Chương trình môn Lịch sử và Địa lí tích hợp nội dung giáo dục lịch sử,địa lí và một số nội dung văn hoá, xã hội trong các kết nối về không gian và thờigian; tích hợp nội dung bảo vệ môi
Trang 1UBND TỈNH BÌNH PHƯỚC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH
Bình Phước, tháng 01 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH MÔN LỊCH SỬ VÀĐỊA LÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
I Quan điểm xây dựng Chương trình môn Lịch sử và Địa lí
II Mục tiêu môn Lịch sử và Địa lí
III Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù môn Lịch sử và Địa lí
IV Nội dung chương trình môn Lịch sử và Địa lí
V Phương pháp giáo dục môn Lịch sử và Địa lí
PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHƯNG VỀ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂUHỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC HỌC SINH
I Một số yêu cầu khi dạy học Lịch sử chương trình hiện hành ở tiểu họctheo hướng phát triển năng lực HS
1 Quan niệm về tổ chức dạy học Lịch sử theo định hướng phát triển nănglực HS
2 Vì sao phải dạy học lịch sử ở trường tiểu học theo hướng phát triển nănglực
3 Đặc điểm và bản chất của dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực
I Vận dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triểnnăng lực HS
1 Định hướng đổi mói phương pháp dạy học Lịch sử ở tiểu học theo hướngphát triển năng lực
2 Vì sao phải vận dụng các phương phápdạy học lịch sử theo hướng pháttriển năng lực?
3 Vận dụng các phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát triển nănglực HS
Trang 3II Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học lịch sử theo định hướng pháttriển năng lực học sinh
1 Vì sao phải vận dụng các hình thức tổ chức dạy học lịch sử theo hướngphát triển năng lực HS
2 Thực hiện các hình thức tổ chức dạy học lịch sử theo định hướng pháttriển năng lực HS
III Một số kế hoạch bài học minh họa
PHẦN IV KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN LỊCH sử VÀ ĐỊA LÍ Ở TIÊUHỌC (PHẦN LỊCH SỬ) THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌCSINH
I Một số vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá môn Lịch sử và Địa lí theo địnhhướng phát triển năng lực HS
1 Vì sao phải kiểm tra, đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực HS
2 Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Lịch sử và Địa lí theo định hướng pháttriển năng lực
II Xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển nănglực HS
1 Kĩ thuật biên soạn câu hỏi môn Lịch sử và Địa lí theo định hướng pháttriển năng lực HS
2 Cách biên soạn đề kiểm tra định kỳ môn Lịch sử và Địa lí với các câu hỏitheo 4 mức
III VÍ DỤ MINH HOẠ
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”
Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới cãn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghịquyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương phápdạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổimới phương pháp dạy học theo hướng này
Như vậy, để đạt được mục tiêu của nền giáo dục tiên tiến cũng như đáp ứngđược quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo, cần phải hướng tới cách dạytheo hướng phát triển năng lực của HS Giống như các môn học khác, dạy học lịch
sử ở tiểu học cũng phải theo xu hướng đó, vì vậy, chúng tôi viết tài liệu: Dạy họclịch sử theo định hướng phát triển năng lực HS với hi vọng hỗ trợ giáo viên trongviệc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học
Mặc dù rất cố gắng trong việc biên soạn, nhưng chắc chắn tài liệu khôngtránh khỏi những sơ suất Chúng tôi trân trọng đón chờ những ý kiến đóng góp củacác đồng nghiệp và các bạn đọc để sửa chữa cho hoàn thiện
NHÓM TÁC GIẢ
Trang 5PHẦN I HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
I Quan điểm xây dựng Chương trình môn Lịch sử và Địa lí
Chương trình môn Lịch sử và Địa lí cấp tiểu học tuân thủ các quy định nêutrong Chương trình tổng thể, đồng thòi xuất phát từ đặc điểm môn học, nhấn mạnhmột số quan điểm sau:
1 Chương trình môn Lịch sử và Địa lí tích hợp nội dung giáo dục lịch sử,địa lí và một số nội dung văn hoá, xã hội trong các kết nối về không gian và thờigian; tích hợp nội dung bảo vệ môi trường, giáo dục giá trị nhân vãn; gắn lí thuyếtvới thực hành, gắn nội dung giáo dục với thực tiễn nhằm hình thành, phát triển ở
HS năng lực đặc thù của môn học và các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung đượcquy định trong Chương trình tổng thể Chương trình kết nối với các môn học vàhoạt động giáo dục khác như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức, Hoạt độngtrải nghiệm, giúp HS vận dụng tích hợp kiến thức, lã năng của nhiều môn học vàhoạt động giáo dục để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống, phù hợp vớilứa tuổi
2 Trên cơ sở kế thừa, phát huy ưu điểm của môn Lịch sử và Địa lí trongChương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tiếp thu kinh nghiệm của các nướctiên tiến trên thế giới, chương trình môn Lịch sử và Địa lí chọn lọc những kiếnthức cơ bản và sơ giản về tự nhiên, dân cư, một số hoạt động kinh tế, lịch sử, vănhoá của các vùng miền, đất nước Việt Nam và thế giói; các sự kiện, nhân vật lịch
sử phản ánh những dấu mốc lớn của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộcViệt Nam Nội dung môn học vừa bảo đảm tính khoa học, vừa phù hợp với đặcđiểm tâm sinh tí và trình độ nhận thức của HS
3 Chương trình được thiết kế theo phạm vi mở rộng dần về không gian địa1í và không gian xã hội, từ địa lí, lịch sử của địa phương, vùng miền, đất nước ViệtNam đến địa tí, lịch sử của các nước láng giềng, khu vực và thế giới
4 Chương trình lựa chọn những nội dung thiết thực đối với việc hình thành,
Trang 6phát triển phẩm chất, năng lực của HS thông qua phương pháp tổ chức các hoạtđộng học tập tích cực như: tìm hiểu các vấn đề lịch sử và địa lí, luyện tập và thựchành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thựctrong đời sống),
5 Chương trình được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt để có thể điều chỉnhcho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương; phù hợp vói khảnăng của giáo viên, với các nhóm đối tượng HS khác nhau và thực tiễn dạy học ởnhà trường, song vẫn bảo đảm trình độ chung của giáo dục phổ thông trên cả nước,tiếp cận dần với trình độ khu vực và thế giới
II Mục tiêu môn Lịch sử và Địa lí
Môn Lịch sử và Địa lí ở cấp tiểu học hình thành, phát triển ở HS năng lựclịch sử và địa lí với các thành phần: nhận thức khoa học lịch sử và địa lí; tìm hiểulịch sử và địa lí; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần hìnhthành và phát triển các năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và họp tác, giảiquyết vấn đề và sáng tạo
Môn Lịch sử và Địa lí ở cấp tiểu học giúp HS khám phá thế giới tự nhiên và
xã hội xung quanh để bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quêhương, đất nước; ý thức bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoáViệt Nam; tôn trọng sự khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia và dân tộc, từ đógóp phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ,trung thực, trách nhiệm
III Yêu cầu cần đạt về năng lục đặc thù môn Lịch sử và Địa lí
Yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung Môn Lịch sử
và Địa lí cấp tiểu học góp phần hình thành, phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu
và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quyđịnh tại Chương trình tổng thể
Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù Môn Lịch sử và Địa lí hình thành vàphát triển ở HS năng lực lịch sử và địa lí, biểu hiện đặc thù của năng lực khoa học
Trang 7với các thành phần: nhận thức khoa học lịch sử và địa lí; tìm hiểu lịch sử và địa lí;vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
1 Năng lực Nhận thức khoa học lịch sử và địa lí
1.1 Biểu hiện
- Kể, nêu, nhận biết được các hiện tượng địa lí, sự kiện lịch sử diễn ra trongcuộc sống theo mối quan hệ không gian - thời gian; một số giá trị, truyền thống kếtnối con người Việt Nam; một số nền văn minh; một số vấn đề khó khăn mà nhânloại đang phải đối mặt
- Trình bày, mô tả được một số nét chính về lịch sử và địa lí của địa phương,vùng miền, đất nước, thế giới
- Nêu được cách thức con người khai thác, sử dụng và bảo vệ tự nhiên
1.2 Thể hiện yêu cầu cần đạt trong nội dung Chương trình
- Các kiến thức lịch sử và địa lí được tích họp trong các chủ đề về địaphương, vùng miền theo sự mở rộng về không gian địa lí và xã hội Điều đó đảmbảo cho HS có được hiểu biết cơ bản về lịch sử và địa lí Ví dụ, đối với mỗi vùngmiền, địa phương, nội dung chương trình quy định (ở mức độ đơn giản) những vấn
đề cơ bản nhất về địa lí (thiên nhiên, con người, sản xuất ), về lịch sử (sự kiện,nhân vật tiêu biểu ), văn hóa (tập quán, lễ hội, di sản nổi bật ) Ví dụ, với chủ đềTây Nguyên, HS được tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất, phù hợp đặc điểm tâm lí
HS tiểu học về Tây Nguyên đó là Thiên nhiên, Dân cư và một số nét văn hoá, Lễhội cồng chiêng Tây Nguyên
- Nội dung lịch sử, địa lí được quy định trong nội dung chương trình lớp 5 lànhững vấn đề cơ bản, cốt lõi, phù hợp đối tượng tâm - sinh lý HS tiểu học Có thểnói đây là những kiến thức cơ bản nhất về lịch sử, địa lí, văn hóa của đất nước vàthế giới mà mọi công dân đều phải nắm được, đồng thời là nền tảng để HS có thểhọc tiếp lên ở bậc trung học cơ sở
2 Năng lực tìm hiểu lịch sử và địa lí
Trang 82.1 Biểu hiện
- Biết quan sát, tra cứu tài liệu để tìm thông tin hoặc thực hiện điều tra ởmức độ đơn giản để tìm hiểu về các sự kiện lịch sử và hiện tượng địa lí; biết đọclược đồ, biểu đồ, bản đồ tự nhiên, dân cư, ở mức đơn giản
- Từ những nguồn tư liệu, số liệu, biểu đồ, lược đồ, bản đồ, nêu nhận xét
về đặc điểm và mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử và các đối tượng, hiện tượngđịa lí
- Trình bày được ý kiến của mình về một số sự kiện, nhân vật lịch sử và hiệntượng địa lí,
- So sánh, nhận xét, phân biệt được sự đa dạng về tự nhiên, dân cư, lịch sử,văn hoá ở một số vùng miền; nhận xét được tác động của thiên nhiên đến hoạtđộng sản xuất của con người và tác động của con người đến tự nhiên
2.2 Thể hiện yêu cầu cần đạt trong nội dung Chương trình
Đối với mỗi nội dung cụ thể trong chương trình, yêu cầu khai thác thông tintrên cơ sở tư liệu, thiết bị dạy học, cũng như thu thập thông tin từ thực tế, từ cácnguồn đa dạng, luôn được coi trọng Ví dụ, các yêu cầu cần đạt trong chương trìnhlịch sử và địa lí lớp 4 như “Quan sát và mô tả những nét chính về nhà ở, trang phục
và thức ăn ở địa phương”, “Sưu tầm, sử dụng tranh ảnh và giới thiệu được một sốthành tựu tiêu biểu của vãn minh sông Hồng (trống đồng, thành cổ Loa)”, “Chọn
và giới thiệu một công trình kiến trúc tiêu biểu ở Đại Nội Huế” Năng lực tìm tòi
và khám phá còn thể hiện ở các yêu cầu phân tích, so sánh đánh giá sự kiện, nhânvật lịch sử, mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, giữa thiên nhiên và tổ chức
xã hội mà chương trình quy định
Năng lực tìm tòi và khám phá còn thể hiện ở các yêu cầu phân tích, so sánhđánh giá sự kiện, nhân vật lịch sử, mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, giữathiên nhiên và tổ chức xã hội mà chương trình quy định Năng lực tìm tòi khámphá này được thể hiện qua các yêu cầu về thu thập thông tin/ hình thành kiến thức,
kĩ năng, phẩm chất thông qua việc chủ động thu thập thông tin từ nhiều nguồn tư
Trang 9liệu khác nhau Đối với mỗi nội dung cụ thể trong chương trình, yêu cầu khai thácthông tin trên cơ sở tư liệu, thiết bị Năng lực tìm tòi và khám phá còn thể hiện ởcác yêu cầu phân tích, so sánh đánh giá sự kiện, nhân vật lịch sử, mối quan hệ giữathiên nhiên và con người, giữa thiên nhiên và tổ chức xã hội mà chương trình quyđịnh Có thể lấy một số ví dụ: “Đánh giá được ở mức độ đơn giản tài năng và vaitrò của Trần Quốc Tuấn trong kháng chiến chống Mông - Nguyên thông qua một
số câu chuyện”, “Đánh giá được ở mức độ đơn giản tài năng và vai trò của Lê Lợi
và Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn thông qua một số câu chuyện”, “Đánhgiá được ở mức độ đơn giản ý nghĩa của chiến dịch Hồ Chí Minh đối với việc giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước thông qua một số bài hát
3 Năng lực Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
3.1 Biểu hiện
- Xác định được vị trí của một địa điểm, một phạm vi không gian trên bảnđồ; sử dụng được đường thời gian để biểu diễn tiến trình phát triển của sự kiện, quátrình lịch sử
- Sử dụng được biểu đồ, số liệu, để nhận xét về một số sự kiện lịch sử, hiệntượng địa lí
- Biết sưu tầm và sử dụng các nguồn tư liệu lịch sử và địa lí để thảo luận vàtrình bày quan điểm về một số vấn đề lịch sử, địa lí, xã hội đơn giản
- Vận dụng được kiến thức lịch sử và địa lí đã học để phân tích và nhận xét ởmức độ đơn giản tác động của một sự kiện, nhân vật lịch sử và hiện tượng địa lí, đối với cuộc sống hiện tại
- Đề xuất được ý tưởng và thực hiện được một số hành động như: sử dụngtiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá,
3.2 Thể hiện yêu cầu cần đạt trong nội dung Chương trình
Năng lực bộ môn này được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu như biếttrình bày quan điểm về một số vấn đề lịch sử và địa lí, bước đầu biết đề xuất giảipháp cho những vấn đề cấp bách của đời sống kinh tế - xã hội, giải thích ở một
Trang 10mức độ đơn giản một số vấn đề lịch sử và địa lí
Bày tỏ quan điểm, thể hiện suy nghĩ cá nhân về một số vấn đề kinh tế - xãhội (phù hợp đặc điểm lứa tuổi) trên cơ sở kiến thức lịch sử, địa lí, văn hóa đượctrang bị bởi chương trình, là một yêu cầu nổi bật về hình thành, phát triển năng lực
HS mà chương trình đặt ra Một số yêu cầu cần đạt thể hiện rõ điều này “Bày tỏđược cảm nghĩ về hình dạng đất nước, các biểu tượng quốc gia”, “Bày tỏ được thái
độ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam”, “Bày tỏ được thái độ tôn trọng đối
sự đa dạng văn hoá ở các vùng miền của Việt Nam”, “Bày tỏ thái độ đối với chiếntranh và hoà bình thông qua việc thể hiện một thế giới trong mơ của em qua hìnhthức vẽ tranh, viết thư, kể chuyện, ”
Góp phần hình thành năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, mà trước hết
là năng lực phát hiện, lựa chọn tính cấp bách của các vấn đề thực tiễn cần quantâm Đó cũng là một mục tiêu mà chương trình lịch sử và địa lí lớp 5 hướng tới Cóthể chỉ ra ở đây những vấn đề rất cơ bản mà chương trình đề cập (và cũng chỉ lànhững ví dụ, những gợi ý điển hình): bảo vệ chủ quyền biển đảo, tôn trọng sự đadạng văn hóa giữa các dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới, vấn đề bảo vệ hòa bình,
ô nhiễm môi trường, chống biến đổi khí hậu Trên cơ sở những gọi ý này, giáoviên và nhà trường sẽ tổ chức để HS phát hiện, đề xuất giải quyết những vấn đềcấp bách (nhưng phù hợp đặc điểm đối tượng) của địa phương
Đề xuất (ở mức độ đơn giản) các giải pháp cho những vấn đề cấp bách màcuộc sống đặt ra Quan điểm dạy học hiện đại này được thể hiện rất rõ trong nộidung của chương trình lịch sử và địa lí cấp tiểu học Gắn liền với một vấn đề lịch
sử, địa lí, xã hội được giới thiệu trong nội dung chương trình luôn luôn kèm theomột yêu cầu về giải pháp đối với vấn đề đặt ra Ví dụ “Đề xuất ở mức độ đơn giảnmột số biện pháp khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”, “Đề xuất được ởmức độ đơn giản một số biện pháp giải quyết khó khăn của nhân loại”,
IV Nội dung chương trình môn Lịch sử và Địa lí
1 Việc lựa chọn nội dung kiến thức
Trang 11- Nội dung kiến thức được lựa chọn trong nội dung chương trình Lịch sử vàĐịa lí bao gồm kiến thức địa lí, kiến thức lịch sử, kiến thức văn hóa, xã hội Ví dụ,mạch nội dung “Miền núi và trung du Bắc Bộ” bên cạnh nội dung kiến thức mangnhiều yếu tố lịch sử như “Chiến khu - căn cứ địa Việt Bắc”, hoặc mang nhiều yếu
tố địa lí như “Thiên nhiên”, hoặc “Dân cư”, hoặc “một số phương thức khai thác tựnhiên phục vụ cho sản xuất của con người”, mạch nội dung này còn chứa đựngnhiều yếu tố của kiến thức văn hóa - xã hội như “giỗ Tổ Hùng vương”, “ lễ hộiGầu Tào, hát then, múa xoè Thái, lễ hội Lồng Tồng, chợ phiên vùng cao” Sựphong phú, đa dạng trong kiến thức liên môn, đa môn này là một điểm mới, khácbiệt của Chương trình năm 2018 so với Chương trình năm 2006, một chương trinhchủ yếu đề cập đến nội dung kiến thức lịch sử và nội dung kiến thức địa lí
Mặt khác, sự đa dạng, phong phú trong loại hình nội dung kiến thức như vậy
sẽ đem lại cho HS một lượng tri thức văn hóa có tính tổng hợp với những đơn vịkiến thức môn học/ngành học không chuyên sâu, nhưng là những kiến thức thiếtthực, phổ thông, cần thiết cho sự hội nhập xã hội, và điều quan trọng nhất là nóphù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi HS tiểu học
Việc lựa chọn nội dung kiến thức lịch sử và địa lí của Chương trình đượcthực hiện trên quan điểm “chuyển từ diện sang điểm” Đây cũng là một điểm mới
so với chương trình hiện hành Toàn bộ nội dung kiến thức lịch sử của chươngtrình không còn là “Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối
có hệ thống theo dòng thời gian lịch sử của Việt Nam từ buổi đầu dựng nước chotới ngày nay” (văn bản chương trình 2006) mà chỉ là những sự kiện/ hiện tượnglịch sử tiêu biểu, xảy ra ở chính mỗi vùng, miền cụ thể Ví dụ, mạch nội dung
“Miền núi và trung du Bắc Bộ” đề cập tới hai nội dung/sự kiện lịch sử đã xảy ra ởvùng đất này “Đền Hùng và giỗ Tổ Hùng vương” và “Chiến khu, căn cứ địa ViệtBắc” Hoặc với mạch nội dung “Nam Bộ” thì nội dung lịch sử ở đây là “Địa đạo
Củ Chi”, và lịch sử TP Hồ Chí Minh được đề cập với sự thay đổi tên gọi “GiaĐịnh, Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh”
2 Cách cấu trúc các mạch nội dung kiến thức
Trang 12- Cấu trúc mạch nội dung kiến thức mang tính tích họp cao, trước hết là tíchhợp giữa kiến thức lịch sử và kiến thức địa lí Mỗi mạch nội dung cụ thể đều baogồm những mạch nội dung nhỏ hơn, và mỗi mạch nội dung nhỏ này chứa đựngphần lớn hoặc kiến thức lịch sử, hoặc kiến thức địa lí, hoặc kiến thức văn hóa - xãhội Ví dụ, mạch nội dung “Miền núi và trung du Bắc Bộ” bao gồm các mạch nộidung về địa lí, về lịch sử và về văn hóa: Thiên nhiên; Dân cư và một số nét vănhóa; Đền Hùng và giỗ Tổ Hùng Vương; Chiến khu - căn cứ địa Việt Bắc Đây làmột đặc điểm khác biệt so với việc phân ra hai phần khá riêng biệt là phần Lịch sử
và phần Địa lí như trong thiết kế của Chương trinh 2008
- Tính tích hợp cao trong cách thiết kế các mạch nội dung kiến thức cònđược thể hiện rất rõ trong “hệ thống” yêu cầu cần đạt đối với mỗi mạch nội dungnhỏ Có thể, các mạch nội dung này thiên về nội dung kiến thức lịch sử, hay kiếnthức địa lí, hoặc kiến thức về văn hóa, nhưng các yêu cầu cần đạt của mạch nộidung đó lại là một sự tổng hợp các yêu cầu về kiến thức liên môn/ đa môn/ liênngành Ví dụ, yêu cầu cần đạt đối vói mạch nội dung nhỏ “Thăng Long - Hà Nội”(trong mạch nội dung “Đồng bằng Bắc Bộ”) đề cập tới một yêu cầu mang tính
“tổng hợp”, chỉ xét riêng về yếu tố kiến thức Yêu cầu cần đạt của mạch nội dungnày bao gồm: Sử dụng bản đồ/lược đồ xác định được vị trí của Thăng Long - HàNội; Phân tích được một số khó khăn và thuận lợi của Thăng Long - Hà Nội qualược trích một đoạn trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn; Nêu được một số tên gọikhác của Thăng Long - Hà Nội; Trình bày được những nét khái quát về lịch sử -văn hoá của Thăng Long - Hà Nội trong quá khứ và hiện tại thông qua một số ditích, công trinh tiêu biểu; Thể hiện được cảm xúc, có ý thức giữ gìn và phát huytruyền thống văn hoá của Thăng Long - Hà Nội
- Ví dụ rõ nhất là mạch nội dung “Tìm hiểu thế giới” mạch nội dung nàyđược cấu tạo bởi 03 mạch nội dung nhỏ hơn giúp cho HS tiểu học có một cái nhìnkhái quát nhất, cơ bản nhất và rất phù hợp lứa tuổi các em Đó là những mạch kiếnthức nhỏ: Các châu lục và đại dương thế giới, Dân số và các chủng tộc trên thếgiới, Một số nền văn minh nổi tiếng thế giới
Trang 13- Thứ ba, một số điểm khác biệt về nội dung kiến thức và thiết kế cấu trúcmạch nội dung giữa Chương trình năm 2018 và Chương trình năm 2006.
+ Lớp 5:
Cấu trúc CT 2006 là trình bày theo tiến trình lịch sử, ở lớp 5 là từ 1858 đếngiai đoạn thống nhất đất nước (sau 1975) Cấu trúc của CT 2018 là cấu trúc tíchhợp trong một mạch nội dung, cấu trúc theo vấn đề/chủ đề chứ không tuân thủ
“nghiêm ngặt” theo tiến trình lịch sử
Nội dung chương trình 2018 được tinh giản, chọn lọc hơn Một vấn đề mớiđược đưa vào nội dung chương trình: Tìm hiểu một số nền vãn minh cổ đại tiêubiểu; Các nhà nước đầu tiên ngoài Văn Lang - Âu Lạc: Phù Nam, Cham- pa; Bảo
vệ chủ quyền biển đảo của cha ông
V Phương pháp giáo dục môn Lịch sử và Địa lí
Đổi mới phương pháp/hình thức tổ chức dạy học Lịch sử và Địa lí cần quantâm tới mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu cần đạt của chương trình Phươngpháp dạy học/ hình thức tổ chức dạy học cần đa dạng, linh hoạt, sát thực tế nhàtrường, địa phương và đối tượng HS để thực hiện được mục tiêu, nội dung củachương trình
1 Giáo viên nắm chắc và thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả các phương
pháp dạy học tích cực, trong đó, đặc biệt quan tâm đến các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn là vấn đề có tính tiên quyết trong việc thực hiện hiệu quả
chương trình mới Chương trình Lịch sử và Địa lí năm 2018 đề cập tới một loạt cácphương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn (các yêu cầu này được lồng ghép trong
Trang 14các quy định cụ thể về mục tiêu cần đạt đối với mỗi nội dung/hoạt động giáo dục
cụ thể) Hệ thống các phương pháp dạy học đặc trưng của môn Lịch sử và Địa líđược thể hiện rất rõ trong nội dung chương trình lớp 4 Có thể kể ra ở đây một sốphương pháp cơ bản: các phương pháp về bản đồ/ lược đồ; phương pháp quan sát;dạy học nêu vấn đề; liên hệ thực tế; sưu tầm, giới thiệu tư liệu; kể chuyện lịch sử
2 Tổ chức cho HS chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức, biết cách suy luận, tìm tòi để phát hiện kiến thức mới.
Với quan điểm “lấy người học làm trung tâm” chương trình và sách giáokhoa hiện hành (chương trình 2006) đã được thiết kế theo hướng gọi ý cho giáoviên cách thức tổ chức hoạt động chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức cho HS
3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm, khai thác vốn sống của HS, áp dụng kiếnthức đã học vào giải quyết các tình huống của cuộc sống Yêu cầu tổ chức để HStrải nghiệm và bước đầu đề xuất được giải pháp cho một số vấn đề thực tiễn đãđược nội dung chương trình Lịch sử và Địa lí đặt ra Đây có thể coi là một đặcđiểm nổi bật về yêu cầu đổi mới hình thức tổ chức dạy học của chương trình này
Hoạt động trải nghiệm của HS được yêu cầu trong nội dung chương trình thểhiện qua nhiều phương diện:
- Tìm hiểu thực tế, khai thác kiến thức từ thực tế cuộc sống Với một nộidung riêng về “Địa phương em”, Chương trình Lịch sử và Địa lí đã tạo điều kiệnthuận lợi cho HS được trải nghiệm thực tế, được sử dụng, phát huy vốn sống củacác em trong quá trình được giáo viên tổ chức học tập và tìm hiểu Nội dung nàycũng tạo điều kiện để nhà trường và giáo viên chủ động sáng tạo xây dựng nộidung giáo dục một cách chủ động, phù hợp thực tiễn
- HS được khuyến khích thể hiện suy nghĩ độc lập, cũng như cảm xúc củamình trước một nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa ìí mà các em được tiếpcận trong chương trình “Hệ thống” các yêu cầu cần đạt trong nội dung chươngtrình luôn đặt “ra yêu cầu thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của HS Ví dụ, yêu cầu
“Bày tỏ cảm xúc về ý nghĩa ngày giỗ Tổ Hùng Vương”, “Bày tỏ cảm xúc về truyền
Trang 15thống hiếu học của dân tộc”, “Thể hiện cảm xúc, có ý thức giữ gìn và phát huytruyền thống văn hóa của Thăng Long - Hà Nội” Một số nội dung trong chươngtrình đặt ra/cho phép HS được lựa chọn vấn đề để trình bày, giới thiệu: “Chọn vàgiới thiệu về một món ăn, một loại trang phục hoặc một lễ hội ở địa phương”.
Một điểm nổi bật khác của nội dung chương trình Lịch sử và địa lí là địnhhướng cho HS suy nghĩ (trên cơ sở những nội dung kiến thức được học từ mônhọc) nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách được đặt ra trong thực tiễn cuộc sống.Những yêu cầu như vậy của chương trình vừa giúp cho HS từng bước hình thànhnăng lực giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tế “học đi đôi vói hành”,vừa có vai trò giáo dục ý thức trách nhiệm/ ý thức công dân với quê hương, cộngđồng Yêu cầu này cũng là một trong những vấn đề xuyên suốt trong nội dungchương trình Đây cũng có thể coi là những gợi ý điển hình cho tổ chức dạy họctheo phương pháp “nêu vấn đề” của lí luận dạy học hiện đại Có thể lấy ra ở đâymột số ví dụ: “Đề xuất được một số biện pháp bảo vệ thiên nhiên vùng đồng bằngBắc Bộ”; “Đề xuất được một số biện pháp để bảo vệ giữ gìn và phát huy giá trị củasông Hồng”, “Đề xuất ở mức độ đơn giản một số biện pháp để bảo vệ, gìn giữ các
di tích lịch sử”; “Đề xuất được một số biện pháp phòng chống thiên tai ở miềnTrung”; “ biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của phố cổ Hội An”
4 Đổi mới hình thức tổ chức dạy học môn Lịch sử và Địa lí
Từ mục tiêu chương trình, nội dung kiến thức, cách thức thiết kế nội dung,yêu cầu cần đạt… của chương trình cho thấy sự cần thiết phải đổi mới mạnh mẽhơn nữa hình thức tổ chức dạy học lịch sử và địa lí Một số hình thức tổ chức dạyhọc đã được các nhà trường ở những vùng có điều kiện thực hiện trong quá trìnhtriển khai chương trình hiện hành cần được đẩy mạnh một cách bài bản trong thựchiện chương trình mới: Học tập tại bảo tàng/di tích/ thực địa; Tổ chức câu lạc bộlịch sử, địa lí, gặp gỡ, giao lưu với nhân chứng lịch sử
PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Trang 16I Một số yêu cầu khỉ dạy học Lịch sử chương trình hiện hành ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh
1 Quan niệm về tồ chức dạy học Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh
1.1 Khái niệm năng lực và năng lực học tập lịch sử
- Năng lực: Đến nay, khái niệm năng lực vẫn còn nhiều cách diễn đạt khác
nhau Theo Đại từ điển tiếng Việt, năng lực là “những điều kiện đủ hoặc vốn có đểlàm một việc gì đó” Thái Duy Tuyên cho rằng, năng lực “là những đặc điểm tâm
lý của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một hoạt động nhấtđịnh” Các nhà phương pháp dạy học Lịch sử Liên Xô (trước đây) khẳng định:năng lực là “Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giátrị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáodục” (3) Phạm Minh Hạc cho rằng “Năng lực là “đặc điểm tâm lý của từng ngườichuyển tiềm năng, khả năng thành sức mạnh thực - tổ chức, sắp xếp các thành tốtâm lý tương ứng, tạo nên “công cụ tâm lý”- sức từng người thực hiện một việc nàođấy”
Trong tiếng Anh, năng lực hiểu theo nghĩa của từ “compentence” (năng lựchành động): Là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ (một hành động cụ thể)liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sựsẵn sàng hành động
Nói đến năng lực, các nhà Tâm lý học cũng phân biệt rõ khả năng, kĩ năng
và năng lực Khả năng là nói đến những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, khí chất, ý chí của con người cho phép họ thực hiện được một hành động nào đó Năng lực pháttriển trên nền tảng của khả năng và có mối quan hệ mật thiết với tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo Tri thức và kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết nhưngkhông phải là tất cả để hình thành năng lực trong lĩnh vực ấy có năng lực sẽ gópphần làm cho quá trình tiếp thu tri thức và rèn luyện kĩ năng diễn ra nhanh chóng
và thuận lợi hơn Các yếu tố thành phần của năng lực là kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
và trạng thái tâm lý (hào hứng, tính kiên trì, ) của chủ thể
Trang 17Qua những ý kiến trên, có thể hiểu: năng lực là một thuộc tính phức hợp, làdiểm hội tụ của những tri thức, kĩ năng kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động, tráchnhiệm đạo đức, ý chí về một lĩnh vực nhất định Năng lực được hình thành vàphát triển trong hoạt động Hoạt động là phương thức cơ bản để phát triển nănglực Nếu không tổ chức hoạt động và con người không hăng hái tham gia vào hoạtđộng thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển.
- Năng lực học tập lịch sử (năng lực môn học).
Từ quan niệm chung ở trên, chúng ta có thể hiểu năng lực học tập lịch sử lànhững tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm về một mặt nào đó và tinh thần, thái độ, ý chícủa HS trong hoạt động học tập Ví dụ năng lực vận dụng kiến thức bao gồm trithức về vận dụng (vận dụng bao gồm những hoạt động gì?), kĩ năng vận dụng (kĩnăng thực hiện các hoạt động đó) và tinh thần, thái độ trong vận dụng (hăng hái,tích cực, quyết tâm )
1.2 Tổ chức dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Tổ chức là “sắp xép các bộ phận cho ăn nhịp với nhau để toàn bộ là một cơcấu thống nhất” hoặc “chuẩn bị một việc để tiến hành mong mang lại kết quả tốtnhất” Tổ chức còn được hiểu là sắp đặt người, việc có kế hoạch để thực hiện mộtcông việc hay “tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự”
Từ định nghĩa trên có thể hiểu: Tổ chức là sự tập hợp, sắp xếp một nhómngười cùng thực hiện một nhiệm vụ chung để hoàn thành một mục tiêu chung Đó
là quá trình làm việc có mục đích và có kế hoạch
Dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là một quá trình sư phạmphức tạp mà bản chất của nó là sự nhận thức đặc thù của HS dưới sự điều khiển,hướng dẫn tổ chức của giáo viên Dạy học là hai hoạt động của một quá trình thốngnhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau Tổ chức dạy học là cách sắp xếp hoạtđộng dạy của giáo viên và hoạt động học của HS
Tổ chức dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực là cách sắp xếp, tổ
Trang 18chức các hoạt động dạy, học để đạt được mục tiêu hình thành kiến thức, phát triển
kĩ năng, định hướng thái độ, từ đó góp phần phát triển các năng lực chung, nănglực môn học và bồi dưỡng những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp cho các em
2 Vì sao phải dạy học lịch sử ở trường tiểu học theo hướng phát triển năng lực
2.1 Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và mục tiêu đào tạo con người Việt Nam
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là Cách mạng cộng nghệ 4.0
đã dẫn đến hệ quả quan trọng là xu thế toàn cầu hóa Nền kinh tế thế giới ngàycàng được quốc tế hóa cao và hình thành thị trường toàn thế giới Sự giao lưu traođổi văn hóa, du lịch, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao, sự hợp tác trên các lĩnhvực dân số, giáo dục, khoa học kĩ thuật, bảo vệ môi trường giữa các quốc gia, dântộc ngày càng phát triển và gắn bó chặt chẽ với nhau Điều đó tạo ra thuận lợi choViệt Nam cũng như các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm vận dụng nhữngthành tựu khoa học công nghệ vào phát triển đất nước Nêu bỏ lỡ thòi cơ, chúng ta
sẽ bị tụt hậu Song ngược lại, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng tạo ranguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia bịxâm phạm Gác thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu can thiệp vào nội bộ,gây mất ổn định chính trị-xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốcgia.
Chính vì vậy yêu cầu dựng nước và giữ nước luôn đi đôi vói nhau Songđiều kiện hiện nay để bảo vệ Tổ quốc phải xây dựng đất nước vững mạnh Muốnxây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải đào tạo những con người Việt Nam đáp ứng yêucầu rửa được “nỗi nhục nghèo khổ” Đó là “đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ, nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nănglực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đặc biệt, Nghị quyết 29- NQTW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI vềđổi mói căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo, tiếp tục khẳng định mục tiêu
Trang 19tổng quát: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng, hiệu quả giáo dục, đàotạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầuhọc tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và pháthuy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổquốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở,thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và phương thức giáodục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập
Như vậy, công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh hiện nay yêucầu phải đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, trong đó phẩm chất vànăng lực công dân là những yếu tố không thể thiếu
2.2 Kiến thức Lịch sử ở trường tiểu học với việc giáo đục thế hệ trẻ
Mục tiêu giáo dục của Lịch sử ở trường tiểu học là trang bị cho HS nhữngkiến thức cơ bản, cần thiết, tiêu biểu về lịch sử dân tộc Qua đó góp phẩn phát triển
ở HS các năng lực chung, năng lực môn học và giáo dục lòng yêu quê hương, đấtnước, truyền thống dân tộc cho các em… Từ mục tiêu chung, nội dung giáo dụclịch sử ở tiểu học phải thực hiện những yêu cầu cụ thể:
- Thứ nhất, bồi dưỡng kiến thức (hình thành kiến thức):
Đó là những kiến thức cơ bản, tối ưu, cần thiết cho việc hiểu biết khái quátcủa HS về lịch sử dân tộc Bao gồm các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiểu biểutương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựngnước cho đến nay Bồi dưỡng kiến thức là khâu quan trọng đầu tiên trong dạy họclịch sử Bởi vì, kiến thức chính là cơ sở rèn luyện kĩ năng, định hướng thái đệ đểqua đó góp phần hình thành, phát triển các năng lực và phẩm chất.
- Thứ hai, hình thành, phát triển kĩ năng học tập lịch sử:
Xuất phát từ đặc điểm của kiến thức lịch sử và quá trình nhận thức lịch sửcủa HS, trong dạy học ở tiểu học cần bước đầu hình thành và phát triển ở HSnhững kĩ năng học tập phù hợp như tri giác tài liệu, đồ dùng trực quan, hình dungtưởng tượng, nhớ, sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, tự học và vận
Trang 20dụng kiến thức Hình thành và phát triển các kĩ năng học tập bộ mồn có tầm quantrọng đặc biệt Đây là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố trong tổhợp các yếu tố tạo nên năng lực học tập.
- Thứ ba, hình thành thái độ:
Các nhà Tâm lý khi phân tích cấu trúc của nhân cách cho rằng, “thái độ làtrạng thái tâm lí biểu hiện phản ánh tâm lí ưa thích hay ghét bỏ đối với sự kiện (xãhội), con người, vật thể dựa trên cơ sở nhận thức, tình cảm, thang giá trị dẫn đếnứng xử” Trong học tập lịch sử, thái độ của HS được thể hiện ở xúc cảm, phản ứng
tự nhiên đối vói các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử như hồi hộp, xúc động,cảm giác ngạc nhiên, đồng tình hay phản đối, vui mừng hay đau khổ, khâm phụcngưỡng mộ hay căm ghét ; tinh thần thái độ học tập đúng đắn như kiên trì, vượtkhó, chuyên cần Định hướng thái độ cho HS trong dạy học lịch sử có vai trò đặcbiệt quan trọng Nếu không khơi dậy trong trái tim HS thái độ xúc cảm lịch sử, thìkhó có thể giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm, đạo đức đúng đắn, vì vậy,định hướng thái độ là cơ sở để bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đứcđúng đắn
Ba mặt hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng, định hướng thái độ có quan
hệ mật thiết với nhau Hình thành kiến thức tốt sẽ giúp thực hiện hiệu quả nhiệm
vụ phát triển kĩ năng và định hướng thái độ Ngược lại, phát triển kĩ năng và địnhhướng thái độ tốt cũng làm cho khâu hình thành kiến thức vững chắc hơn Trong
ba mục tiêu cụ thể, hình thành kiến thức là yếu tố cơ sở, nền tảng để thực hiện haimục tiêu sau
Trên cơ sở thực hiện ba yêu cầu cụ thể trên, dạy học lịch sử ở trường tiểuhọc góp phần từng bước hình thành, phát triển cho HS các năng lực chung, nănglực bộ môn và những phẩm chất đạo đức Như vậy, hình thành kiến thức, phát triển
kĩ năng và định hướng thái độ là những mục tiêu cụ thể phải đạt được Còn nănglực và phẩm chất là mục đích phải hướng tới của quá trình dạy học lịch sử ở trườngphổ thông nói chung, tiểu học nói riêng
2.3 Vai trò, ý nghĩa cửa việc dạy học theo hướng phát trim năng lực học sinh
Trang 21Thực hiện việc dạy học theo hướng phát triển năng lực HS có vai trò quantrọng:
- Bối cảnh thế giới hiện nay đặt ra cho giáo dục một vai trò mới, là động lựcphát triển kinh tế thômg qua nguồn đào tạo nhân lực Giáo dục đang trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp, vì vậy, bước sang thế kỉ XXI, giáo dục được đặt ở vị trítrung tâm trong chiến lược phát triển đất nước của hầu hết các quốc gia trên thếgiới Chiến lược phát triển của các quốc gia rất đa dạng, tùy theo điều kiện, hoàncảnh từng nước Song mục tiêu hướng tới của các nền giáo dục là phải đào tạo thế
hệ trẻ có bốn trụ cột mà UNESCO nêu ra: “Học để biết, học để làm, học để chungsống và học để khẳng định mình" Giáo dục Việt Nam không thể đi ngoài xu thếchung Đào tạo những con người phát triển toàn diện, trong đó hình thành, pháttriên năng lực và bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức đúng đắn là rất cần thiết Dạyhọc theo hướng phát triển năng lực người học sẽ góp phần đắc lực vào thực hiệnmục tiêu giáo dục đặt ra
- Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS góp phần thực hiện đổi mớigiáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng
Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, các nước trên thế giới tiếnhành đổi mới giáo dục từ mô hình nhà trường khép kín sang mô hình “mở”, tăngcường đối thoại với xã hội, dạy học gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học -công nghệ và ứng dụng Trong dạy học, giáo viên phải đổi mới phương pháp giảngdạy, từ chỗ cung cấp kiến thức sang hướng dẫn HS phương pháp phân tích, tổnghợp thông tin sáng tạo để chiếm lĩnh lấy kiến thức; tức là chuyển từ mô hình dạyhọc lấy “giáo viên làm trung tâm” sang mô hình dạy học “lấy trò làm trung tâm”.Thực chất của việc “lấy HS làm trung tâm” là phát huy tính tự giác, tích cực chủđộng nhận thức của người học Muốn thực hiện được phải chuyển từ dạy học tiếpcận nội dung sang dạy học theo hướng tiếp cận năng lực Như vậy, có thể nói, đổimới là phương thức để phát triển năng lực HS, phát triển năng lực là cái đíchhướng tới của việc đổi mới Dạy học theo hướng phát triển năng lực góp phần tíchcực vào đổi mới giáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng
Trang 222.4 Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là một biện pháp thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng
Dạy học theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi HS trên cơ sở nắm vữngkiến thức, kĩ năng học tập, biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng ấy vào thựchành, thực tế Điều này đáp ứng tinh thần nguyên lý giáo dục của Đảng: Học đi đôivói hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội, Vì vậy, cóthể nói, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là một biện pháp thực hiệnnguyên lí giáo dục của Đảng
Với vai trò quan trọng như vậy, dạy học theo hướng phát triển năng lực cótác dụng rất lớn đối với HS về ba mặt bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, địnhhướng thái độ
Về kiến thức Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực, HS được làm
việc, tự kiến tạo tri thức sẽ giúp các em lĩnh hội được kiến thức cơ bản, nhớ lâu vàhiểu sâu những điều đã học
Ví dụ, khi dạy về diễn biến “chiến thắng Bạch Đằng năm 938” - bài 5, sáchgiáo khoa lớp 4, giáo viên hướng dẫn HS (làm việc cá nhân hoặc nhóm) để tìmhiểu sách giáo khoa (kênh chữ, kênh hình) theo các câu hỏi gợi mở:
° Cửa sông Bạch Đằng nằm ở đâu?
° Ngô Quyền đã dựa vào thủy triều lên xuống để làm gì?
° Trận đánh diễn ra như thế nào?
° Kết quả trận đánh?
Sau khi HS tự nghiên cứu, giáo viên yêu cầu đại diện nhóm hoặc cá nhân lêntrình bày diễn biến trận Bạch Đằng trên cơ sở liên kết các ý trả lời những câu hỏigợi mở Các bạn nhận xét, cuối cùng giáo viên lược thuật chốt kiến thức
Quá trình làm việc như vậy, HS sẽ có biểu tượng cụ thể, chân thực về chiếnthắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo, nhớ lâu, khắc sâu kiến thức về
sự kiện này
Trang 23Về kĩ năng Dạy học theo hướng phát triển năng lực góp phần rèn luyện cho
HS các kĩ năng học tập bộ môn, như biết làm việc với đồ dùng trực quan (bản đồ,tranh ảnh), sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phân tích, đánh giá, vận dụng kiếnthức phù hợp với đối tượng HS
Ví dụ, khi dạy bài 9 “Nhà Lý dời đô ra Thăng Long” (lớp 4), giáo viênhướng dẫn HS tìm hiểu sách giáo khoa, kết hợp quan sát lược đồ hành chính miềnBắc Việt Nam theo các câu hỏi gợi mở: vị trí của vùng đất Hoa Lư và Đại La nhưthế nào? Địa thế của Hoa Lư và Đại La? và lập bảng so sánh Qua cách làm nhưvậy, HS sẽ hiểu được sự khác nhau về vị trí, địa thế của hai vùng đất và thấy đượclợi thế của vùng đất Đại La Những kiến thức này sẽ giúp các em trả lời câu hỏimong muốn của Lý Thái Tổ khi quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (cho concháu đời sau xây dựng được cuộc sống ấm no) Đồng thời, trên cơ sở hướng dẫn
HS so sánh như vậy sẽ giúp các em bước đầu biết cách lập bảng so sánh trong họctập lịch sử
Về thái độ Qua việc tạo được những biểu tượng cụ thể, chân thực, sinh động
về các sự kiện lịch sử, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS sẽ gợi dậy trongtrái tim các em những xúc cảm lịch sử Các em cảm thấy hứng thú học tập, từ đótích cực, hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập
Ví dụ, từ việc biết rõ kế sách đánh giặc độc đáo của Ngô Quyền là lợi dụngnước thủy triều lên xuống và kết quả của chiến thắng Bạch Đằng năm 938, HSthấy ngưỡng mộ, khâm phục tài ba của ông Mặt khác, khi được tìm hiểu những sựkiện lịch sử hay, lí thú như vậy, HS rất say mê, tích cực học tập
Trên cơ sở ba mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ góp phần từng bước hìnhthành các năng lực chung, năng lực học tập bộ môn: Nhận thức lịch sử, tìm tòi,khám phá, vận dụng kiến thức và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức đúng đắn cho HS
Ví dụ, từ việc học tập hai sự kiện lịch sử trên, HS biết trình bày sự kiện lịch
sử, nhớ tên nhân vật lịch sử quan trọng, bước đầu làm việc với sách giáo khoa, bản
đồ, nêu được ý nghĩa của sự kiện đối với ngày nay và biết ơn các bậc tiền bối
Trang 24Rõ ràng, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS có vai trò, ý nghĩa quantrọng trong học tập lịch sử Nó đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ trong bốicảnh hiện nay.
3 Đặc điểm và bản chất của dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh
3.1 Đặc điểm
Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, dạy học theo hướng phát triển năng lực cần hướng đến người họcvới tư cách là cá thể tham gia vào quá trình học tập Người học cần được tạo điềukiện để phát huy tính tích cực, độc lập trong nhận thức Từ đó từng bước hìnhthành, phát triển năng lực học tập phù hợp để tiếp tục học tập có hiệu quả ở lớphọc, bậc học cao hơn
- Thứ hai, dạy học theo hướng phát triển năng lực được thực hiện trên cơ sởmục tiêu cụ thể về kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với mỗi giai đoạn, chủ đề học tập
và yêu cầu cầu cần đạt về nội dung Vì vậy việc xác định đúng, khả thi mục tiêu vềcác mặt là nền tảng để thực hiện dạy học theo hướng phát triển năng lực
- Thứ ba, dạy học theo hướng phát triển năng lực được thực hiên trên cơ sởcủa dạy học phân hóa Phân hóa trong dạy học theo hướng phát triển năng lực đòihỏi giáo viên phải xác định, điều khiển các hoạt động của quá trình dạy học phùhợp với nhu cầu học theo các đối tượng khác nhau, tạo điều kiện cho người họcvừa phát huy được khả năng của bản thân, vừa giao tiếp, hợp tác với bạn bè, thầy
cô trong lớp có hiệu quả
3.2 Bản chất của dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh
Dạy học theo định hướng nội dung là lấy khối lượng kiến thức làm mục tiêuhướng tới Do vậy người ta cho rằng cung cấp nhiều kiến thức cho HS để HS biếtcàng nhiều càng tốt Quan niệm này dẫn tới giáo viên độc quyền cung cấp kiếnthức, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, còn HS thụ động nghe, ghi chép và nhớ
Trang 25những điều thầy nói Giáo viên không quan tâm đến việc hướng dẫn HS vận dụngkiến thức đã biết, đã hiểu vào thực hành và thực tế cuộc sống Đó là kiểu dạy họclấy động lực bên ngoài (giáo viên) để phát triển HS, lấy giáo viên làm trung tâmtồn tại từ rất lâu đời, hạn chế sự phát triển của bản thân người học Kiểu dạy họcnày dẫn đến két quả là HS có thể biết rất nhiều nhưng khi làm thực hành thì lúngtúng Nếu sản phẩm đào tạo như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của côngcuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay.
Để khắc phục hạn chế của kiểu dạy học theo định hướng nội dung, nhàtrường cần thực hiện dạy học theo hướng phát triển năng lực HS Song thế nào làdạy học theo hướng phát triển năng lực HS? Kiểu dạy học này có khác gì so vớidạy học theo hướng tiếp cận nội dung?
- Trước hết về mục tiêu, Mục tiêu cuối cùng của dạy học theo hướng pháttriển năng lực không phải là khối lượng nội dung kiến thức, mà là các năng lực cần
có để làm việc hiệu quả hơn, sống tốt hơn Để hình thành và phát triển được cácnăng lực cần có phải dựa trên cơ sở mục tiêu cụ thể của việc dạy học là bồi dưỡngkiến thức, hình thành, phát triển kĩ năng và định hướng thái độ Vì vậy, dạy họctheo hướng phát triển năng lực không coi nội dung kiến thức là mục tiêu cuối cùng,nhưng là cơ sở, nền tảng để đạt được mục tiêu cuối cùng Điều này chỉ cho giáoviên thấy rõ, khi xác định mục tiêu dạy học theo hướng phát triển năng lực một vấn
đề hay nội dung lịch sử cụ thể, giáo viên phải xác định xem dạy nội dung này đểlàm gì? Nội dung đó giúp ích gì cho HS? Những hiểu biết ấy có thể vận dụng vàocác tình huống thực hành, thực tế cuộc sống ra sao? Đồng thời làm thế nào để kíchthích người học tự suy nghĩ, đặt ra những câu hỏi như trên và tự tìm hiểu trả lòinhững câu hỏi đặt ra
- Thứ hai, về phương pháp dạy học: Để đạt được mục tiêu cuối cùng như đãxác định, giáo viên phải chuyển từ kiểu dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sangdạy học lấy HS làm trung tâm Tức là, trong quá trình dạy học, HS là nhân vậttrung tâm, được phát huy các phẩm chất nhận thức, tích cực, chủ động để chiếmlĩnh lấy kiến thức dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên Muốn vậy,
Trang 26phương pháp dạy học của giáo viên không phải là truyền đạt kiến thức có sẵn màthông qua hoạt động nêu vấn đề, giao nhiệm vụ cho HS, tổ chức HS trao đổi thảoluận, là trọng tài phân xử đúng sai để lôi cuốn HS tham gia tích cực vào giờ học.
HS cần phải phát huy vai trò trung tâm của mình như tự phát hiện vấn đề, tự tìmkiếm kién thức, hãng hái thảo luận để chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng họctập
- Thứ ba, về kiểm tra đánh giá: Dạy học lịch sử theo hướng phát triển nănglực HS đòi hỏi giáo viên phải đổi mới kiểm tra đánh giá từ quan niệm, nội dungđến hình thức, phương pháp Trong đó đặc biệt là khâu xác định nội dung, hìnhthức và ra đề kiểm tra đánh giá
Như vậy, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS coi việc hình thành,phát triển năng lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức là mục tiêu hướng tới cuối cùngtrên cơ sở mục tiêu cụ thể của từng bài học, nội dung lịch sử Trong đó HS tíchcực, chủ động nhận thức để chiếm lĩnh, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành,thực tế và rèn luyện phương pháp tự học dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiểncủa giáo viên
4 Nội dung, biểu hiện các năng lực cần hình thành, phát triển trong dạy học lịch sử ở tiểu học
Mặc dù chưa cố sách giáo khoa mới, song dạy học lịch sử ở trường tiểu họccần phải theo hướng phát triển năng lực HS Muốn vậy, giáo viên phải nắm vữngnội dung, biểu hiện của các năng lực mà chương trình mới đưa ra để vận dụng
Theo chương trình mới, dạy học lịch sử ở tiểu học theo hướng phát triểnnăng lực HS, trước hết phải góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung
Năng lực tự chủ và tự học
Về mục tiêu học tập Ghi nhớ được nhiệm vụ, yêu cầu cần đạt do giáo viên
đưa ra để thực hiện
Về kế hoạch học tập Biết tự lập thời gian biểu hàng ngày
Thực hiện kế hoạch - Tự làm theo thời gian biểu hàng ngày
- Tự vận dụng các cách học theo hướng dẫn và giải
Trang 27quyết các nhiệm vụ, yêu cầu của giáo viênĐánh giá và điều chỉnh cách học - Biết nhận ra sai sót và tự sửa chữa sai sót trong
bài làm qua nhận xét của giáo viên
- Mạnh dạn hỏi thầy, cô và người khác khi chưahiểu bài
Năng lực giao tiêp và hợp tác
Về giao tiếp - Sử dụng trôi chảy Tiếng Việt
- Nhận ra được mục đích của giao tiếp
- Tập trung chú ý khi giao tiếp
- Diễn đạt rõ ràng ý kiến của mình khi giao tiếp
Về hợp tác - Thích sự trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập
- Biết làm việc theo nhóm, biết được trách nhiệmcủa mình trong nhóm
- Biết chia sẻ suy nghĩ với bạn
- Biết lắng nghe ý kiến của bạn, của thầy cô
- Tự tin khi đưa ra ý kiến của mình
- Biết cùng các bạn xây dựng ý tưởng trong việcgiải quyết nhiệm vụ học tập và báo cáo sản phẩmcủa nhóm
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Phát hiện vấn đề Nêu thắc mắc, câu hỏi đơn giản trong học tập và quan
sát cuộc sống xung quanh.
Giải quyết vấn đề - Nêu được ý kiến của mình về cách thức giải
quyết thắc mắc, câu hỏi đơn giản theo sự hướngdẫn
- Biết tìm kiếm thông tin để giải quyết vấn đề
- Bước đầu biết phân tích, tổng hợp, so sánh thôngtin
- Biết đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá
Các năng lực môn học cần hình thành và phát triển trong dạy học lịch sử
- Năng lực nhận thức lịch sử
Tri giác tài liệu sự kiện, hình
dung, tưởng tượng, nhớ (tái
hiện lịch sử)
- Nêu tên, kể về các nhân vật lịch sử quan trọng
- Trình bày, mô tả được các sự kiện, hiện tượnglịch sử quan trọng đã diễn ra
Tư duy lịch sử Nhận xét, giải thích được kết quả của các sự kiện, hiện
tượng lịch sử
Trang 28Ví dụ, để từng bước hình thành cho HS năng lực nhận thức lịch sử,khi dạycác bài học về “Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê” (thế kỉ XV), trước hết HS táihiện được sự kiện, hiện tượng lịch sử tức là thông qua hoạt động tri giác tài liệuhọc tập, hình dung tưởng tượng, nhớ, các em sẽ nêu được tên, kể lại những nét đơngiản về Lê Lợi – người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn; mô tả được những nét chínhchiến thắng Chi Lăng và nêu được kết quả của chiến thắng; mô tả được những nétchính về cách tổ chức quản lý đất nước thời Hậu Lê, nêu tên, nét chính của bộ luậtHồng Đức; mô tả được những nét chính về tổ chức quản lý giáo dục thời Hậu Lê,nêu tên và kể đơn giản về thành tựu văn học, khoa học thời Hậu Lê, nêu tên vàđóng góp của Nguyễn Trãi và Lê Thành Tông.
Thứ hai, HS sử dụng hoạt động tư duy ở mức độ đơn giản để nhận xét kếsách đánh giặc của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi; nhận xét tổ chức quản
lý đất nước thòi Hậu Lê, thành tựu giáo dục, văn hóa khoa học thòi Hậu Lê, giảithích kết quả của chiến thắng Chi Lăng, kết quả chính sách giáo dục của nhà Hậu
Lê, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông là những nhà văn hóa tiêu biểu cho giai đoạn này
- Năng lực tìm tòi khám phá lịch sử- tìm hiểu lịch sử
Phát hiện vấn đề lịch sử Nêu thắc mắc, câu hỏi đơn giản về sự kiện, nhân vật
lịch sử Thu thập thông tin để giải quyết - Quan sát, tra cứu tài liệu học tập (sách giáo khoa,
đoạn tư liệu), đọc kí hiệu bản đồ ở mức độ đơngiản
- Ghi lại những dữ liệu thu thập được ở mức đơngiản
Nhận xét, đánh giá, rút kết luận Nêu được ý kiến phân tích, so sánh, đánh giá đơn giản
về sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Ví dụ: Để từng bước hình thành cho HS năng lực tìm tòi, khám phá lịch sử,khi dạy bài 25 “Quang Trung đại phá quân Thanh” năm 1789 (lớp 4), giáo viênhướng dẫn HS phát hiện vấn đề lịch sử, thông qua thắc mắc: Những chi tiết nàotrong bài thể hiện quyết tâm đánh giặc và tài nghệ quân sự của Quang Trung trongcuộc đại phá quân Thanh? Dựa vào hướng dẫn của giáo viên, HS thu thập thông tin
để giải quyết Các em quan sát, tra cứu lược đồ trong sách giáo khoa, nội dungphần chữ viết trong sách giáo khoa, ghi lại những ý chính để trình bày ý kiến của
Trang 29mình trong thảo luận Thông qua trao đổi thảo luận, các em sẽ thấy rõ quyết tâmđánh giặc và tài nghệ quân sự của Quang Trung thể hiện ở một số chi tiết: Hànhquân bộ từ Huế ra Bắc, tiến quân trong dịp Tết, cách đánh ở trận Ngọc Hồi, ĐốngĐa Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn HS rút ra kết luận, đánh giá: quyết tâm đánhgiặc của Quang Trung và quân sĩ thể hiện ở tinh thần vượt khó khăn vất vả hànhquân bộ vào dịp Tết Lợi dụng dịp Tết, quân giặc chủ quan, ông đã vận dụng cáchđánh linh hoạt, sáng tạo khi tấn công đồn Ngọc Hồi, Đống Đa thể hiện tài quân sựcủa Quang Trung Làm như vậy, giáo viên dần dần hình thành năng lực tìm tòi,khám phá lịch sử.
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Vận dụng kiến thức vào thực
hành bộ môn Biết sử dụng đồ dùng trực quan ở mức độ đon giản (tômàu bản đồ, lập bảng so sánh, điền vào ô trống trong
sơ đồ ) Vận dụng kiến thức cũ hiểu
kiến thức mới - Tái hiện kiến thức cũ
- So sánh với kiến thức mói
- Rút kết luận (ở mức đơn giản)Vận dụng kiến thức thực tế vào
cuộc sống - Rút kinh nghiệm, bài học của sự kiện, hiện tượng
lịch sử ở mức đơn giản
- Sưu tàm tranh ảnh, tài liệu về sự kiện lịch sử
- Đề xuất được ý tưởng và thực hiện được một sốhành động bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá,
Trình bày quan điêm của bản
thân về vấn đề lịch sử Nêu được ý kiến cá nhân khi đánh giá một sự kiện,hiện tượng lịch sử ở mức đơn giản
Ví dụ: Sau khi học xong bai 11 “Nhà Trần thành lập” (lớp 4), giáo viênhướng dẫn HS về nhà điền vào sơ đồ thể hiện tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần
Để làm bài tập, HS phải vận dụng những kiến thức đã học để điền vào sơ đồ Việclàm này giúp HS củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, đồng thời từng bước rènluyện cho các em biết vận dụng kiến thức vào thực hành bộ môn
Hoặc qua việc hướng dẫn HS lập bảng so sánh đơn giản về vị trí, địa thếvùng đất Hoa Lư và Đại La, HS được tập dượt vận dụng kiến thức cũ để hiểu kiếnthức mới, thấy được lợi thế của vùng đất Đại La Hoặc, khi dạy học bài 6 “Quyếtchí ra đi tìm đường cứu nước” (lớp 5), trên cơ sở biết lí do vì yêu nước, thươngdân, Nguyễn Tất Thành ra đỉ tìm đường cứu nước và những chi tiết thể hiện ý chíquyết tâm của Bác, HS sẽ rút ra cho bản thân bài học về sự quyết tâm trong học tập
Trang 30dưới sự hướng dẫn của giáo viên Mặt khác, qua bài học các em nhận thức được
vì sao bến cảng Nhà Rồng được công nhận là di tích lịch sử, các em sẽ thấy rõtrách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn, gìn giữ Những việc này sẽ góp phầnrèn luyện cho HS năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
5 Một số yêu cầu đối với giáo viên khi dạy học lịch sử ở tiểu học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực
Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được ban hành trong quá trinhtriển khai nghị quyết số 40/2000/QH ngày 9-12-2000 của Quốc hội Từ đó đến nay,chương trình đã góp phần quan trọng tạo nên nhiều thành tựu của giáo dục - đàotạo trong nhiều năm qua
Bước sang thế kỉ XXI Giáo dục và đào tạo được đặt ở vị trí trung tâm trongchiến lược phát triển đất nước của nhiều quốc gia Việc đổi mới giáo dục, đào tạo
để đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực là điều cần thiết Ở Việt Nam, hội nghị lầnthứ VIII BCH trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) thông qua nghịquyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó
có quan điểm “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sangphát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Tiếp đó, Quốc hội ra nghịquyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổthông Ngày 26-12-2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dụcphổ thông, bao gồm chương trình tổng thể, chương trình môn học và hoạt độnggiáo dục Chương trình và sách giáo khoa mới sẽ từng bước được triển khai từ nămhọc 2020- 2021 trở đi Trong bối cảnh giao thời, đan xen giữa 2 chương trình(2000) và (2018), cần thiết phải thực hiện chương trình hiện hành theo định hướngphát triển năng lực HS ngay từ năm học này, thực hiện liên tục, không chờ đợi sáchgiáo khoa mới
Theo chúng tôi, trong thời gian chuyển tiếp, để thực hiện chương trình hiệnhành theo định hướng phát triển năng lực HS, việc dạy học lịch sử ở tiểu học cầnchú ý một số yêu cầu như sau:
5.1 Nhận thức rõ vai trò của môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông
Môn Lịch sử ở trường phổ thông được tổ chức dạy học từ lớp 4 đến lớp 12
Trang 31có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung Học tập lịch sử khôngchỉ giúp cho HS hiểu biết quá khứ, nhận thức được hiện tại mà còn hành độngđúng trong tương lai Bởi vì “lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Lịch sử lấy kinhnghiệm của quá khứ, bài học sự thành công hay thất bại, về cái tốt, cái xấu vì sựtiến bộ hay lạc hậu của lịch sử để giáo dục HS Do đó học tập lịch sử là vô cùngcần thiết đối với thế hệ trẻ Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiệnhiện nay, việc giáo dục cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ tình yêu quê hương đấtnước, niềm tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc là rất cầnthiết Môn lịch sử có ưu thế trong công việc này, bởi vì con người thật, việc làmthật trong lịch sử có tác động mạnh mẽ tới trái tim mọi người mà không gò bó,gựợng ép Mặt khác, học tập lịch sử còn góp phần bồi dưỡng cho HS nhữngphương pháp tìm hiểu lịch sử thông qua nhận biết các loại tư liệu lịch sử và giá trịcủa chúng trong việc hiểu lịch sử, rèn luyện các thao tác phân tích, so sánh tổnghợp, khái quát, đánh giá khi làm việc với các nguồn sử liệu và thông tin Qua đó,trên cơ sở hiểu biết đúng lịch sử, góp phần hình thành cho HS các năng lực tự học,tìm tòi khám phá lịch sử, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế.
Chính vì vậy, việc xác định vị trí của môn lịch sử trong giáo dục phổ thôngnói chung, tiểu học nói riêng là vô cùng cần thiết ở bối cảnh hiện nay Đây là tráchnhiệm của giáo viên bộ môn và các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục
5.2 Nhận thức đúng và thể hiện rõ vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của giáo viên đối với hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là cách mạng công nghiệp 4,0
đã làm cho tri thức mà loài người tích lũy được ngày càng nhiều Vai trò của ngườithầy trong dạy học có sự thay đổi Giáo viên từ người truyền thụ kiến thức theocách truyền thống sang người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động nhận thứccủa HS Giáo viên phải định hướng vào công nghệ, có trách nhiệm không phải chỉvói việc dạy của bản thân, mà còn cả với việc học của HS Do đó, trong dạy học,giáo viên là người thiết kế các hoạt động và giao nhiệm vụ học tập cho HS, tổ chức
HS làm việc Đồng thời, giáo viên cũng là người hướng dẫn, huấn luyện HS quansát, phân tích, tổng hợp thông tin để chiếm lĩnh kiến thức Mặt khác, giáo viên còn
Trang 32phải là người tư vấn, cố vấn cho HS biết lựa chọn, phan biệt giá trị của nguồnthông tin, là trọng tài phán xử đúng, sai trước những ý kiến của các em Chỉ có nhưvậy giáo viên mới giúp HS hình thành được kiến thức, rèn kĩ năng, định hướng thái
độ đúng để từng bước hình thành, phát triển các năng lực chung, năng lực môn học
và bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cho các em
5.3 Nắm vũng và khai thác triệt để kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa hiện hành để hình thành, phát triển năng lực học sinh trong dạy học
Kiến thức là cơ sở, nền tảng để tạo ra năng lực Không có kiến thức thìkhông thể có năng lực vì vậy, để hình thành và phát triển năng lực cho HS khôngthể xem nhẹ kiến thức Chương trình lịch sử lớp 4, lớp 5 hiện hành yêu cầu HSnhận biết được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệthống theo dòng thòi gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nay
Để thực hiện việc dạy học theo hướng phát triên năng lực HS, giáo viên phải nắmvững nội dung cơ bản của những sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu đãnêu trong sách giáo khoa và khai thác triệt để những kiến thức đó thông qua cácphương pháp dạy học, cách thức tổ chức HS Trong đó việc hướng dẫn, động viên
HS hăng hái, tích cực tham gia vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi,thảo luận để lĩnh hội kiến thức và biết cách làm là cơ sở để hình thành năng lựccho HS
5.4 Nắm vững những tiêu chí về kĩ năng trong chương trình hiện hành kết hợp vói các năng lực môn học trong chương trình mới
Kĩ năng là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố trong tổ hợpcác yếu tố tạo nên năng lực học tập cho HS Trong mục tiêu chương trình lịch sửlớp 4, lớp 5 hiện hành đưa ra có mục tiêu về kĩ năng Đây chính là những gợi mở
về các biểu hiện của năng lực cần rèn luyện, hình thành cho HS Giáo viên cầnbám sát những tiêu chí này kết hợp với nắm vững nội dung, biểu hiện của các nănglực môn học cần hình thành cho HS tiểu học để lập kế hoạch dạy học và tiến hànhcác hoạt động dạy học
5.5 Thực hiện hiệu quả tích hợp liên môn (lịch sử, địa lí) và tích hợp đa
Trang 33môn trong dạy học lịch sử
Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong
đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năngthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua
đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển những năng lực cần thiết,nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” Tíchhợp đã trở thành xu thế phát triển của chương trình giáo dục phổ thông ở nhiềunước từ những năm 60 của thế kỉ XX Tích hợp càng được nhiều nước áp dụngrộng rãi Bởi vì, tích hợp giữa kiến thức một số môn gần gũi với nhau một cáchhợp lý sẽ tạo điều kiện bổ trợ lẫn nhau và tránh được sự trùng lặp, chồng chéokhông cần thiết Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới chương trình và sách giáokhoa từ những năm 90 và sau năm 2000 đã bước đầu thực hiện tích họp
Tích hợp ở nhà trường hiện nay có nhiều hình thức và ở các cấp độ khácnhau:
- Tích hợp nội môn: là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức của môn học vềmặt nội dung hay chủ đề Ví như trong lịch sử là sự kết hợp giữa lịch sử thế giớivới lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương
- Tích hợp liên môn: là sự kết hợp kiến thức giữa các môn học gần nhau nhưlịch sử và địa lí, văn học,
- Tích hợp xuyên môn: là sự kết họp kiến thức của các môn học gần gũi đểxây dựng thành môn học mới hoặc chủ đề mới
- Tích hợp đa môn: là sự kết họp kiến thức của các môn khoa học khác trongbiên soạn sách giáo khoa hoặc dạy học để làm nổi bật một môn học nào đó
Trong dạy học lịch sư, tích hợp đa môn là sử dụng kiến thức các môn khoahọc khác gần gũi, phù hợp để dạy học tốt lịch sử Bên cạnh kiến thức, quan điểmtích hợp còn được thể hiện ở việc vận dụng các các hình thức tổ chức và phưcmgpháp dạy học
Nếu hiện nay, hình thức tổ chức dạy học chủ yếu diễn ra ở trên lớp, thì quanđiểm tích hợp đòi hỏi phải kết họp các hoạt động giáo dục trên lớp với ngoài lớp.Đối với phương pháp dạy học, thực hiện tích họp yêu cầu giáo viên không chỉ kết
Trang 34hợp lý thuyết với thực hành, gắn kiến thức với đòi sống xã hội, mà còn phải sửdụng đa dạng, nhuần nhuyễn các phương pháp, các cách dạy học để đạt được mụctiêu đề ra Ở tiểu học, chương trình lịch sử lớp 4,5 đã bước đầu thực hiện tích hợpliên môn Phần đầu của SGK lớp 4 là một số bài chung, sau đó đến phần lịch sử vàđịa lý Trong các bài học lịch sử, kiến thức địa kí được ghép vào các nội dung; vínhư, khi trình bày về sự kiện, hiện tượng lịch sử đều đặt chung vào trong bối cảnhđịa lí nhất định Vì vậy, trước mắt khi dạy học chương trình hiện hành, giáo viêncần khai thác và dạy học tốt các kiến thức này để HS biết rõ những nội dung đanghọc Song bản thân lịch sử là sự tích hợp, do đó bên cạnh kiến thức địa lý, giáoviên có thể sử dụng kiến thức văn học, nghệ thuật để dạy học các thành tựu vănhọc, khoa học
5.6 Kết nối bài học với thực tiễn một cách đa dạng
Đây là biểu hiện của năng lực thứ ba, năng lực vận dụng kiến thức vào thựctiễn Điều này được thể hiện ở các công việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào hoạtđộng thực hành, vận dụng vào kiến thức cũ hiểu kiến thức mới, vận dụng kiến thứcvào lý giải những vấn đề của cuộc sống
Dạy học lịch sử ở tiểu học chương trình hiện hành, giáo viên cần kết nối ởtất cả các chương, bài để giúp HS biết thực hiện các hoạt động thực hành bộ môn,vận dụng kiến thức Qua đó các em biết gắn lịch sử quá khứ với đời sống hiệnthực hôm nay nhằm nâng cao chất lượng môn học Muốn vậy, cần tăng cường cáchoạt động học tập cho HS ở trên lớp và ngoài lớp thông qua giao bài tập, tổ chứctrò chơi, trao đổi thảo luận, tổ chức trải nghiệm
Trên đây là một số vấn đề chung về yêu cầu dạy học lịch sử ở tiểu học theohướng phát triển năng lực HS
II Rà soát, bổ sung, sắp xếp các nội dung dạy học lịch sử trong chương trình hiện hành
Việc rà soát, bổ sung, sắp xếp các nội dung dạy học lịch sử trong chươngtrình hiện hành thực hiện theo các hướng:
- Việc dạy học lịch sử cần quan tâm hơn tới việc tích hợp trong các môn học
và hoạt động giáo dục Tri thức lịch sử có thể được giới thiệu không chỉ ở sách
Trang 35giáo khoa mà hoàn toàn có thể được giới thiệu trong các bài học môn Tiếng Việt,bài học Đạo đức, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các sinh hoạt tập thể, cácmối quan hệ tương tác giữa HS, nhà trường với địa phương, cộng đồng Tích hợpcác môn học và hoạt động giáo dục trong dạy học lịch sử sẽ góp phần tránh sựtrùng lặp kiến thức giữa các môn học, tránh tính hàn lâm và tạo ra sự hấp dẫn củagiáo dục lịch sử.
- Xác định các nội dung kiến thức lịch sử liên quan đến địa phương nhằmtăng cường nội dung giáo dục lịch sử địa phương với các mức độ và hình thức phùhợp
+ Tổ chức dạy học tại thực địa, bảo tàng, nhà truyền thống của địa phương
Tổ chức dạy học tại thực địa, bảo tàng, nhà truyền thống của địa phương là mộthình thức tổ chức dạy học ngoài lớp Đối với những bài học có liên quan tới địaphương, nhà trường có thể tổ chức dạy học tại thực địa, hoặc tại bảo tàng, di tíchlịch sử Ví dụ, khi học về Chiến thắng Điện Biên Phủ, đối với HS tỉnh Điện Biên
có thể tổ chức giờ học ngay tại Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ ở thành phốĐiện Biên Hoặc có thể tổ chức dạy học tại một trong nhiều địa danh lịch sử ở ĐiệnBiên: hầm tướng Đờ cát-xtơ-ri, đồi Al
Tổ chức dạy học tại thực địa là một hình thức tổ chức dạy học đem lại hiệuquả cao vì HS được tiếp xúc với một trực quan hết sức sinh động: cảnh quan thiênnhiên, hoạt động sản xuất, di vật lịch sử Từ đó, làm giàu cho các em những biểutượng lịch sử cụ thể Mặt khác, thông qua tiếp xúc thực tế như vậy, việc giáo dụcđạo đức, giáo dục tư tưởng, tình cảm với HS được thực hiện một cách tự nhiên.Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học trên thực địa phải tùy thuộc vào điều kiện cụ thểcủa nhà trường và địa phương
+ Tổ chức dạy học các nội dung địa phương góp phần quan trọng đối vớigiáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS, bồi đắp tình yêu và lòng tự hào về quê hương,đất nước Hình thức tổ chức dạy các nội dung địa phương có thể được tổ chức theocác hướng: liên hệ với nội dung bài học (những bài có nội dung liên quan đến địaphương), tổ chức dạy học trong các giờ học dành riêng cho nội dung địa phương Trong những tiết học như vậy, GV có thể giới thiệu một, hoặc một số vấn đề về
Trang 36lịch sử địa phương: Giới thiệu những sự kiện, nhân vật lịch sử, những nét tiêu biểu
về truyền thống văn hoá địa phương (địa bàn tỉnh, xã hoặc huyện)
- Với những bài học trong sách giáo khoa thuộc chương trình hiện hành cónội dung liên quan chặt chẽ với nhau, có thể sắp xếp, xây dựng thành một bài họcđược dạy trong 2 hoặc 3 tiết Trong bài học này, trên cơ sở đáp ứng chuẩn kiếnthức, kĩ năng của chương trình, có thể thiết kế các hoạt động mà sách giáo khoahiện hành không quy định rõ nét như các yêu cầu về thực hành, vận dụng
Ví dụ, kết hợp các bài học “Nước nhà bị chia cắt” và bài “Bến Tre đồngkhỏi”; hoặc bài “Sấm xét đêm giao thừa” và “Chiến thắng “Điện Biên Phủ trênkhông”
PHẦN III VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
xã hội Để thực hiện mục tiêu đó, giáo viên cần:
- Thứ nhất, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thứcđược sắp đặt sẵn
- Thứ hai, chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác sách giáo khoa và cáctài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và
Trang 37phát hiện kiến thức mới Định hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổnghợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen để dần hình thành vàphát triển tiềm năng sáng tạo.
- Thứ ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trởthành môi trường giao tiếp giáo viên- HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết
và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung
- Thứ tư, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốttiến trình dạy học, thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chútrọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hìnhthức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để cóthể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
2 Vì sao phải vận dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực?
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từnền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọngviệc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngườihọc Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDHLịch sử ở tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo; phát triểnnăng lực hành động, năng lực hợp tác làm việc của người học Đó cũng là những
xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từhọc chủ yểu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”
Trang 38Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghịquyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương phápdạy học Lịch sử ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực người học, và một
số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này nhằm phát triển nănglực của HS
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gìqua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương phápdạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiếnthức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc họctập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩaquan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức
và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn, cần bổ sung các chủ đề học tậptích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành vàphát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa Lịch sử, nghe, ghi chép, tìmkiếm thông tin, tư liệu lịch sử ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt,độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương phápchung và phương pháp đặc thù của môn Lịch sử để thực hiện Tuy nhiên dù sửdụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mìnhhoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướngdẫn của giáo viên”
3 Vận dụng các phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh
Vận dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực
HS bằng cách nào? Đó là câu hỏi giáo viên thường đặt ra Có nhiều cách để vậndụng phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực HS, chúng tôi xin giớithệu để tham kháo một số cách cơ bản
3.1 Vận dụng các phương pháp đặc trưng bộ môn theo hướng phát
Trang 39triển năng lực người học
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc
sử dụng các phương pháp dạy học đặc trưng có vai trò quan trọng trong dạy học bộmôn Các phương pháp dạy học đặc trưng của môn học được xây dựng trên cơ sở
lý luận dạy học Với môn Lịch sử ở tiểu học, các phương pháp dạy học đặc trưngnhư quan sát, hỏi - đáp, kể chuyện, thảo luận, là những phương pháp quan trọngtrong dạy học Lịch sử Dạy học theo hướng phát triển năng lực không có nghĩa làloại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằngviệc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng
a) Phương pháp quan sát
- Khái niệm: Quan sát là phương pháp giáo viên tổ chức cho HS sử dụng cácgiác quan khác nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có mục đích, có kếhoạch, có trọng tâm; qua đó rút ra những kết luận khoa học
- Tác dụng: Đối với HS tiểu học, dù là lớp 4,5 thì tư duy trực quan, cụ thểchiếm ưu thế lớn trong việc lĩnh hội tri thức Vì vậy, quan sát là phương pháp dạyhọc mang lại hiệu quả cao Thông qua việc tổ chức cho HS quan sát, sẽ hình thành
ở các em những khái niệm và biểu tượng lịch sử sinh động, đầy đủ và chính xác.Quan sát cũng hình thành ở HS năng lực tư duy và ngôn ngữ
Mặt khác, đối tượng học tập của môn Lịch sử là những sự kiện, hiện tượng
đã xảy ra trong quá khứ và tồn tại một cách khách quan, việc quan sát tranh ảnh,
mô hình hay xem video, clip hoặc phim lịch sử, sẽ giúp các em tái hiện lại quá khứnên các em có thể tri giác một cách dễ dàng Vì vậy, quan sát là phương pháp dạyhọc đặc trưng của môn Lịch sử ở tiểu học
- Các bước tiến hành
Có thể tổ chức cho HS quan sát theo các trình tự sau:
- Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát Đối tượng quan sát có thể là bản đồ,
sơ đồ, mô hình, vật thật hoặc video clip, phim lịch sử căn cứ vào mục tiêu, nộidung của từng bài học mà giáo viên lựa chọn đối tượng quan sát cho phù hợp
- Bước 2: Xác định mục đích quan sát Tùy từng đối tượng mà mục đích
quan sát có thể khác nhau Vì vậy, sau khi xác định được đối tượng cần lưu ý việc
Trang 40quan sát phải đạt được mục đích nào?
- Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn quan sát
Có thể tổ chức cho HS quan sát theo nhóm, cá nhân hoặc cả lớp, tùy thuộcvào số phương tiện dạy học có được Các nhóm có thể cùng quan sát đối tượng đểgiải quyết chung một nhiệm vụ học tập, hoặc mỗi nhóm có thể một đối tượng quansát riêng, giải quyết nhiệm vụ riêng Thông thường khi sử dụng phương pháp quansát, giáo viên hướng dẫn HS sử dụng thị giác để quan sát các đối tượng một cách
có mục đích, có kế hoạch Khi quan sát, giáo viên hướng dẫn HS quan sát đốitượng theo một trình tự nhất định: từ tổng thể đến chi tiết; cần liên hệ với các sựkiện, hiện tượng trước đó để tìm ra những điểm giống nhâu, khác nhau giữa các sựkiện, hiện tượng lịch sử
- Bước 4 Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát
Kết thúc quan sát, từng cá nhân hoặc đại diện các nhóm báo cáo kết quảquan sát, cả lớp lắng nghe và bổ sung ý kiến
- Bước 5 Hoàn thiện kết quả quan sát, rút ra kết luận chung
Giáo viên chính xác hóa kết quả quan sát, rút ra kết luận khoa học
- Ví dụ minh họa: Bài “Chiến thắng Chi Lăng” (lớp 4)
+ Đối tượng quan sát là tranh ảnh, lược đồ ải Chi Lăng;
+ Mục đích quan sát: nhận biết địa hình phức tạp của ải Chi Lăng
+ Hướng dẫn HS quan sát: Quan sát lược đồ trận Chi Lăng, tranh ảnh địahình Chi Lăng, qua đó lí giải vì sao nghĩa quân Lam Sơn lại chọn ải chi Lăng làmđiểm quyết chiến lược với quân Minh xâm lược
+ Thông qua quan sát và trao đổi trong nhóm, HS thống nhất ý kiến và báocáo kết quả quan sát: Địa hình Chi Lăng hiểm trở, núi cao, đường nhỏ hẹp, khesâu, quân giặc kéo quân vào thì dễ nhưng khi bị tập kích khó đường rút quân
+ Qua báo cáo kết quả quan sát của các nhóm, giáo viên kết luân chung:Nghĩa quân Lam Sơn đã biết lợi dụng địa hình Chi Lăng hiểm trở, núi cao, váchdốc đứng, đường nhỏ, khe hẹp, vực sâu để mai phục địch và đánh tam quân Minhxâm lược
b) Phương pháp hỏi - đáp