuyển dòng vốn vào các ngànhtiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môitrường… Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra nhanh, phổ biến, phức tạphơn so với dự báo, tác động nhiều mặt đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội,chính trị, văn hóa, giáo dục của đất nước

Trang 3

Không những chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống mà ô nhiễm môitrường còn làm giảm uy tín của nhiều cá nhân, tập thể, các cơ quan chứcnăng liên quan Nói vậy bởi, cách đây không lâu cả nước “sôi sục” trước sựviệc ô nhiễm môi trường nước biển nghiêm trọng ở Vũng Áng (Hà Tĩnh)làm cá chết hàng loạt, làm ngư dân, người nông dân điêu đứng thậm chíphá sản…

Tất cả những vấn đề nêu trên đã, đang góp phần làm cho môi trườngnói chung, môi trường sống ở Việt Nam nói riêng ngày một xấu đi và ảnhhưởng không tốt tới sức khỏe con người và đời sống xã hội Việt Nam

Ngày 24/8/2016, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môitrường, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: “Thựctrạng ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí ngày càng nghiêm trọng, nhất là

ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông, khu đô thị, khu dân

cư tập trung ở nông thôn… diễn ra trên diện rộng buộc chúng ta phải thayđổi tư duy phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường,phát triển bền vững” Thủ tướng cũng nhấn mạnh: “Kiên quyết không vì lợiích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên củangười dân”… Mặc dù có chủ trương quyết sách từ Đảng, Nhà nước, các cơquan chức năng, nhưng để những chủ trương, nghị quyết về môi trường đivào cuộc sống, cần có sự tham gia của thêm nhiều các cơ quan chức năngtrong đó có báo chí

Thực trạng môi trường ô nhiễm do nhiều nguyên nhân, nhưng chủyếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức không đúng đắn và đầy đủ vềmôi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là nhiệm

vụ quan trọng, cấp thiết, cần sự chung tay và nhiệt tâm của cả cộng đồng xãhội, cả nhân loại trên toàn cầu Trong rất nhiều nhiệm vụ và thách thức đặt

ra thì truyền thông về bảo vệ môi trường vẫn giữ một vai trò quan trọng, làmắt xích không thể thiếu nhằm nâng cao nhận thức và hành động của cộngđồng ứng phó với ô nhiễm môi trường

Trang 4

Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin, định hướng dư luận

xã hội, báo chí, truyền thông nói chung, truyền hình nói riêng đã và đangtiếp tục khẳng định vị thế quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại

Truyền hình với vai trò là cơ quan thông tin, tuyên truyền của Đảng,Nhà nước và được đánh giá là một trong những công cụ truyền thông quantrọng trong bảo vệ môi trường Với những ưu thế như: Thông tin nhanhchóng, cách thức thể hiện đa dạng, sinh động, phù hợp với nhiều nhóm xãhội khác nhau… truyền hình có nhiều thuận lợi hơn các loại hình truyềnthông khác trong thông tin, truyền thông thay đổi nhận thức, hành vi củangười dân trước vấn đề bảo vệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù có nhiều ưu thế như vậy nhưngthời gian qua truyền hình vẫn chưa phát huy được hết thế mạnh của mìnhtrong việc phản ánh vấn đề ô nhiễm môi trường Cụ thể, ý thức của cánhân, cũng như tập thể hay những cơ quan xí nghiệp liên quan nhiều đếnvấn đề xả thải, gây ô nhiễm… trên truyền hình chưa được khai thác triệt để

và thể hiện một cách quyết liệt; không ít tác phẩm chất lượng chưa nhưmong mỏi, khán giả chưa thật hào hứng đón đợi Vậy làm thế nào để cónhiều hơn nữa những chương trình về ô nhiễm môi trường được phân tíchmột cách sâu sắc, thuyết phục; được thể hiện sinh động, dễ hiểu? Làm thếnào để khán giả xem truyền hình đặc biệt là các cơ quan, xí nghiệp có nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường hiểu nhiều hơn thực trạng và từ đó tự điềuchỉnh hành vi của mình, cơ quan mình nhằm giảm thiểu tình trạng này? góp phần trả lại sự trong lành của môi trường sống?

Trước thực tế này, tác giả đã chọn vấn đề: “Truyền hình với vấn đề

ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình

với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ trả lời một cách thấu đáo, toàn diệnnhững câu hỏi đã nêu ra ở trên

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu tài liệu để nghiên cứu về đề tài, tôithấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu cụ thể việcthông tin, tuyên truyền vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện naytrên truyền hình Tuy nhiên, cũng có một số công trình nghiên cứu khoahọc như sách, luận văn, giáo trình, bài giảng liên quan gần với đề tài, có thểtham khảo, xin tóm lược như sau:

* Những vấn đề chung về nhiệm vụ, vai trò của truyền thông, truyền hình với ô nhiễm môi trường:

- Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 06 năm 1998 của Bộ Chính trị về

“Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định rõ: Bảo vệ môi trường là vấn đề sốngcòn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắnliền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh

vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới

- Quyết định số 256/2003/QĐTTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 vềviệc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020, trong đó xác định:

“Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể táchrời của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảmphát triển bền vững đất nước Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hàihòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đầu tư bảo vệ môi trường

là đầu tư cho phát triển bền vững”

- Nghị quyết 41NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Bộ Chínhtrị về “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước” đã nhấn mạnh vai trò của truyền thông nói chung, báochí nói riêng trong công tác bảo vệ môi trường Đặc biệt, giải pháp đẩymạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệmbảo vệ môi trường cho quần chúng nhân dân” đã được đưa lên vị trí hàng

Trang 6

đầu Báo chí truyền hình là một trong những phương tiện hữu hiệu để thựchiện nhiệm vụ đó

- Luật bảo vệ môi trường các năm 1994, 2005, 2014 của nước CộngHòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều nêu rõ quy định về hoạt động bảo vệmôi trường, chính sách, biện pháp, nguồn lực để bảo vệ môi trường, quyền

và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường.Tất cả mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân trong nước, người ViệtNam ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài sinh sống, hoạt động trênlãnh thổ Việt Nam đều phải tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường

- Báo cáo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 –2020” của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội Đảng toànquốc lần thứ XI

Báo cáo trích dẫn nội dung Bảo vệ và cải thiện chất lượng môitrường, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chốngthiên tai như một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, báo cáo nhấnmạnh cần đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Đưa nộidung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án Đẩy mạnh xã hội hóacông tác bảo vệ môi trường, phát triển các dịch vụ môi trường, xử lý chấtthải…12

- Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiệnmôi trường giai đoạn 2012 – 2015 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường,2012

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là khắc phục tình trạng ônhiễm, cải thiện và phục hồi chất lượng môi trường tại các khu vực bị ônhiễm, suy thoái; ngăn chặn sự phát sinh của các khu vực bị ô nhiễm, suythoái mới để đảm bảo sức khỏe cộng đồng và góp phần vào sự nghiệp pháttriển bền vững của đất nước, cụ thể: Khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi

Trang 7

trường đối với 47 làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêmtrọng; Cải thiện và phục hồi môi trường đối với 100 khu vực bị ô nhiễmmôi trường đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu gâyra; 100% các dự án thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên, xảtrực tiếp ra 03 lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu và hệ thống sôngĐồng Nai đã xây dựng dự án đầu tư được triển khai.

- Đề án Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môitrường nông thôn giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn năm 2006, mục tiêu của Đề án là:

Về cấp nước: 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạthợp vệ sinh, trong đó có 50% sử dụng nước sạch đạt Tiêu chuẩn09/2005/QĐ-BYT ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ Y tế với số lượng 60lít nước/người/ngày Về vệ sinh môi trường: 70% số hộ gia đình ở nôngthôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 70% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trạihợp vệ sinh Tất cả các nhà trẻ, trường học, trạm xá, chợ, trụ sở xã và cáccông trình công cộng khác ở nông thôn có đủ nước sạch và nhà tiêu hợp vệsinh Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, đặc biệt là các làngnghề chế biến lương thực, thực phẩm

* Những nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Viết về vấn đề ô nhiễm môi trường có nhiều sách, luận văn, khóaluận, bài viết, các đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoàinước đề cập Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan

hệ giữa truyền thông và vấn đề ô nhiễm môi trường Qua khảo sát của tácgiả, những năm gần đây mới chỉ có một số nghiên cứu dưới dạng báo cáokhoa học, khóa luận, luận văn thạc sỹ đề cập đến tới, tuy nhiên các nghiêncứu này cụ thể hóa vấn đề ô nhiêm môi trường ở các mức độ khác nhau, cóthể kể đến một số công trình tiểu biểu như sau:

- Luận văn thạc sỹ “Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay” (2006)của Mai Thị Dung tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 8

Trong cuốn luận văn này, tác giả đã khái quát sơ lược về công táctuyên truyền về đề tài môi trường trên một số tờ báo in như: Báo Lao động,Báo Nông thôn Ngày nay, Báo Tài Nguyên và Môi trường, đồng thờikhẳng định vai trò của báo in đối với bảo vệ môi trường tự nhiên Trên cơ

sở khảo sát thực trạng phản ánh của cáctờ báo tuyên truyền về bảo vệ môitrường, luận văn đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng thông tin báo chí viết về môi trường

- Luận văn thạc sỹ Truyền thông đại chúng: “Báo chí Đồng Nai bảo

vệ lợi ích của người lao động trong các khu công nghiệp” (2007) của ĐỗThị Hải Yến tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Luận văn tiếp cận vấn đề ở góc độ vai trò của các cơ quan báo chí –truyền thông, cụ thể là Báo Đồng Nai, Báo Lao động Đồng Nai, Đài Phátthanh – Truyền hình Đồng Nai với việc bảo vệ lợi ích của người lao động ởcác khu công nghiệp, trong đó nhấn mạnh quyền lợi của người lao động làđược hưởng môi trường làm việc trong lành Qua đó, luận văn chỉ rõ thựctrạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp của Đồng Nai được đăngtải trên báo chí hiện nay

- Luận văn “Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trên báo in hiện nay”(2011) của ThS Phạm Thị Minh Thắm, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Qua khảo sát, luận văn đã tạo dựng bức tranh tổng thể về báo in vớivấn đề tuyên truyền về bảo vệ môi trường Trên cơ sở đó, tác giả tổng kết,đánh giá quá trình phản ánh của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đẩy mạnh và nângcao hiệu quả tuyên truyền về hoạt động này trên báo in nước ta

- Luận văn Thạc sỹ “Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Nai với vấn

đề môi trường” (2014) của Thái Hoàng Sơn, Học viện Báo chí và Tuyêntruyền

Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực trạng chất lượng thông tin củacác tác phẩm báo chí về vấn đề môi trường đã được phát sóng trong các

Trang 9

chương trình của Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Nai và mức độ hàilòng của khán giả Đồng Nai khi xem các chương trình về môi trường; đánhgiá khách quan về những thành công hạn chế của Đài Phát thanh – Truyềnhình Đồng Nai trong thông tin về vấn đề môi trường Bên cạnh việc khẳngđịnh vai trò của báo chí trong truyền thông về vấn đề môi trường trên cơ sởkhảo sát thực tiễn, luận văn đã cung cấp những dữ liệu thực tế, xác thực, cụthể về vấn đề môi trường, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm cải tiếncách thức tổ chức thông tin về vấn đề môi trường đạt hiệu quả cao hơn chocác cơ quan báo chí hiện nay

- Báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhận thức và tiếp cận thông tin vềbiến đổi khí hậu của người dân hiện nay” do ThS Dương Thu Hương, Họcviện Báo chí và Tuyên truyền thực hiện năm 2013

Báo cáo dựa trên việc phân tích số liệu từ cuộc điều tra quy mô toànquốc của Dự án Climate Asia thuộc Tổ chức BBC Media action với cỡ mẫuđược chọn là 3486 hộ gia đình tại 7 khu vực từ Bắc vào Nam Kết quả phântích số liệu từ cuộc điều tra cho thấy tỷ lệ người dân đã nghe đến cụm từBĐKH hoặc các thông tin liên quan chiếm 58%; gần ¼ số người được hỏitrả lời chưa nghe và 16% số người nghe nhưng không hiểu gì Cũng theotác giả, một trong những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cho người dân

là tập trung ưu tiên chiến lược truyền thông đến các nhóm hiện nay đang có

ít cơ hội được tiếp cận các thông tin về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môitrường, địa phương hóa các chiến lược truyền thông, hướng tới truyềnthông thay đổi hành vi một cách bền vững

- Công trình nghiên cứu “Thực trạng đưa tin về biến đổi khí hậu trêntruyền hình” của của khoa Xã hội học – Học viện Báo chí và Tuyên truyềnphối hợp với viện FES năm 2013

Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong phântích nội dung văn bản, hình ảnh truyền thông Các tác giả đã chỉ ra việctruyền hình phản ánh về biểu hiện, nguyên nhân của biến đổi khí hậu rất đa

Trang 10

dạng trong đó có nguyên nhân từ ô nhiễm môi trường; đồng thời đưa rakhuyến nghị đối với nhà báo, các cơ quan báo chí nhằm nâng cao chấtlượng tác phẩm truyền hình về biến đổi khí hậu nhằm giúp công chúngnâng cao nhận thức và có hành vi đúng đắn ứng phó với biến đổi khí hậu

- Công trình nghiên cứu: “Thực trạng đưa tin về biến đổi khí hậu trêntruyền hình” của TS Phạm Hương Trà và ThS Nguyễn Thị Tuyết Minhthực hiện năm 2013 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng có đề cậpđến vấn đề bảo vệ môi trường

Theo đó, các tác giả đã tìm hiểu thực trạng đưa tin về vấn đề biến đổikhí hậu dựa trên phân tích 40 tác phẩm báo chí truyền hình của VTV1 vàTruyền hình Vĩnh Long 1 40 tác phẩm xoay quanh đề tài Biến đổi khí hậuvới các chủ đề: Hội nghị của các cấp ngành về chống Biến đổi khí hậu; cáchoạt động chống biến đổi khí hậu trong cộng đồng; các mô hình kinh tế -công nghệ chống biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; những kết quả vàbáo cáo mới nhất về thực trạng biến đổi khí hậu; những thiệt hại do biếnđổi khí hậu gây nên… Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thực trạng

và những hệ lụy của biến đổi khí hậu là vấn đề cần được tuyên truyền sâurộng để nâng cao nhận thức của người dân nhưng lại rất ít được chú trọngtrên truyền thông

- Luận văn Thạc sỹ Xã hội học “Nhận thức nhu cầu thông tin về biếnđổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông hiện nay” của NguyễnThị Xuân Nguyên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2014

Trong luận văn, tác giả đã làm rõ một số khái niệm: nhận thức, nhucầu, thông tin, truyền thông, truyền thông đại chúng, biến đổi khí hậu, môitrường; khảo sát, mô tả được nhận thức, nhu cầu thông tin của đội ngũ làmcông tác truyền thông về biến đổi khí hậu; phân tích được các yếu tố tácđộng đến nhận thức của đội ngũ làm truyền thông Từ đó đề xuất một sốgiải pháp góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ làm truyền thông vềvấn đề này

Trang 11

- Luận văn Thạc sỹ “Truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ truyền thông

về vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Thảo, Họcviện Báo chí và Tuyên truyền (2015)

Đề tài trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn truyền thông về vấn đềbiến đổi khí hậu; làm rõ thực trạng truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậutrên truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ hiện nay; đánh giá những kết quả vàhạn chế trong công tác truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu, đồng thời

đề xuất một số giải pháp đổi mới nội dung, hình thức truyền thông ứng phóvới biến đổi khí hậu Thực chất, luận văn không phân tích sâu về thực trạng

ô nhiễm môi trường nhưng khi phân tích các tác phẩm về biến đổi khí hậuđược đưa trên truyền hình thì luận văn cũng đưa ra các biểu hiện về biếnđổi khí hậu có nhiều nét tương đồng với biểu hiện của ô nhiễm môi trường

Từ việc khảo sát các đề tài nghiên cứu trên đây cho thấy, có khánhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài bảo vệ môi trường tựnhiên Tuy nhiên, các công trình đều nghiên cứu một cách chung chung vềvấn đề bảo vệ môi trường hoặc nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyềnthông với biến đổi khí hậu, có đề cập đến một phần về thực trạng vấn đề ônhiễm môi trường trên một loại hình báo chí, và cho đến nay, vẫn chưa có

một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về “Truyền hình với vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” Đây là đề tài không trùng lặp

với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào đã được công bố trước đây Trong luậnvăn, tác giả xin sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước và coi đó làtiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, phântích, đánh giá công tác truyền thông, nhu cầu của công chúng cũng như nhucầu được trang bị những kỹ năng truyền thông về ô nhiễm môi trường củanhững người làm báo chí truyền hình

Luận văn góp phần đúc kết về mặt lý luận, từ đó điều chỉnh hoạtđộng thực tiễn, cụ thể là góp phần giúp cho công tác truyền thông về vấn đề

Trang 12

ô nhiễm môi trường trên truyền hình được thực hiện hiệu quả hơn Bêncạnh đó, việc đi sâu phân tích để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, đề xuấtcủa công chúng đối với hoạt động truyền thông về ô nhiễm môi trường,giúp cho các nhà báo truyền hình, các cơ quan báo chí có thêm thông tin đểnghiên cứu, ứng dụng vào hoạt động thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn truyền thông về

vấn đề ô nhiễm môi trường trên truyền hình

- Thứ hai: Làm rõ thực trạng truyền thông về vấn đề ô nhiễm môi

trường trên truyền hình hiện nay

- Thứ ba: Đánh giá những kết quả và hạn chế trong công tác truyền

thông về vấn đề ô nhiễm môi trường trên truyền hình

- Thứ tư: Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp nhà báo, các cơ quan

báo chí nói chung và Đài THVN nói riêng có cách thông tin đúng, trúng,hấp dẫn về vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam trên truyền hình

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về việc thông tin về vấn đề ô nhiễm môitrường trên truyền hình hiện nay

Ngày đăng: 08/03/2022, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w