1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN ÁN: “VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MAI TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”

127 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Liên Kết Kinh Tế Giữa Sản Xuất Và Thương Mai Trong Quá Trình Chuyển Sang Nền Kinh Tế Thị Trường
Thể loại luận án
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 213,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN ÁN: “VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MAITRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”PHẦN MỞ ĐẦU1. Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án:Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, được Mác phản ánh trong bộ "Tư bản", làmột mẫu hình, một con đường chuyển nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống vànông nghiệp ở nhiều quốc gia, của nhiều dân tộc lên thành nền đại công nghiệp, biến cảinền sản xuất hàng hoá nhỏ thành nền sản xuất lớn tư bản hiện đại, trong đó nổi bật lên làvai trò của hiệp tác và phân công, vai trò của các ngành thương mại và dịch vụ.

Trang 1

LUẬN ÁN: “VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MAI TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án:

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, được Mác phản ánh trong bộ "Tư bản", làmột mẫu hình, một con đường chuyển nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống vànông nghiệp ở nhiều quốc gia, của nhiều dân tộc lên thành nền đại công nghiệp, biến cảinền sản xuất hàng hoá nhỏ thành nền sản xuất lớn tư bản hiện đại, trong đó nổi bật lên làvai trò của hiệp tác và phân công, vai trò của các ngành thương mại và dịch vụ

Trong phần IV, phần nói về "sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối" (Hay ba giaiđoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản), C.Mác trình bày quá trình hình thành phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa từ hiệp tác giản đơn đến giai đoạn máy móc và đại côngnghiệp Người đã trình bày sự phát triển của quá trình phân công và hợp tác hoá, sự pháttriển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá; liên kết những người sản xuất độc lập

từ kiến tạo quan hệ trao đổi kết quả lao động (sản phẩm), đến chỗ kết hợp hiệp tác trựctiếp ngay trong quá trình sản xuất (quá trình lao động) với nhau; từ chỗ hợp tác giữanhững người lao động trong một xưởng thợ, đến chỗ hiệp tác và kết hợp giữa các côngtrường thủ công thành công trường thủ công lớn hơn, giữa các công ty, xí nghiệp thànhcác công ty, xí nghiệp lớn hơn, làm cho quy mô của các doanh nghiệp ngày một lớn vàquá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng mạnh mẽ Quá trình đó được diễn ra từnhững quan hệ nội tại, phát triển từ thấp đến cao, từ quan hệ ban đầu ngẫu nhiên lỏng lẻocho đến lúc bền chặt cố kết và hoà hợp với nhau tạo nên một chỉnh thể ngày một lớn hơn

Trong các tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "chủ nghĩa đếquốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" và một loạt tác phẩm bàn về "chính sáchkinh tế mới", Lênin cũng vạch ra các quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giaiđoạn mới và con đường đưa nền sản xuất hàng hoá nhỏ lên chủ nghĩa xã hội thông quachủ nghĩa tư bản nhà nước, thông qua "chế độ hợp tác"… Trong tác phẩm "về tác dụngcủa vàng hiện nay và sau khi chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi" và một số tác phẩmkhác, Người đề cao vai trò to lớn của thương mại trong việc "liên kết hàng chục triệu tiểunông" lại và liên kết chúng với nền đại công nghiệp, đưa chúng vào quỹ đạo hoạt độngcủa chủ nghĩa xã hội, bằng sự thuyết phục những lợi ích thiết thực trước mắt và lâu dài đểtạo nhanh và rộng sự liên kết ấy Nghĩa là, việc tổ chức quá trình liên kết kinh tế giữa sảnxuất và thương mại sẽ góp phần quan trọng vào việc đưa nền sản xuất hàng hoá (tiểunông) lên sản xuất lớn đại công nghiệp của chủ nghĩa xã hội

Sau này, với nhận thức và những sáng tạo mới mẻ về phương diện lý luận và bằngtài tổ chức của mình, Lênin đã thực hiện trong đời sống kinh tế - xã hội Nga công cuộcliên kết sản xuất tiểu nông với công nghiệp và thương mại và thông qua hoạt động baotiêu của thương mại để đưa một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ở Liên Xô thành mộtnền kinh tế tiên tiến lúc đó Trong vài chục năm gần đây, vấn đề liên kết kinh tế lại đượcnhiều nhà kinh tế học của các nước xã hội chủ nghĩa đề cập tới ở các khía cạnh sau:

1 Liên kết kinh tế trong sản xuất theo sản phẩm và theo ngành chủ yếu trên lĩnhvực công nghiệp trong phạm vi hệ thống Xã hội chủ nghĩa

Trang 2

2 Liên kết nông - công nghiệp trong phạm vi một vùng và một nước (chủ yếutrong công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm).

3 Liên kết kinh tế giữa khoa học và sản xuất

Ở nước ta, vào đầu những năm 80, kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (khoá IV) với chủ trương "bung ra" trong sản xuất,vấn đề liên kết kinh tế đã nổi lên như một vấn đề nóng hổi của thực tiễn đời sống kinh tế.Đặc biệt sau khi có Nghị quyết của Hội nghị trung ương 3 (khoá VI) với chủ trương pháttriển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, thì liên kết kinh tế đã trở thành một hiệntượng "thường nhật" của các doanh nghiệp và ở các địa phương Từ đó, trên các sách,báo, tạp chí, hội nghị, đề tài khoa học, đã có không ít tác giả bàn đến vấn đề liên kết kinh

tế Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có

hệ thống về bản chất, nội dung, bước đi và triển vọng của quá trình liên kết kinh tế ởnước ta Hơn nữa, về các vấn đề cơ bản này, còn có những ý kiến khác nhau

Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã quyết tâmchuyển nền kinh tế từ hoạt động trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,

mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài Thực chất của công cuộc đổi mới kinh tế này lànhằm đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởngkinh tế quốc dân và tìm ra con đường phát triển kinh tế ngắn nhất

Thực hiện chủ trương đổi mới đó, đã, đang và sẽ xuất hiện nhiều hình thức kinh tếnăng động, nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất và thương mại khác nhau, thuộc nhiềuhình thức sở hữu thuần khiết hoặc đan xen nhau Hình thức quan hệ kinh tế chủ yếu vàngày càng trở nên phổ biến giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng như trong một doanhnghiệp là quan hệ liên kết sản xuất và thương mại Đến lượt mình, nó làm xuất hiệnnhững loại hình doanh nghiệp và quan hệ kinh tế mới phức tạp hơn, nhưng hiệu quả kinh

tế cao hơn, góp một phần nhất định vào việc đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi sựkhủng hoảng, trì trệ, giữ vững sự ổn định và phát triển

Tuy nhiên, trong sự vận động, chuyển hoá, "bung ra" ban đầu và trong điều kiệnluật pháp chưa ban hành kịp thời, đầy đủ hoặc chưa thể giải phóng hoàn toàn khỏi tư duy

cũ thì có không ít những quan hệ kinh tế được xem như là "một hiện tượng không lànhmạnh" cần phải "uốn nắn" Vì vậy cần có một công trình nghiên cứu tương đối công phuhơn về thực chất và những vấn đề liên quan của quá trình liên kết kinh tế giữa các doanhnghiệp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó đi sâu vào việc liên kếtgiữa sản xuất và thương mại Để một lần nữa minh chứng và trên cơ sở đó khẳng địnhnhững mặt đúng và chưa đúng, những mặt được và chưa được của quá trình liên kết kinh

tế ở nước ta, thực sự làm cho nó trở thành một biện pháp tăng hiệu quả sản xuất-kinhdoanh, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần nâng cao tốc

độ tăng trưởng kinh tế quốc dân và quá trình tái sản xuất xã hội vận động phát triểnnhanh Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã lựa chọn "Vấn đề liên kết kinh tế giữasản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường" làm đề tàiluận án

2 Mục đích nghiên cứu của luận án:

Lựa chọn đề tài nghiên cứu trên, chúng tôi nhằm những mục tiêu chủ yếu sau:

Trang 3

- Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những kết quả của nhữngcông trình đã công bố, cùng với những suy nghĩ nghiên cứu của bản thân, cố gắng làm rõthêm cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển các quan hệ liên kết kinh

tế trong nền kinh tế quốc dân

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, các quan hệ liên kết giữa sản xuất và thương mại, bản luận án nêu lênnhững nội dung chủ yếu trong sự phát triển của quá trình liên kết sản xuất với thương mạitrong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

- Phân tích, vạch rõ phương hướng, những nguyên tắc điều kiện cần thiết và kiếnnghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế giữasản xuất và thương mại, góp phần làm cho nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Đối tượng chính được nghiên cứu trong bản luận án này là các quan hệ liên kếtkinh tế dưới góc độ kinh tế chính trị học Nghĩa là, bản luận án tập trung vào các vấn đề:

cơ sở hình thành, bản chất, xu hướng vận động, những hình thức, những điều kiện cầnthiết và những giải pháp thích hợp thúc đẩy quá trình phát triển liên kết kinh tế giữa sảnxuất và thương mại

- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong các mối quan hệ liên kết kinh tếgiữa các doanh nghiệp sản xuất và thương mại (một số đơn vị tiêu biểu), cùng các mốiquan hệ giữa các khâu sản xuất và thương mại, dịch vụ trong một doanh nghiệp

- Tác giả luận án sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp hệthống, kết hợp chặt chẽ các phương pháp minh hoạ, đối chiếu so sánh, kết hợp kinhnghiệm trong nước với kinh nghiệm thế giới, lịch sử và hiện đại Đồng thời cũng vậndụng tổng hợp các phương pháp của công việc tổng kết thực tiễn như điều tra chọn mẫu,phân tích, khái quát để làm sáng tỏ các vấn đề

4 Đề tài đã được nghiên cứu đến đâu:

Như ở phần trên chúng tôi đã trình bày, trong vài chục năm qua, vấn đề liên kếtkinh tế đã được nhiều nhà kinh tế học ở các nước xã hội chủ nghĩa bàn đến Nhiều tácphẩm đã được dịch sang tiếng Việt Các cuốn sách này chủ yếu trình bày quá trình pháttriển các mối quan hệ liên kết kinh tế trên phạm vi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thếgiới, liên kết khoa học và sản xuất, liên kết nông- công nghiệp ở Liên Xô cũ Đáng chú ý

Có một số được viết theo các bài tạp chí và các chương của các cuốn sách Trong số đó

có một vài cuốn sách nói về các khía cạnh của liên kết kinh tế đáng chú ý như:

- "Liên kết dọc của sản xuất: Sự đền bù thất bại của thị trường" của Wiliamson O.,nhà xuất bản tự do, Newyork ấn hành năm 1971

- "Sự hợp nhất: Quá khứ và hiện tại" của Randall Smith và Dennis Brooks - doHiệp hội của các Trớt ấn hành năm 1963

Trang 4

- "Lý thuyết tổ chức: Sự tiếp cận liên kết" của Robert C.Ford, Barry R.Armandi vàCherril P.Heaton, do Happer và Row xuất bản tại New York 1988.

Ở Việt Nam, vào những năm 80, vấn đề liên kết kinh tế cũng được khá nhiều nhàkinh tế quan tâm Đã có nhiều công trình công bố trên các sách báo, tạp chí và tại các hộinghị khoa học Phần lớn là các bài báo, tạp chí và các chương trong cuốn sách Các côngtrình nghiên cứu tương đối công phu như:

- "Liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa - giai đoạn hiện nay của phân công lao độngquốc tế xã hội chủ nghĩa", của tập thể tác giả, do nhà xuất bản Thông tin lý luận ấn hànhnăm 1985, tại Hà Nội

- Đề tài cấp Nhà nước 98a-03-08" các hình thức liên kết kinh tế trong thời kỳ quá

độ ở nước ta, chú ý đến liên kết nông-công nghiệp, liên kết ngành-lãnh thổ, liên kết cácthành phần kinh tế" do Phó Giáo sư Hoàng Kim Giao làm chủ nhiệm và tác giả bản luận

án là một thành viên Đề tài nghiệm thu tháng 5 năm 1989

- Đề tài khoa học cấp Bộ "Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động các hình thứcliên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất-kinh doanh công nghiệp" doPhó giáo sư Nguyễn Đình Phan làm chủ nhiệm Đề tài nghiệm thu tháng 5-1992

Các công trình trên chưa đề cập nhiều đến vấn đề liên kết kinh tế giữa sản xuất và thươngmại, đặc biệt trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

5 Đóng góp mới của luận án:

- Bằng tư duy lý luận kết hợp logic và lịch sử, tác giả bản luận án trình bày mộtcách tương đối hệ thống về quá trình hình thành và phát triển các quan hệ liên kết kinh tếgiữa các doanh nghiệp, cố gắng làm rõ bản chất của liên kết kinh tế

- Là bản luận văn đầu tiên trình bày và phân tích thực trạng và xu hướng vận độngcủa các quan hệ liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại ở nước ta trong quá trìnhchuyển sang nền kinh tế thị trường

- Cuối cùng, đóng góp mới của tác giả bản luận án là những kiến nghị về nhữnggiải pháp ở tầm kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa sản xuất vàthương mại, đồng thời góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

6 Phần kết quả nghiên cứu:

- Kết cấu của luận án:

Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, bản luận án được trình bày thành ba chương:Chương I: Sự hình thành, phát triển của quan hệ liên kết kinh tế trong nền kinh tếthị trường

Chương II: Thực trạng của các quan hệ liên kết kinh tế giữa sản xuất và thươngmại

Chương III: Một số nội dung và giải pháp chủ yếu để phát triển các quan hệ liênkết kinh tế giữa sản xuất và thương mại

Sau đây là nội dung các chương, mục cụ thể:

CHƯƠNG I

SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆ LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Sự hình thành và phát triển của các loại quan hệ liên kết kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Trang 5

Lịch sử ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản được C.Mác khái quát trình bàytrong bộ "Tư bản", chính là quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp Tư bảnchủ nghĩa , cũng chính là quá trình hình thành và phát triển các quan hệ liên kết kinh tếgiữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế đó.

Phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu là tiền đề cơ bản của sự ra đời nền sảnxuất hàng hoá Đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất hàng hoá nói chung là mỗi người sảnxuất chỉ chuyên sâu ở một hoặc vài nghề nhất định nào đó Họ không tự mình sản xuấtđược những thứ mà họ cần cho đời sống của bản thân và gia đình Để thoả mãn các nhucầu của mình buộc những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm cho nhau, tức phải quan

hệ với nhau thông qua trao đổi trên thị trường

Một trong những con đường làm xuất hiện các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa,phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị làm phân hoá những người sảnxuất hàng hoá trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn

Trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, ngày nay gọi là nền kinh tế thịtrường hiện đại, luôn luôn có những doanh nghiệp mới ra đời, một số doanh nghiệp thì bịphá sản, bị thôn tính, sát nhập và một số khác thì ngày càng phát triển lớn mạnh, theo quyluật mà C.Mác gọi là quy luật "tích tụ và tập trung tư bản chủ nghĩa" hay quy luật "tíchluỹ tư bản chủ nghĩa" Chính quy luật tích luỹ tư bản chủ nghĩa chịu sự chi phối của quyluật giá trị trong nền kinh tế thị trường

Phân công lao động làm cho quá trình tái sản xuất xã hội ngày càng chia nhỏ thànhnhiều khâu, nhiều công đoạn và rất nhiều người sản xuất hàng hoá khác nhau đã chuyêntâm vào một số công việc, một số sản phẩm, tức là quá trình chuyên môn hoá Chuyênmôn hoá ngày càng sâu sắc làm xuất hiện ngày càng nhiều các loại doanh nghiệp khácnhau về chức năng, về sản phẩm Sự xuất hiện các doanh nghiệp độc lập, chuyên mônhoá đã buộc họ phải quan hệ với nhau, lúc đầu thông qua trao đổi sản phẩm trên thịtrường Các mối quan hệ trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp ban đầu diễn ra mộtcách ngẫu nhiên Các doanh nghiệp là những chủ thể sản xuất và kinh doanh hàng hoáluôn luôn có nhu cầu trao đổi hàng hoá với nhau Hàng hoá "có thể trao đổi được là nhờmột hành vi tự nguyện của những người chủ của chúng, muốn nhượng chúng lại chonhau"(4) Vì động cơ của các chủ doanh nghiệp là sản xuất - kinh doanh hàng hoá nhằmthu lợi nhuận, cho nên họ luôn luôn tìm đến nhau và đến với người tiêu dùng để trao đổi,tiêu thụ hàng hoá của mình Hành vi mang tính "tự nguyện", nhưng là bắt buộc đối vớimọi người sản xuất hàng hoá nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng, trở thànhhành động thường xuyên của chúng Và "sự không ngừng lặp đi lặp lại của trao đổi đãlàm cho nó trở thành một quá trình xã hội đều đặn",(4) và nhờ có những người khácmuốn tiêu dùng chúng Một loạt các cuộc trao đổi (bán-mua) sản phẩm ngẫu nhiên giữacác doanh nghiệp, bạn hàng bất kỳ cứ diễn ra liên tiếp trên thị trường Sau rất nhiều lầnquan hệ trao đổi khi thì với doanh nghiệp này, khi thì với doanh nghiệp khác, đến một lúcnào đó doanh nghiệp X nhận thấy những mối lợi to lớn trong quan hệ kinh tế với doanhnghiệp Y hoặc doanh nghiệp Z Ngược lại doanh ngiệp Y hoặc doanh nghiệp Z cũngnhận ra những mối lợi đáng kể xét trên nhiều khía cạnh khi quan hệ làm ăn với doanhnghiệp X Nghĩa là, họ đã tìm thấy những bạn hàng mạng lại lợi ích kinh tế to lớnthường xuyên cho nhau, nếu như tiến hành quan hệ làm ăn với nhau lâu dài Cuối cùng

họ đi đến thoả thuận ký kết những hợp đồng kinh tế tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên để tiến

Trang 6

hành những quan hệ kinh tế thường xuyên, lâu dài, ổn định với nhau Như vậy, mối quan

hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp nói trên đã có sự thay đổi lớn về chất Nó không chỉdừng lại ở quan hệ mua - bán trao đổi ngẫu nhiên bất kỳ, mà đi đến thoả thuận hợp tác,quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài Chúng tôi gọi thời điểm này là mốc khởiđầu của quá trình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp X với doanh nghiệp Y hoặc doanhnghiệp Z

Chuyên môn hoá, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranhkhốc liệt, không có nghĩa là một doanh nghiệp nào đó chỉ duy nhất sản xuất một loại sảnphẩm hoặc đảm nhiệm duy nhất một giai đoạn công nghệ và sử dụng một loại nguyên vậtliệu Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng thông thường chuyên môn hoá sản xuất - kinhdoanh vào một vài loại sản phẩm hoặc một số giai đoạn công nghệ tuỳ thuộc vào quy môcủa doanh nghiệp, vào trình độ phân công chuyên môn hoá của lực lượng sản xuất xã hộinói chung, vào sự vận động biến đổi của thị trường… Vì vậy, trong vòng xoáy của cáchoạt động kinh tế, các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ kinh tế với một doanh nghiệpduy nhất nào đó, mà phải quan hệ với rất nhiều doanh nghiệp khác nhau, đồng thời khôngchỉ thực hiện một loại hình quan hệ kinh tế, mà thực hiện rất nhiều loại hình, thang bậctrình độ khác nhau của quan hệ kinh tế Trong khi doanh nghiệp A thực hiện quan hệ liênkết rất chặt chẽ với doanh nghiệp B, nhưng chỉ thực hiện những quan hệ hợp tác tươngđối lỏng lẻo trên một vài lĩnh vực, trong một quãng thời gian với nhất định với doanhnghiệp C, đồng thời lại phải tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay- mượn một cáchngẫu nhiên, nhất thời với các doanh nghiệp D, E, F và cũng có thể phải cạnh tranh

"sống mái" với các doanh nghiệp N, K, H và Trong vòng xoáy hoạt động kinh tế đanxen ấy, các quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ liên kết kinh tế nói riêng, diễn ra chằngchịt với nhau và vận động phát triển, chuyển hoá không ngừng

Cùng với đà phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là phân công lao động xãhội của chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh, của sự vận động biến đổi của thị trường,đồng thời nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh, hạn chế những cạnh tranh khốc liệt, cácdoanh nghiệp từ chỗ chỉ tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay-mượn nhất thời ngẫunhiên, tiến lên ký kết thoả thuận hợp đồng trao đổi cung cấp các sản phẩm thường xuyêncho nhau và sau đó tiến đến thoả thuận ký kết hợp tác, phân công sản xuất, kinh doanhcác loại sản phẩm khác nhau giữa các doanh nghiệp Các giai đoạn hợp tác nói trên có thểtương ứng với các hình thức Các-ten (Cartel) và Xanh-đi-ca (Syndicate) mà V.I Lênin vàcác nhà kinh tế học trước và sau ông đã nêu lên (xem 25 + 83) Như vậy, về phương diệnlogic và lịch sử, quá trình liên kết kinh tế diễn ra trong lưu thông trao đổi để làm nhiệm

vụ giải quyết "đầu vào" (input) và đầu ra (output) cho các doanh nghiệp, tiếp đến là sựliên kết giữa lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực thương mại, sau cùng là sự liên kết chính ngaytrong quá trình sản xuất Nếu phân định theo lĩnh vực (Sector) thì quá trình liên kết đượcphát triển như sau:

- Diễn ra trong bản thân lĩnh vực thương mại

- Liên kết giữa sản xuất và thương mại

- Diễn ra trong bản thân lĩnh vực sản xuất

Ngày nay quá trình liên kết kinh tế diễn ra theo lĩnh vực (ngành) nói trên tồn tạimột cách đồng thời, xen kẽ nhau Thậm chí có những mối quan hệ liên kết chỉ có thểphân biệt được theo sector về phương diện phân tích, nghiên cứu khoa học Sự hợp tác

Trang 7

trong bản thân lĩnh vực lưu thông, thương mại giữa những nhà sản xuất là biểu hiện củaquan hệ liên kết ngang (horizontal intertion) và thiết lập nên sự điều hoà, phối hợp chungnhằm bảo đảm "đầu vào", "đầu ra", là sự phân định về thị trường giữa các nhà sản xuất.

Nó giúp có các nhà sản xuất chuyên tâm hơn vào sản xuất và kết quả là hiệu suất kinh tế

sẽ cao hơn

Tuy nhiên sự khai thông về mặt "đầu ra" và sự đảm bảo một cách ổn định, hợp lý, kịpthời về phương diện "đầu vào" phải là sự hợp tác chặt chẽ giữa lĩnh vực sản xuất(productive sector) với lĩnh vực thương mại (trade sector) Sự hợp tác này là biểu hiệncủa quan hệ liên kết dọc (vartical integration) và là kết quả của hợp tác, phân công chặtchẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà thương mại Sự hợp tác chặt chẽ và chuyên mônhoá sâu giữa những nhà doanh nghiệp này sẽ làm cho hiệu quả kinh tế của từng doanhnghiệp nói riêng và của các doanh nghiệp nói chung sẽ cao hơn nhiều Cùng với sự pháttriển của phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất thì quá trình hợp tác giữa nhữngnhà sản xuất cũng xuất hiện đồng thời hoặc xen kẽ, kế tiếp Kết quả của sự hợp tác này là

sự phối hợp có hiệu quả các kế hoạch sản xuất giữa các doanh nghiệp, là giải quyết vấn

đề công nghệ sản xuất - cải tiến quy trình công nghệ, là tìm kiếm thay thế nguyên vật liệumới và cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh tế không ngừng

Sau một quá trình quan hệ, hợp tác làm ăn với nhau khá quen thuộc và đã tin tưởngvào nhau, đồng thời xuất phát từ nhu cầu về khả năng về vốn thiết bị, công nghệ, về tìnhhình thị trường, các doanh nghiệp tiến tới ký kết thoả thuận góp vốn để thành lập mộtdoanh nghiệp mới gọi là Xí nghiệp liên doanh hoặc Công ty liên doanh Xí nghiệp "liêndoanh" (Joint venture) hay "hợp doanh" là sự "hùn vốn", góp vốn của hai hoặc nhiềudoanh nhân, doanh nhiệp nhỏ nhằm tạo thành một doanh nghiệp có vốn lớn hơn để kinhdoanh Cũng có thể chỉ là một phần vốn nào đó của các doanh nghiệp độc lập góp vào đểthành lập một doanh nghiệp mới hoàn toàn, chỉ để sản xuất - kinh doanh ở một vài ngànhnghề, lĩnh vực khác hẳn so với những lĩnh vực đang hoạt động của các doanh nghiệpthành viên

Xí nghiệp liên doanh có Hội đồng quản trị (bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các

uỷ viên) đại diện cho các doanh nghiệp thành viên và ban giám đốc để điều hành hoạtđộng của Xí nghiệp Ban giám đốc có thể là những nhà quản lý của các doanh nghiệpthành viên, cũng có thể là những nhà quản lý chuyên nghiệp do Hội đồng quản trị liêndoanh thuê Các bên liên doanh cùng nhau chịu rủi ro, lỗ, lãi đến cùng và cùng nhau thoảthuận phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn liên doanh Có thể các thành viên vẫn tồn tại

và hoạt động độc lập Chỉ có Xí nghiệp liên doanh là hoạt động dưới sự điều hành chungthông qua Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Tuỳ theo khả năng và nhu cầu về vốn,thiết bị, công nghệ, yêu cầu của thị trường đối với các bên tham gia liên doanh, cũng nhưtuỳ thuộc vào trình độ kinh tế, luật pháp của từng nước mà các bên tham gia liên doanh(góp vốn) có thể thành lập các doanh nghiệp với các hình thức như: "Xí nghiệp chungvốn" (Partnership), hoặc "Công ty" (company), hay "Công ty trách nhiệm hữu hạn"(Co.Ltd) (xem 3 + 9 + 32 + 57 + 84 + 94)

Cùng với đà tiến bộ của lực lượng sản xuất, trước hết là khoa học và công nghệ,sau một quá trình hợp tác, quan hệ gắn bó lâu dài, đồng thời nhằm mục đích tăng cườngtiềm lực cạnh tranh trên thị trường ngày càng mở rộng phạm vi, các doanh nghiệp đã tựnguyện "sát nhập", "hợp nhất", "hoà hợp", "liên hợp", "kết hợp" lại với nhau về cả

Trang 8

phương diện liên kết ngang, lẫn liên kết dọc thành một doanh nghiệp lớn hơn Các doanhnghiệp tham gia vào quá trình liên kết này không còn là những doanh nghiệp hoạt độngđộc lập, trở thành một bộ phận trong doanh nghiệp mới lớn hơn Nó còn được gọi là quátrình liên hợp hoá Quá trình này được hình thành theo hai cách: hoặc là một doanhnghiệp mẹ (doanh nghiệp lớn) có sức mạnh trong cạnh tranh đã thu hút, "sát nhập" cácdoanh nghiệp nhỏ (không đủ sức tồn tại trong cạnh tranh), và trở thành doanh nghiệpngày càng lớn mạnh lên, hoặc là các doanh nghiệp tự nguyện cùng nhau thoả thuận kếthợp, hợp nhất lại với nhau thành một doanh nghiệp lớn hơn Khi bàn về quá trình xã hộihoá nền sản xuất C.Mác đã gọi quá trình "sát nhập", "hợp nhất" nói trên là quá trình tậptrung hoá sản xuất, là "quá trình tập trung tư bản" Các loại doanh nghiệp lớn này đượchình thành từ những doanh nghiệp cùng ngành hoặc khác ngành với nhau theo kiểu liênkết ngang và theo kiểu liên kết dọc Các hình thức của các kiểu liên kết này có thể thấytrong lịch sử tương ứng với các loại tờ-rớt, công-xooc-xi-om (Consortium), hoặc các xínghiệp liên hợp (combinate), liên hợp các xí nghiệp (union of enterprises), tổ hợp sảnxuất lãnh thổ (APK)… (xem 4 + 24 + 25 + 79 + 96) Trong quá trình này mối quan hệgiữa cạnh tranh và liên kết vận động phát triển một cách biện chứng không ngừng Chínhnhân tố cạnh tranh trên thị trường đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có nhu cầu hợp tácliên kết với nhau Sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp làm hạn chế và đi đến thủtiêu cạnh tranh trong nội bộ một tổ chức liên kết, đồng thời lại tăng cường sức mạnh cạnhtranh của tổ chức trên thị trường.

Sự vận động phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đếngiai đoạn cao, tức là liên hợp hoá, đi đến sát nhập, kết hợp, hợp nhất lại hình thành mộtdoanh nghiệp mới, có quy mô lớn hơn, tạo ra khả năng tiếp thu, đổi mới công nghệ kỹthuật tiến bộ, nâng cao năng suất lao động, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, có sứccạnh tranh lớn trên thị trường Khi trở thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân mới, lớnhơn, các doanh nghiệp này lại tiến hành hoạt động và quan hệ kinh tế với nhiều loại hình

từ thấp lên cao với rất nhiều doanh nghiệp khác Chúng lại tiến hành quan hệ trao đổi ,buôn bán lẫn nhau và với các doanh nghiệp khác một cách ngẫu nhiên, nhất thời tiến lênquan hệ hợp tác trao đổi sản phẩm một cách thường xuyên, ổn định, lâu dài, quan hệ phâncông hợp tác trong sản xuất-kinh doanh, liên doanh và liên hợp, hợp nhất… Quá trình đóluôn luôn vận động, biến đổi, phát triển theo những vòng xoáy trôn ốc, làm cho lực lượngsản xuất ngày càng phát triển, quy mô của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng, côngnghệ, kỹ thuật, năng lực quản lý càng ngày càng tiến bộ, năng suất lao động và hiệu quảkinh tế ngày càng nâng cao và sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn mạnh Cứ thế

sẽ vận động mãi không ngừng, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển, trình độ xã hộihoá ngày càng nâng cao

Quá trình liên kết kinh tế ở giai đoạn liên hợp hoá diễn ra liên tục nếu không bịgiới hạn bởi điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nào đó ràng buộc sẽ có xu hướng liên hợphoá theo ngành rất cao hình thành những công ty, liên hiệp ngành độc quyền Nghĩa làquá trình tập trung hoá về phương diện tổ chức sản xuất-kinh doanh ở quy mô rất cao, tạo

ra những tổ hợp độc quyền trong một ngành, lĩnh vực nào đó Nhưng bản thân sự độcquyền lại kìm hãm sự phát triển kinh tế Vì thế ngày nay ở rất nhiều nước có nền kinh tếphát triển trên thế giới người ta ban hành luật chống độc quyền Luật đó sẽ quy định giớihạn doanh thu về một loại sản phẩm, một lĩnh vữc hoạt động nào đó chỉ chiếm tỷ lệ phần

Trang 9

trăm nào đó trong tổng doanh thu của cả nước về lĩnh vực hoặc sản phẩm đó, tuỳ theotình hình đặc điểm của mỗi nước.

Để thích ứng với luật chống độc quyền, phù hợp với quy luật vận động phát triểntheo kiểu vòng xoáy trôn ốc của các quan hệ kinh tế nói trên, ngày nay ở các nước có nềnkinh tế thị trường hiện đại, phát triển, đã và đang hình thành những hình thức tổ chứckinh tế khổng lồ: concern, conglomerate và Group Các loại tập đoàn kinh tế khổng lồnày là một hình thức liên kết kinh tế cao, xét về quy mô của tập đoàn là hết sức lớn, song

về phương diện tổ chức thì tương đối "lỏng lẻo" so với các hình thức liên hợp hoá đã nói

ở trên, đồng thời chúng lại chứa đựng nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh, nhiều loạisản phẩm được sản xuất và buôn bán Nó là một tổ chức kinh tế thực sự nhưng lại không

có tư cách pháp nhân kinh tế đầy đủ hoạt động độc lập Hoạt động chung của các tậpđoàn này chủ yếu trên các lĩnh vực tài chính, đầu tư, tín dụng công nghệ và thương mại

Nó là những sự góp vốn của các doanh nghiệp thành viên và được tập trung đầu tư vàonhững dự án có hiệu quả nhất của một vài doanh nghiệp thành viên nào đó … (xem 61 +

83 + 91)

Nhìn lại lịch sử hoạt động kinh tế của nhân loại chúng ta thấy liên kết kinh tế xuấthiện từ khá lâu Ngay từ thời kỳ tiền sử của chủ nghĩa tư bản - hình thức "phường hội"của những người thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ đã ra đời Phường hội chính

là phương thức sơ khai của liên kết kinh tế giữa những người thợ thủ công cá thể nhỏ lẻ,sản xuất phân tán manh mún và những người buôn bán nhỏ để giúp nhau sản xuất-kinhdoanh, để tập hợp lại nhằm tăng thêm sức mạnh cạnh tranh Vào thời kỳ đầu của chủnghĩa tư bản, thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ, thời kỳ "công trường thủ công" thể kỷ 16-17,những công ty cổ phần đầu tiên đã xuất hiện, đã có những sự liên kết khá chặt chẽ giữanhững công trường thủ công độc lập hoặc có sự kết hợp ngay trong một công trường thủcông những lĩnh vực sản xuất khác nhau Vào thời kỳ này ở Anh, người ta thấy nhữngcông trường thủ công làm ra tư liệu sản xuất gắn liền với công trường thủ công làm ra sảnphẩm Những xí nghiệp thuỷ tinh lớn ở Anh đều tự mình làm lấy những nồi nấu bằng đấtchịu lửa Có những công trường thủ công làm pha lê kết hợp với công trường thủ côngmài thuỷ tinh và công trường thủ công đúc đồng (xin xem 4)

Vào cuối thế kỷ 19, các hình thức kinh tế theo chiều ngang như Các-ten,

Xanh-di-ca, tờ-rớt là chiếm ưu thế Các-ten lầ hình thức liên kết kinh tế thấp nhất Các doanhnghiệp tham gia vào Các-ten vẫn hoàn toàn độc lập trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

và họ thoả thuận với nhau về giá cả, thị trường tiêu thụ và khối lượng sản phẩm sản xuất

ra Các-ten nổi tiếng nhất là Các-ten dầu lửa đã thống nhất những công ty lớn nhất thếgiới để giữ giá dầu nhằm thu nhiều lợi nhuận cho những giếng dầu ở Tếch-dát (Texas).Gần đây nổi tiếng là Các-ten của các nước dầu lửa (OPEC) Trong các Xanh-di-ca thì sảnxuất là hoạt động độc lập của các doanh nghiệp, còn tiêu thụ do một ban quản trị của tổchức đảm nhiệm So với Các-ten, nó là hình thức liên kết kinh tế cao hơn Tờ-rớt là hìnhthức liên kết kinh tế cao nhất vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 Nó liên kết toàn bộ cáchoạt động sản xuất, tiêu thụ và tài chính của doanh nghiệp thành viên, dưới dự điều hànhcủa Ban quản trị Tổ chức Mỗi doanh nghiệp tham gia Tờ-rớt trở thành như một cổ đông

và hưởng lợi nhuận theo cổ phần đóng góp Nó trở thành một công ty cổ phần khổng lồduy nhất thống trị trong một ngành nào đó, là những tổ chức độc quyền lũng đoạn thịtrường các nước và thế giới Vào thời kỳ này ở Đức thì hình thức Các-ten chiếm ưu thế, ở

Trang 10

Pháp thì hình thức Xanh-đi-ca chiếm ưu thế, còn ở Mỹ thì hình thức Tờ-rớt lại chiếm ưuthế (xin xem 25 + 44).

Từ cuối những năm 20 của thế kỷ này trở đi ở Mỹ và một số nước tư bản chủ nghĩakhác liên kết kinh tế theo chiều dọc trở nên chiếm ưu thế Những liên minh (union) kinh

tế giữa sản xuất và tiêu thụ của một loạt ngành khác nhau, có mối liên hệ với nhau, kếtiếp nhau vào một tổ chức kinh tế lớn, vào một công ty cổ phần Nó thống nhất tổ chức từcác khâu khai thác nguyên liệu đến chế biến sản xuất thành phẩm và tổ chức tiêu thụđược tập trung vào trong một công ty cổ phần Nổi bật là trong các ngành luyện kim, hoáchất, chế tạo ô tô và máy móc, công nghiệp thực phẩm… vài chục năm gần đây xuất hiệnnhững hình thức liên kết kinh tế đa ngành, (theo như Phó giáo sư Nguyễn Đình Phan gọi

là "liên kết kinh tế ngoại vi") như các tổ chức Côngxoocxiom, Công xen, Công – gờ

-lô - mê - rát, Nhóm công ty (group) Chúng là những công ty cổ phần, những tập đoànkinh tế khổng lồ, tập hợp những lĩnh vực hoạt động độc lập về mặt kỹ thuật, nhằm phân

bổ những rủi ro trên nhiều lĩnh vực hoạt động và đảm bảo phương tiện tài chính và vậtchất để mở rộng và tập trung sản xuất-kinh doanh Ngày nay hình thức liên kết kiểuConglemerate phát triển mạnh nhất và rộng khắp Tập đoàn SAMSUNG (Nam TriềuTiên) với 176.947 công nhân, doanh thu 35 tỷ USD (1989) đã liên kết 32 công ty, cómạng lưới chi nhánh là 180 ở 54 nước và 90 thành phố Các lĩnh vực kinh doanh của nólà: trao đổi mậu dịch (Trades): chiếm 33% doanh thu; tài chính (Finance) chiếm 25%doanh số, còn sản xuất (productions) chiếm 42% doanh thu (trong đó: điện tử: 22%doanh thu, dệt - thực phẩm: 7%, chế tạo máy móc: 5%, hoá chất: 4%, xây dựng: 4%) ởNhật, những hãng lớn như TOYOTA MOTOR, NISSAN MOTOR, MITSUBISHI,SAUWA, MITSUI, SUMITOMO… thì tránh "Luật chống độc quyền" bằng hình thức liênkết các công ty vừa và nhỏ thành một hệ thống các vành đai "vệ tinh" bao quanh các công

ty "mẹ" (Công ty lớn) thành nhiều tầng lớp lớn nhỏ khác nhau Các công ty mẹ đảm nhậnkhâu lắp ráp chính, cuối cùng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Việc tiêu thụ cũngđược tiến hành bởi hệ thống các nấc thang chi nhánh, đại lý thương mại ở khắp đất nước

và trên thế giới (xem 9 + 44 + 61 + 62 + 63 + 78) Để cạnh tranh trên thị trường thế giới,

ở hầu khắp các nước trên thế giới, các doanh nghiệp đều liên kết với nhau dưới hình thức

"Hiệp hội" Hiệp hội là những tổ chức liên kết kinh tế dọc theo ngành bao gồm các nhàsản xuất và tiêu thụ trong một ngành hàng nào đó Nó là một tổ chức liên kết kinh tế theo

"mô hình cấu trúc lỏng" (Slack - Structure Model) Các doanh nghiệp tham gia vào Hiệphội vẫn hoạt động một cách độc lập với pháp nhân đầy đủ Hiệp hội được Nhà nước thừanhận và được tham gia với Nhà nước trong việc điều hoà phối hợp thị trường trong vàngoài nước thông qua việc cấp hạn ngạch (quota) xuất - nhập khẩu Các doanh nghiệptham gia và Hiệp hội được thảo luận thống nhất giá cả thị trường, phối hợp hoạt động sảnxuất - kinh doanh và được phân phối quota xuất khẩu vào thị trường một nước nào đó Córất nhiều Hiệp hội hiện đang tồn tại và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nó như:CHEMICAL INDUSTRIES ASSOCIATION OF JAPAN, PETROLIUM ASSOCIATION

OF BRITIAN … (Xem: 85 + 87 + 89 + 90 + 92)

Chúng ta vừa trình bày về phương diện logic và lịch sử quá trình hình thành vàphát triển của liên kết kinh tế, thông qua những nấc thang của những mối quan hệ, nhữnghình thức liên kết kinh tế và được thể hiện bởi những hình thức tổ chức và quan hệ kinh

Trang 11

doanh Vậy thì bản chất hay thực chất và những đặc trưng chủ yếu của liên kết kinh tế làgì? Chúng ta sẽ chuyển qua phần tiếp theo.

1.2 Bản chất và những đặc trưng chủ yếu của liên kết kinh tế

a/ Chúng ta nhận thấy rằng, cho đến nay, trong hệ thống dịch thuật và giữa các nhà khoa học hầu như thống nhất coi danh từ quốc tế tương đương của "liên kết" là integration.

Trong hệ thống thuật ngữ kinh tế quốc tế, integration (hay integratio) nguyên làmột từ gốc latinh, có nghĩa là sự góp vào, hợp nhất, hoà hợp, phối hợp, sát nhập nhiều bộphận thành một chỉnh thể (xem 46 + 81…) Chính vì vậy có một thời kỳ, danh từ ấy đượcdịch sang tiếng Việt với nghĩa là "nhất thể hoá", hơn mười năm lại nay nó mới được dịchnghĩa là "liên kết" Mặc dù vậy, cách hiểu về "liên kết kinh tế" (Economic Integration)trong những năm qua vẫn rất khác nhau Một số thì coi liên kết kinh tế là một hình thức

tổ chức sản xuất xã hội giống như tập trung hoá, hiệp tác hoá, liên hiệp hoá sản xuất Sốkhác lại coi nó là hình thức quản lý (xem 34 + 42 + 66 + 70) Đề tài do Phó giáo sưHoàng Kim Giao làm chủ nhiệm thì coi liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánhcác mối quan hệ về hiệp tác, liên doanh, liên hợp hoá (xem 15 + 16) Đề tài do Phó Giáo

sư Nguyễn Đình Phan làm chủ nhiệm thì coi nó là một phạm trù biểu hiện sự phối hợphoạt động giữa các cá nhân, các tổ chức hoặc giữa các quốc gia nhằm thực hiện nhữngmục tiêu nhất định với những hiệu quả kinh tế cao nhất (xem 45+45) Phổ thông hơn(những nhà quản lý thực tiễn, các nhà báo…) mà nhiều người gọi là quan niệm "dân dã "thì họ coi liên kết kinh tế gần như đồng nghĩa với những quan hệ kinh tế theo chiềungang giữa các doanh nghiệp và giữa các cá nhân, chủ thể quản lý… (xem 30 + 31 + 67).Các văn bản của nhà nước thì coi "liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạtđộng, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành đề cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủtrương biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúcđẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất" (54)

Như đã trình bày ở mục trên, chúng ta thấy tiền đề của quá trình liên kết kinh tế là

sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất kinhdoanh Quá trình liên kết kinh tế xuất hiện trong nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thịtrường, khởi thuỷ của nó là các quan hệ kinh tế, quan hệ trao đổi, mua-bán sản phẩm,hàng hoá trên thị trường vận động phát triển qua nhiều nấc thang trình độ cố kết bền vữngcủa các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp Quá trình liên kết kinh tế giữa các doanhnghiệp diễn ra trước hết trong lưu thông, trao đổi sản phẩm Nó được đánh dấu bởi sựhợp tác trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp Sự bán - mua, trao đổi hàng hoá khôngphải diễn ra một cách ngẫu nhiên, nhất thời giữa các doanh nghiệp mà đã trở nên thườngxuyên, liên tục, có hợp đồng kế hoạch từ trước và ổn định bạn hàng trong một thời giantương đối dài Rõ ràng là, vào thời điểm này, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đãchuyển biến về chất, nâng tầm quan hệ lên một trình độ cao hơn, thường xuyên, ổn định

và cố kết hơn, có sự thoả thuận hợp tác lâu dài và bền vững hơn

Quá trình đó được phát triển lên một giai đoạn cao hơn, tức là sự hợp tác diễn rangay trong quá trình sản xuất Giai đoạn này cũng được phát triển qua nhiều nấc thangcủa nó Bắt đầu chỉ là sự thoả thuận phân công chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm, chitiết, bán thành phẩm hoặc kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư thiết bị giữa cácdoanh nghiệp với nhau, hoặc là cùng nhau góp vốn để thực hiện một dự án, một nhiệm vụ

Trang 12

chung cho các doanh nghiệp, như đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ, áp dụngtiến bộ khoa học-kỹ thuật, tìm nguồn nguyên liệu mới, khai thác thị trường, nguồn tàinguyên và lao động dồi dào… Quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp còn pháttriển lên đến những giai đoạn cao hơn đó là liên hiệp, hợp nhất các doanh nghiệp lại vớinhau hình thành một doanh nghiệp thống nhất lớn hơn.

Nó là một quá trình kinh tế với nhiều hình thức cụ thể luôn luôn vận động và pháttriển, là những hình thức vận động của quan hệ sản xuất xã hội thích ứng với trình độ củalực lượng sản xuất ở từng giai đoạn trong nền kinh tế hàng hoá Nó phản ánh các mốiquan hệ về hợp tác, liên doanh và liên hợp Khi quá trình liên kết đạt tới việc sát nhậphình thành nên một tổ chức, một doanh nghiệp mới lớn hơn, đó là sự biểu hiện của tậptrung sản xuất Như vậy, chúng tôi hiểu, thực chất hay bản chất của liên kết kinh tế chính

là quá trình xã hội hoá về phương diện kinh tế nền sản xuất xã hội Sự phát triển của liênkết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, mức độ tập trung hoá ngàycàng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gần nhau, gắn bó, cố kết vớinhau hơn Động cơ và mục đích chủ yếu của liên kết kinh tế là nhằm đạt tới lợi nhuận tối

đa và ổn định, là nhằm tăng cường sức mạnh trong cạnh tranh trên thị trường ngày càng

mở rộng phạm vi Lợi ích kinh tế là sợi dây, là chất nhựa làm gắn bó các doanh nghiệp,các chủ thể liên kết lại với nhau Cạnh tranh là nhân tố khách quan thúc đẩy các doanhnghiệp "tự nguyện bắt buộc" liên kết lại với nhau trên cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trênthị trường Để đạt tới lợi nhuận tối đa và ổn định giữa các thành viên, hoạt động liên kếtkinh tế lầ nhằm phát triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu chosản xuất, đa dạng hoá mặt hàng, tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn

và đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng phát triển thị trường, tức lànâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càngcao

Liên kết kinh tế là một quá trình vận động phát triển tự nhiên, tuỳ thuộc trình độ,phạm vi của phân công và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, tuỳ thuộc vào quá trìnhvận động phát triển của các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp, vào lợi ích của cácbên tham gia liên kết, vào môi trường cạnh tranh Nó còn tuỳ thuộc vào mối quan hệ nộitại giữa các doanh nghiệp, cũng như giữa các bộ phận, các khâu của quá trình tái sản xuất

xã hội, phụ thuộc vào sự "thử thách" của quá trình quan hệ, vào trình độ công nghệ quản

lý, cũng như năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý Không thể áp đặt về phươngdiện tổ chức từ bên ngoài, hoặc từ bên trên bất kỳ một hình thức tổ chức liên kết kinh tếtheo ý muốn chủ quan

b Xem xét trên những khía cạnh khác nhau ta thấy liên kết kinh tế có những nét đặc trưng sau:

Một là, liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan Nó phản ánh những

mối quan hệ nội tại khách quan xuất phát từ những lợi ích kinh tế khách quan giữa nhữngchủ thể kinh tế Đồng thời nó phản ánh một quá trình vận động phát triển tự nhiên của lựclượng sản xuất xuất phát từ trình độ và phạm vi của sự phân công lao động xã hội,chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh

Hai là, chúng là những quan hệ kinh tế đạt đến trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định,

thường xuyên, lâu dài, thông qua những thoả thuận hợp đồng từ trước giữa các bên thamgia liên kết Khác với cách quan niệm có tính chất "phổ thông", "dân dã", không phải tất

Trang 13

cả các quan hệ kinh tế theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp đều là liên kết kinh tế.Những quan hệ kinh tế nhất thời, những quan hệ buôn bán trao đổi thường nhật, ngẫunhiên bất kỳ giữa các doanh nghiệp… không phải là liên kết kinh tế.

Ba là, liên kết kinh tế là một quá trình là xích lại gần nhau và ngày càng cố kết, đi

đến thống nhất trên tinh thần tự nguyện giữa các thành viên liên kết Quá trình này vậnđộng phát triển qua những nấc thang quan hệ từ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liênminh, hợp nhất lại.Và như vậy, quá trình phân công chuyên môn hoá là quá trình tiền đề,điều kiện, là quá trình vừa đối lập biện chứng , vừa bổ sung không thể thiếu được của quátrình liên kết kinh tế Còn hợp tác hoá và liên hợp hoá là những hình thức biểu hiện củanhững nấc thang, những bước phát triển khác nhau của liên kết kinh tế Quá trình liên kếtkinh tế phát triển đến bước hợp nhất, thống nhất lại thành một đơn vị kinh tế lớn hơn, sẽchuyển sang một giai đoạn mới khác hẳn về chất Đó là sự thể hiện của sự tập trung(concentration) sản xuất Giữa các phạm trù trên vừa có sự phân biệt, vừa có sự thốngnhất biện chứng với nhau

Tóm lại: quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp diễn ra theo nấc thang với

- Liên hiệp hoá sản xuất-kinh doanh và liên minh kinh tế

Bốn là, liên kết kinh tế là những hình thức hay những biểu hiện của sự phối hợp

hoạt động giữa các thành viên liên kết thông qua những "giao kèo", "thoả thuận", "hợpđồng", "hiệp định", "điều lệ", thông qua những hình thức, hình thể nào đó, nhằm thựchiện những mục tiêu nhất định với hiệu quả kinh tế cao nhất trong tất cả các lĩnh vựckhác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh, khoa học, công nghệ, bảo

vệ tài nguyên, môi trường…) Tuỳ theo góc độ xem xét, nếu quá trình liên kết được diễnra:

- Giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành kinh tế-kỹ thuật goị là liên kết theongành;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành và các khâu khác nhau của quá trình táisản xuất xã hội gọi là liên kết liên ngành;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (có các hình thức

sở hữu khác nhau) gọi là liên kết giữa các thành phần kinh tế (còn gọi là giữa các khu vựckinh tế);

- Giữa các doanh nghiệp trong một vùng lãnh thổ địa phương nhất định gọi là liênkết theo vùng (địa phương);

- Giữa các doanh nghiệp vượt ra ngoài phạm vi một vùng lãnh thổ địa phương nào

đó gọi là liên kết liên vùng;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, tức là vượt ra ngoài phạm

vi khuôn khổ một quốc gia nào đó, gọi là liên kết quốc tế

Các hình thức liên kết kinh tế được biểu hiện về phương diện tổ chức hình thể đã

và đang diễn ra trong lịch sử với nhiều tên gọi rất phong phú: Các ten (Cartel), Xanh

-đi - ca (Syndicate), Tờ - rớt (Trust), Công – xooc – xi - om (Consortium), doanh nghiệp

Trang 14

chung vốn (Partnership), Công ty, Công ty cổ phần, Tổng công ty (Company,Corporation, General Co.), Công ty trách nhiệm hữu hạn (Co.Ltd), Tập đoàn (Concern,Conglomerate, Group), Xí nghiệp (Công ty) liên doanh (Joint venture), Nhóm sản phẩm,

Vệ tinh, Xí nghiệp liên hợp (Combinate), Liên hiệp các xí nghiệp (Union of enterprises),

Tổ hợp sản xuất - lãnh thổ (APK), Tổ chức hiệp tác (Cooperation), Hiệp hội (Society,Association)…

1.1 Sự hình thành và phát triển của các loại quan hệ liên kết kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Lịch sử ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản được C.Mác khái quát trình bàytrong bộ "Tư bản", chính là quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp Tư bảnchủ nghĩa , cũng chính là quá trình hình thành và phát triển các quan hệ liên kết kinh tếgiữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế đó

Phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu là tiền đề cơ bản của sự ra đời nền sảnxuất hàng hoá Đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất hàng hoá nói chung là mỗi người sảnxuất chỉ chuyên sâu ở một hoặc vài nghề nhất định nào đó Họ không tự mình sản xuấtđược những thứ mà họ cần cho đời sống của bản thân và gia đình Để thoả mãn các nhucầu của mình buộc những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm cho nhau, tức phải quan

hệ với nhau thông qua trao đổi trên thị trường

Một trong những con đường làm xuất hiện các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa,phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị làm phân hoá những người sảnxuất hàng hoá trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn

Trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, ngày nay gọi là nền kinh tế thịtrường hiện đại, luôn luôn có những doanh nghiệp mới ra đời, một số doanh nghiệp thì bịphá sản, bị thôn tính, sát nhập và một số khác thì ngày càng phát triển lớn mạnh, theo quyluật mà C.Mác gọi là quy luật "tích tụ và tập trung tư bản chủ nghĩa" hay quy luật "tíchluỹ tư bản chủ nghĩa" Chính quy luật tích luỹ tư bản chủ nghĩa chịu sự chi phối của quyluật giá trị trong nền kinh tế thị trường

Phân công lao động làm cho quá trình tái sản xuất xã hội ngày càng chia nhỏ thànhnhiều khâu, nhiều công đoạn và rất nhiều người sản xuất hàng hoá khác nhau đã chuyêntâm vào một số công việc, một số sản phẩm, tức là quá trình chuyên môn hoá Chuyênmôn hoá ngày càng sâu sắc làm xuất hiện ngày càng nhiều các loại doanh nghiệp khácnhau về chức năng, về sản phẩm Sự xuất hiện các doanh nghiệp độc lập, chuyên mônhoá đã buộc họ phải quan hệ với nhau, lúc đầu thông qua trao đổi sản phẩm trên thịtrường Các mối quan hệ trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp ban đầu diễn ra mộtcách ngẫu nhiên Các doanh nghiệp là những chủ thể sản xuất và kinh doanh hàng hoáluôn luôn có nhu cầu trao đổi hàng hoá với nhau Hàng hoá "có thể trao đổi được là nhờmột hành vi tự nguyện của những người chủ của chúng, muốn nhượng chúng lại chonhau"(4) Vì động cơ của các chủ doanh nghiệp là sản xuất - kinh doanh hàng hoá nhằmthu lợi nhuận, cho nên họ luôn luôn tìm đến nhau và đến với người tiêu dùng để trao đổi,tiêu thụ hàng hoá của mình Hành vi mang tính "tự nguyện", nhưng là bắt buộc đối vớimọi người sản xuất hàng hoá nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng, trở thànhhành động thường xuyên của chúng Và "sự không ngừng lặp đi lặp lại của trao đổi đãlàm cho nó trở thành một quá trình xã hội đều đặn",(4) và nhờ có những người khácmuốn tiêu dùng chúng Một loạt các cuộc trao đổi (bán-mua) sản phẩm ngẫu nhiên giữa

Trang 15

các doanh nghiệp, bạn hàng bất kỳ cứ diễn ra liên tiếp trên thị trường Sau rất nhiều lầnquan hệ trao đổi khi thì với doanh nghiệp này, khi thì với doanh nghiệp khác, đến một lúcnào đó doanh nghiệp X nhận thấy những mối lợi to lớn trong quan hệ kinh tế với doanhnghiệp Y hoặc doanh nghiệp Z Ngược lại doanh ngiệp Y hoặc doanh nghiệp Z cũngnhận ra những mối lợi đáng kể xét trên nhiều khía cạnh khi quan hệ làm ăn với doanhnghiệp X Nghĩa là, họ đã tìm thấy những bạn hàng mạng lại lợi ích kinh tế to lớnthường xuyên cho nhau, nếu như tiến hành quan hệ làm ăn với nhau lâu dài Cuối cùng

họ đi đến thoả thuận ký kết những hợp đồng kinh tế tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên để tiếnhành những quan hệ kinh tế thường xuyên, lâu dài, ổn định với nhau Như vậy, mối quan

hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp nói trên đã có sự thay đổi lớn về chất Nó không chỉdừng lại ở quan hệ mua - bán trao đổi ngẫu nhiên bất kỳ, mà đi đến thoả thuận hợp tác,quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài Chúng tôi gọi thời điểm này là mốc khởiđầu của quá trình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp X với doanh nghiệp Y hoặc doanhnghiệp Z

Chuyên môn hoá, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranhkhốc liệt, không có nghĩa là một doanh nghiệp nào đó chỉ duy nhất sản xuất một loại sảnphẩm hoặc đảm nhiệm duy nhất một giai đoạn công nghệ và sử dụng một loại nguyên vậtliệu Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng thông thường chuyên môn hoá sản xuất - kinhdoanh vào một vài loại sản phẩm hoặc một số giai đoạn công nghệ tuỳ thuộc vào quy môcủa doanh nghiệp, vào trình độ phân công chuyên môn hoá của lực lượng sản xuất xã hộinói chung, vào sự vận động biến đổi của thị trường… Vì vậy, trong vòng xoáy của cáchoạt động kinh tế, các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ kinh tế với một doanh nghiệpduy nhất nào đó, mà phải quan hệ với rất nhiều doanh nghiệp khác nhau, đồng thời khôngchỉ thực hiện một loại hình quan hệ kinh tế, mà thực hiện rất nhiều loại hình, thang bậctrình độ khác nhau của quan hệ kinh tế Trong khi doanh nghiệp A thực hiện quan hệ liênkết rất chặt chẽ với doanh nghiệp B, nhưng chỉ thực hiện những quan hệ hợp tác tươngđối lỏng lẻo trên một vài lĩnh vực, trong một quãng thời gian với nhất định với doanhnghiệp C, đồng thời lại phải tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay- mượn một cáchngẫu nhiên, nhất thời với các doanh nghiệp D, E, F và cũng có thể phải cạnh tranh

"sống mái" với các doanh nghiệp N, K, H và Trong vòng xoáy hoạt động kinh tế đanxen ấy, các quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ liên kết kinh tế nói riêng, diễn ra chằngchịt với nhau và vận động phát triển, chuyển hoá không ngừng

Cùng với đà phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là phân công lao động xãhội của chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh, của sự vận động biến đổi của thị trường,đồng thời nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh, hạn chế những cạnh tranh khốc liệt, cácdoanh nghiệp từ chỗ chỉ tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay-mượn nhất thời ngẫunhiên, tiến lên ký kết thoả thuận hợp đồng trao đổi cung cấp các sản phẩm thường xuyêncho nhau và sau đó tiến đến thoả thuận ký kết hợp tác, phân công sản xuất, kinh doanhcác loại sản phẩm khác nhau giữa các doanh nghiệp Các giai đoạn hợp tác nói trên có thểtương ứng với các hình thức Các-ten (Cartel) và Xanh-đi-ca (Syndicate) mà V.I Lênin vàcác nhà kinh tế học trước và sau ông đã nêu lên (xem 25 + 83) Như vậy, về phương diệnlogic và lịch sử, quá trình liên kết kinh tế diễn ra trong lưu thông trao đổi để làm nhiệm

vụ giải quyết "đầu vào" (input) và đầu ra (output) cho các doanh nghiệp, tiếp đến là sựliên kết giữa lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực thương mại, sau cùng là sự liên kết chính ngay

Trang 16

trong quá trình sản xuất Nếu phân định theo lĩnh vực (Sector) thì quá trình liên kết đượcphát triển như sau:

- Diễn ra trong bản thân lĩnh vực thương mại

- Liên kết giữa sản xuất và thương mại

- Diễn ra trong bản thân lĩnh vực sản xuất

Ngày nay quá trình liên kết kinh tế diễn ra theo lĩnh vực (ngành) nói trên tồn tạimột cách đồng thời, xen kẽ nhau Thậm chí có những mối quan hệ liên kết chỉ có thểphân biệt được theo sector về phương diện phân tích, nghiên cứu khoa học Sự hợp táctrong bản thân lĩnh vực lưu thông, thương mại giữa những nhà sản xuất là biểu hiện củaquan hệ liên kết ngang (horizontal intertion) và thiết lập nên sự điều hoà, phối hợp chungnhằm bảo đảm "đầu vào", "đầu ra", là sự phân định về thị trường giữa các nhà sản xuất

Nó giúp có các nhà sản xuất chuyên tâm hơn vào sản xuất và kết quả là hiệu suất kinh tế

sẽ cao hơn

Tuy nhiên, sự khai thông về mặt "đầu ra" và sự đảm bảo một cách ổn định, hợp lý,kịp thời về phương diện "đầu vào" phải là sự hợp tác chặt chẽ giữa lĩnh vực sản xuất(productive sector) với lĩnh vực thương mại (trade sector) Sự hợp tác này là biểu hiệncủa quan hệ liên kết dọc (vartical integration) và là kết quả của hợp tác, phân công chặtchẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà thương mại Sự hợp tác chặt chẽ và chuyên mônhoá sâu giữa những nhà doanh nghiệp này sẽ làm cho hiệu quả kinh tế của từng doanhnghiệp nói riêng và của các doanh nghiệp nói chung sẽ cao hơn nhiều Cùng với sự pháttriển của phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất thì quá trình hợp tác giữa nhữngnhà sản xuất cũng xuất hiện đồng thời hoặc xen kẽ, kế tiếp Kết quả của sự hợp tác này là

sự phối hợp có hiệu quả các kế hoạch sản xuất giữa các doanh nghiệp, là giải quyết vấn

đề công nghệ sản xuất - cải tiến quy trình công nghệ, là tìm kiếm thay thế nguyên vật liệumới và cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh tế không ngừng

Sau một quá trình quan hệ, hợp tác làm ăn với nhau khá quen thuộc và đã tin tưởngvào nhau, đồng thời xuất phát từ nhu cầu về khả năng về vốn thiết bị, công nghệ, về tìnhhình thị trường, các doanh nghiệp tiến tới ký kết thoả thuận góp vốn để thành lập mộtdoanh nghiệp mới gọi là Xí nghiệp liên doanh hoặc Công ty liên doanh Xí nghiệp "liêndoanh" (Joint venture) hay "hợp doanh" là sự "hùn vốn", góp vốn của hai hoặc nhiềudoanh nhân, doanh nhiệp nhỏ nhằm tạo thành một doanh nghiệp có vốn lớn hơn để kinhdoanh Cũng có thể chỉ là một phần vốn nào đó của các doanh nghiệp độc lập góp vào đểthành lập một doanh nghiệp mới hoàn toàn, chỉ để sản xuất - kinh doanh ở một vài ngànhnghề, lĩnh vực khác hẳn so với những lĩnh vực đang hoạt động của các doanh nghiệpthành viên

Xí nghiệp liên doanh có Hội đồng quản trị (bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các

uỷ viên) đại diện cho các doanh nghiệp thành viên và ban giám đốc để điều hành hoạtđộng của Xí nghiệp Ban giám đốc có thể là những nhà quản lý của các doanh nghiệpthành viên, cũng có thể là những nhà quản lý chuyên nghiệp do Hội đồng quản trị liêndoanh thuê Các bên liên doanh cùng nhau chịu rủi ro, lỗ, lãi đến cùng và cùng nhau thoảthuận phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn liên doanh Có thể các thành viên vẫn tồn tại

và hoạt động độc lập Chỉ có Xí nghiệp liên doanh là hoạt động dưới sự điều hành chungthông qua Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Tuỳ theo khả năng và nhu cầu về vốn,thiết bị, công nghệ, yêu cầu của thị trường đối với các bên tham gia liên doanh, cũng như

Trang 17

tuỳ thuộc vào trình độ kinh tế, luật pháp của từng nước mà các bên tham gia liên doanh(góp vốn) có thể thành lập các doanh nghiệp với các hình thức như: "Xí nghiệp chungvốn" (Partnership), hoặc "Công ty" (company), hay "Công ty trách nhiệm hữu hạn"(Co.Ltd) (xem 3 + 9 + 32 + 57 + 84 + 94).

Cùng với đà tiến bộ của lực lượng sản xuất, trước hết là khoa học và công nghệ,sau một quá trình hợp tác, quan hệ gắn bó lâu dài, đồng thời nhằm mục đích tăng cườngtiềm lực cạnh tranh trên thị trường ngày càng mở rộng phạm vi, các doanh nghiệp đã tựnguyện "sát nhập", "hợp nhất", "hoà hợp", "liên hợp", "kết hợp" lại với nhau về cảphương diện liên kết ngang, lẫn liên kết dọc thành một doanh nghiệp lớn hơn Các doanhnghiệp tham gia vào quá trình liên kết này không còn là những doanh nghiệp hoạt độngđộc lập, trở thành một bộ phận trong doanh nghiệp mới lớn hơn Nó còn được gọi là quátrình liên hợp hoá Quá trình này được hình thành theo hai cách: hoặc là một doanhnghiệp mẹ (doanh nghiệp lớn) có sức mạnh trong cạnh tranh đã thu hút, "sát nhập" cácdoanh nghiệp nhỏ (không đủ sức tồn tại trong cạnh tranh), và trở thành doanh nghiệpngày càng lớn mạnh lên, hoặc là các doanh nghiệp tự nguyện cùng nhau thoả thuận kếthợp, hợp nhất lại với nhau thành một doanh nghiệp lớn hơn Khi bàn về quá trình xã hộihoá nền sản xuất C.Mác đã gọi quá trình "sát nhập", "hợp nhất" nói trên là quá trình tậptrung hoá sản xuất, là "quá trình tập trung tư bản" Các loại doanh nghiệp lớn này đượchình thành từ những doanh nghiệp cùng ngành hoặc khác ngành với nhau theo kiểu liênkết ngang và theo kiểu liên kết dọc Các hình thức của các kiểu liên kết này có thể thấytrong lịch sử tương ứng với các loại tờ-rớt, công-xooc-xi-om (Consortium), hoặc các xínghiệp liên hợp (combinate), liên hợp các xí nghiệp (union of enterprises), tổ hợp sảnxuất lãnh thổ (APK)… (xem 4 + 24 + 25 + 79 + 96) Trong quá trình này mối quan hệgiữa cạnh tranh và liên kết vận động phát triển một cách biện chứng không ngừng Chínhnhân tố cạnh tranh trên thị trường đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có nhu cầu hợp tácliên kết với nhau Sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp làm hạn chế và đi đến thủtiêu cạnh tranh trong nội bộ một tổ chức liên kết, đồng thời lại tăng cường sức mạnh cạnhtranh của tổ chức trên thị trường

Sự vận động phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đếngiai đoạn cao, tức là liên hợp hoá, đi đến sát nhập, kết hợp, hợp nhất lại hình thành mộtdoanh nghiệp mới, có quy mô lớn hơn, tạo ra khả năng tiếp thu, đổi mới công nghệ kỹthuật tiến bộ, nâng cao năng suất lao động, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, có sứccạnh tranh lớn trên thị trường Khi trở thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân mới, lớnhơn, các doanh nghiệp này lại tiến hành hoạt động và quan hệ kinh tế với nhiều loại hình

từ thấp lên cao với rất nhiều doanh nghiệp khác Chúng lại tiến hành quan hệ trao đổi ,buôn bán lẫn nhau và với các doanh nghiệp khác một cách ngẫu nhiên, nhất thời tiến lênquan hệ hợp tác trao đổi sản phẩm một cách thường xuyên, ổn định, lâu dài, quan hệ phâncông hợp tác trong sản xuất-kinh doanh, liên doanh và liên hợp, hợp nhất… Quá trình đóluôn luôn vận động, biến đổi, phát triển theo những vòng xoáy trôn ốc, làm cho lực lượngsản xuất ngày càng phát triển, quy mô của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng, côngnghệ, kỹ thuật, năng lực quản lý càng ngày càng tiến bộ, năng suất lao động và hiệu quảkinh tế ngày càng nâng cao và sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn mạnh Cứ thế

sẽ vận động mãi không ngừng, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển, trình độ xã hộihoá ngày càng nâng cao

Trang 18

Quá trình liên kết kinh tế ở giai đoạn liên hợp hoá diễn ra liên tục nếu không bịgiới hạn bởi điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nào đó ràng buộc sẽ có xu hướng liên hợphoá theo ngành rất cao hình thành những công ty, liên hiệp ngành độc quyền Nghĩa làquá trình tập trung hoá về phương diện tổ chức sản xuất-kinh doanh ở quy mô rất cao, tạo

ra những tổ hợp độc quyền trong một ngành, lĩnh vực nào đó Nhưng bản thân sự độcquyền lại kìm hãm sự phát triển kinh tế Vì thế ngày nay ở rất nhiều nước có nền kinh tếphát triển trên thế giới người ta ban hành luật chống độc quyền Luật đó sẽ quy định giớihạn doanh thu về một loại sản phẩm, một lĩnh vữc hoạt động nào đó chỉ chiếm tỷ lệ phầntrăm nào đó trong tổng doanh thu của cả nước về lĩnh vực hoặc sản phẩm đó, tuỳ theotình hình đặc điểm của mỗi nước

Để thích ứng với luật chống độc quyền, phù hợp với quy luật vận động phát triểntheo kiểu vòng xoáy trôn ốc của các quan hệ kinh tế nói trên, ngày nay ở các nước có nềnkinh tế thị trường hiện đại, phát triển, đã và đang hình thành những hình thức tổ chứckinh tế khổng lồ: concern, conglomerate và Group Các loại tập đoàn kinh tế khổng lồnày là một hình thức liên kết kinh tế cao, xét về quy mô của tập đoàn là hết sức lớn, song

về phương diện tổ chức thì tương đối "lỏng lẻo" so với các hình thức liên hợp hoá đã nói

ở trên, đồng thời chúng lại chứa đựng nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh, nhiều loạisản phẩm được sản xuất và buôn bán Nó là một tổ chức kinh tế thực sự nhưng lại không

có tư cách pháp nhân kinh tế đầy đủ hoạt động độc lập Hoạt động chung của các tậpđoàn này chủ yếu trên các lĩnh vực tài chính, đầu tư, tín dụng công nghệ và thương mại

Nó là những sự góp vốn của các doanh nghiệp thành viên và được tập trung đầu tư vàonhững dự án có hiệu quả nhất của một vài doanh nghiệp thành viên nào đó … (xem 61 +

83 + 91)

Nhìn lại lịch sử hoạt động kinh tế của nhân loại chúng ta thấy liên kết kinh tế xuấthiện từ khá lâu Ngay từ thời kỳ tiền sử của chủ nghĩa tư bản - hình thức "phường hội"của những người thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ đã ra đời Phường hội chính

là phương thức sơ khai của liên kết kinh tế giữa những người thợ thủ công cá thể nhỏ lẻ,sản xuất phân tán manh mún và những người buôn bán nhỏ để giúp nhau sản xuất-kinhdoanh, để tập hợp lại nhằm tăng thêm sức mạnh cạnh tranh Vào thời kỳ đầu của chủnghĩa tư bản, thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ, thời kỳ "công trường thủ công" thể kỷ 16-17,những công ty cổ phần đầu tiên đã xuất hiện, đã có những sự liên kết khá chặt chẽ giữanhững công trường thủ công độc lập hoặc có sự kết hợp ngay trong một công trường thủcông những lĩnh vực sản xuất khác nhau Vào thời kỳ này ở Anh, người ta thấy nhữngcông trường thủ công làm ra tư liệu sản xuất gắn liền với công trường thủ công làm ra sảnphẩm Những xí nghiệp thuỷ tinh lớn ở Anh đều tự mình làm lấy những nồi nấu bằng đấtchịu lửa Có những công trường thủ công làm pha lê kết hợp với công trường thủ côngmài thuỷ tinh và công trường thủ công đúc đồng (xin xem 4)

Vào cuối thế kỷ 19, các hình thức kinh tế theo chiều ngang như Các-ten,

Xanh-di-ca, tờ-rớt là chiếm ưu thế Các-ten lầ hình thức liên kết kinh tế thấp nhất Các doanhnghiệp tham gia vào Các-ten vẫn hoàn toàn độc lập trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

và họ thoả thuận với nhau về giá cả, thị trường tiêu thụ và khối lượng sản phẩm sản xuất

ra Các-ten nổi tiếng nhất là Các-ten dầu lửa đã thống nhất những công ty lớn nhất thếgiới để giữ giá dầu nhằm thu nhiều lợi nhuận cho những giếng dầu ở Tếch-dát (Texas).Gần đây nổi tiếng là Các-ten của các nước dầu lửa (OPEC) Trong các Xanh-di-ca thì sản

Trang 19

xuất là hoạt động độc lập của các doanh nghiệp, còn tiêu thụ do một ban quản trị của tổchức đảm nhiệm So với Các-ten, nó là hình thức liên kết kinh tế cao hơn Tờ-rớt là hìnhthức liên kết kinh tế cao nhất vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 Nó liên kết toàn bộ cáchoạt động sản xuất, tiêu thụ và tài chính của doanh nghiệp thành viên, dưới dự điều hànhcủa Ban quản trị Tổ chức Mỗi doanh nghiệp tham gia Tờ-rớt trở thành như một cổ đông

và hưởng lợi nhuận theo cổ phần đóng góp Nó trở thành một công ty cổ phần khổng lồduy nhất thống trị trong một ngành nào đó, là những tổ chức độc quyền lũng đoạn thịtrường các nước và thế giới Vào thời kỳ này ở Đức thì hình thức Các-ten chiếm ưu thế, ởPháp thì hình thức Xanh-đi-ca chiếm ưu thế, còn ở Mỹ thì hình thức Tờ-rớt lại chiếm ưuthế (xin xem 25 + 44)

Từ cuối những năm 20 của thế kỷ này trở đi ở Mỹ và một số nước tư bản chủ nghĩakhác liên kết kinh tế theo chiều dọc trở nên chiếm ưu thế Những liên minh (union) kinh

tế giữa sản xuất và tiêu thụ của một loạt ngành khác nhau, có mối liên hệ với nhau, kếtiếp nhau vào một tổ chức kinh tế lớn, vào một công ty cổ phần Nó thống nhất tổ chức từcác khâu khai thác nguyên liệu đến chế biến sản xuất thành phẩm và tổ chức tiêu thụđược tập trung vào trong một công ty cổ phần Nổi bật là trong các ngành luyện kim, hoáchất, chế tạo ô tô và máy móc, công nghiệp thực phẩm… vài chục năm gần đây xuất hiệnnhững hình thức liên kết kinh tế đa ngành, (theo như Phó giáo sư Nguyễn Đình Phan gọi

là "liên kết kinh tế ngoại vi") như các tổ chức Côngxoocxiom, Công xen, Công – gờ

-lô - mê - rát, Nhóm công ty (group) Chúng là những công ty cổ phần, những tập đoànkinh tế khổng lồ, tập hợp những lĩnh vực hoạt động độc lập về mặt kỹ thuật, nhằm phân

bổ những rủi ro trên nhiều lĩnh vực hoạt động và đảm bảo phương tiện tài chính và vậtchất để mở rộng và tập trung sản xuất-kinh doanh Ngày nay hình thức liên kết kiểuConglemerate phát triển mạnh nhất và rộng khắp Tập đoàn SAMSUNG (Nam TriềuTiên) với 176.947 công nhân, doanh thu 35 tỷ USD (1989) đã liên kết 32 công ty, cómạng lưới chi nhánh là 180 ở 54 nước và 90 thành phố Các lĩnh vực kinh doanh của nólà: trao đổi mậu dịch (Trades): chiếm 33% doanh thu; tài chính (Finance) chiếm 25%doanh số, còn sản xuất (productions) chiếm 42% doanh thu (trong đó: điện tử: 22%doanh thu, dệt - thực phẩm: 7%, chế tạo máy móc: 5%, hoá chất: 4%, xây dựng: 4%) ởNhật, những hãng lớn như TOYOTA MOTOR, NISSAN MOTOR, MITSUBISHI,SAUWA, MITSUI, SUMITOMO… thì tránh "Luật chống độc quyền" bằng hình thức liênkết các công ty vừa và nhỏ thành một hệ thống các vành đai "vệ tinh" bao quanh các công

ty "mẹ" (Công ty lớn) thành nhiều tầng lớp lớn nhỏ khác nhau Các công ty mẹ đảm nhậnkhâu lắp ráp chính, cuối cùng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Việc tiêu thụ cũngđược tiến hành bởi hệ thống các nấc thang chi nhánh, đại lý thương mại ở khắp đất nước

và trên thế giới (xem 9 + 44 + 61 + 62 + 63 + 78) Để cạnh tranh trên thị trường thế giới,

ở hầu khắp các nước trên thế giới, các doanh nghiệp đều liên kết với nhau dưới hình thức

"Hiệp hội" Hiệp hội là những tổ chức liên kết kinh tế dọc theo ngành bao gồm các nhàsản xuất và tiêu thụ trong một ngành hàng nào đó Nó là một tổ chức liên kết kinh tế theo

"mô hình cấu trúc lỏng" (Slack - Structure Model) Các doanh nghiệp tham gia vào Hiệphội vẫn hoạt động một cách độc lập với pháp nhân đầy đủ Hiệp hội được Nhà nước thừanhận và được tham gia với Nhà nước trong việc điều hoà phối hợp thị trường trong vàngoài nước thông qua việc cấp hạn ngạch (quota) xuất - nhập khẩu Các doanh nghiệptham gia và Hiệp hội được thảo luận thống nhất giá cả thị trường, phối hợp hoạt động sản

Trang 20

xuất - kinh doanh và được phân phối quota xuất khẩu vào thị trường một nước nào đó Córất nhiều Hiệp hội hiện đang tồn tại và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nó như:CHEMICAL INDUSTRIES ASSOCIATION OF JAPAN, PETROLIUM ASSOCIATION

OF BRITIAN … (Xem: 85 + 87 + 89 + 90 + 92)

Chúng ta vừa trình bày về phương diện logic và lịch sử quá trình hình thành vàphát triển của liên kết kinh tế, thông qua những nấc thang của những mối quan hệ, nhữnghình thức liên kết kinh tế và được thể hiện bởi những hình thức tổ chức và quan hệ kinhdoanh Vậy thì bản chất hay thực chất và những đặc trưng chủ yếu của liên kết kinh tế làgì? Chúng ta sẽ chuyển qua phần tiếp theo

1.2 Bản chất và những đặc trưng chủ yếu của liên kết kinh tế

a/ Chúng ta nhận thấy rằng, cho đến nay, trong hệ thống dịch thuật và giữa các nhà khoa học hầu như thống nhất coi danh từ quốc tế tương đương của "liên kết" là integration.

Trong hệ thống thuật ngữ kinh tế quốc tế, integration (hay integratio) nguyên làmột từ gốc latinh, có nghĩa là sự góp vào, hợp nhất, hoà hợp, phối hợp, sát nhập nhiều bộphận thành một chỉnh thể (xem 46 + 81…) Chính vì vậy có một thời kỳ, danh từ ấy đượcdịch sang tiếng Việt với nghĩa là "nhất thể hoá", hơn mười năm lại nay nó mới được dịchnghĩa là "liên kết" Mặc dù vậy, cách hiểu về "liên kết kinh tế" (Economic Integration)trong những năm qua vẫn rất khác nhau Một số thì coi liên kết kinh tế là một hình thức

tổ chức sản xuất xã hội giống như tập trung hoá, hiệp tác hoá, liên hiệp hoá sản xuất Sốkhác lại coi nó là hình thức quản lý (xem 34 + 42 + 66 + 70) Đề tài do Phó giáo sưHoàng Kim Giao làm chủ nhiệm thì coi liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánhcác mối quan hệ về hiệp tác, liên doanh, liên hợp hoá (xem 15 + 16) Đề tài do Phó Giáo

sư Nguyễn Đình Phan làm chủ nhiệm thì coi nó là một phạm trù biểu hiện sự phối hợphoạt động giữa các cá nhân, các tổ chức hoặc giữa các quốc gia nhằm thực hiện nhữngmục tiêu nhất định với những hiệu quả kinh tế cao nhất (xem 45+45) Phổ thông hơn(những nhà quản lý thực tiễn, các nhà báo…) mà nhiều người gọi là quan niệm "dân dã "thì họ coi liên kết kinh tế gần như đồng nghĩa với những quan hệ kinh tế theo chiềungang giữa các doanh nghiệp và giữa các cá nhân, chủ thể quản lý… (xem 30 + 31 + 67).Các văn bản của nhà nước thì coi "liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạtđộng, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành đề cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủtrương biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúcđẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất" (54)

Như đã trình bày ở mục trên, chúng ta thấy tiền đề của quá trình liên kết kinh tế là

sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất kinhdoanh Quá trình liên kết kinh tế xuất hiện trong nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thịtrường, khởi thuỷ của nó là các quan hệ kinh tế, quan hệ trao đổi, mua-bán sản phẩm,hàng hoá trên thị trường vận động phát triển qua nhiều nấc thang trình độ cố kết bền vữngcủa các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp Quá trình liên kết kinh tế giữa các doanhnghiệp diễn ra trước hết trong lưu thông, trao đổi sản phẩm Nó được đánh dấu bởi sựhợp tác trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp Sự bán - mua, trao đổi hàng hoá khôngphải diễn ra một cách ngẫu nhiên, nhất thời giữa các doanh nghiệp mà đã trở nên thườngxuyên, liên tục, có hợp đồng kế hoạch từ trước và ổn định bạn hàng trong một thời giantương đối dài Rõ ràng là, vào thời điểm này, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đã

Trang 21

chuyển biến về chất, nâng tầm quan hệ lên một trình độ cao hơn, thường xuyên, ổn định

và cố kết hơn, có sự thoả thuận hợp tác lâu dài và bền vững hơn

Quá trình đó được phát triển lên một giai đoạn cao hơn, tức là sự hợp tác diễn rangay trong quá trình sản xuất Giai đoạn này cũng được phát triển qua nhiều nấc thangcủa nó Bắt đầu chỉ là sự thoả thuận phân công chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm, chitiết, bán thành phẩm hoặc kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư thiết bị giữa cácdoanh nghiệp với nhau, hoặc là cùng nhau góp vốn để thực hiện một dự án, một nhiệm vụchung cho các doanh nghiệp, như đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ, áp dụngtiến bộ khoa học-kỹ thuật, tìm nguồn nguyên liệu mới, khai thác thị trường, nguồn tàinguyên và lao động dồi dào… Quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp còn pháttriển lên đến những giai đoạn cao hơn đó là liên hiệp, hợp nhất các doanh nghiệp lại vớinhau hình thành một doanh nghiệp thống nhất lớn hơn

Nó là một quá trình kinh tế với nhiều hình thức cụ thể luôn luôn vận động và pháttriển, là những hình thức vận động của quan hệ sản xuất xã hội thích ứng với trình độ củalực lượng sản xuất ở từng giai đoạn trong nền kinh tế hàng hoá Nó phản ánh các mốiquan hệ về hợp tác, liên doanh và liên hợp Khi quá trình liên kết đạt tới việc sát nhậphình thành nên một tổ chức, một doanh nghiệp mới lớn hơn, đó là sự biểu hiện của tậptrung sản xuất Như vậy, chúng tôi hiểu, thực chất hay bản chất của liên kết kinh tế chính

là quá trình xã hội hoá về phương diện kinh tế nền sản xuất xã hội Sự phát triển của liênkết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, mức độ tập trung hoá ngàycàng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gần nhau, gắn bó, cố kết vớinhau hơn Động cơ và mục đích chủ yếu của liên kết kinh tế là nhằm đạt tới lợi nhuận tối

đa và ổn định, là nhằm tăng cường sức mạnh trong cạnh tranh trên thị trường ngày càng

mở rộng phạm vi Lợi ích kinh tế là sợi dây, là chất nhựa làm gắn bó các doanh nghiệp,các chủ thể liên kết lại với nhau Cạnh tranh là nhân tố khách quan thúc đẩy các doanhnghiệp "tự nguyện bắt buộc" liên kết lại với nhau trên cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trênthị trường Để đạt tới lợi nhuận tối đa và ổn định giữa các thành viên, hoạt động liên kếtkinh tế lầ nhằm phát triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu chosản xuất, đa dạng hoá mặt hàng, tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn

và đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng phát triển thị trường, tức lànâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càngcao

Liên kết kinh tế là một quá trình vận động phát triển tự nhiên, tuỳ thuộc trình độ,phạm vi của phân công và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, tuỳ thuộc vào quá trìnhvận động phát triển của các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp, vào lợi ích của cácbên tham gia liên kết, vào môi trường cạnh tranh Nó còn tuỳ thuộc vào mối quan hệ nộitại giữa các doanh nghiệp, cũng như giữa các bộ phận, các khâu của quá trình tái sản xuất

xã hội, phụ thuộc vào sự "thử thách" của quá trình quan hệ, vào trình độ công nghệ quản

lý, cũng như năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý Không thể áp đặt về phươngdiện tổ chức từ bên ngoài, hoặc từ bên trên bất kỳ một hình thức tổ chức liên kết kinh tếtheo ý muốn chủ quan

b Xem xét trên những khía cạnh khác nhau ta thấy liên kết kinh tế có những nét đặc trưng sau:

Trang 22

Một là, liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan Nó phản ánh những

mối quan hệ nội tại khách quan xuất phát từ những lợi ích kinh tế khách quan giữa nhữngchủ thể kinh tế Đồng thời nó phản ánh một quá trình vận động phát triển tự nhiên của lựclượng sản xuất xuất phát từ trình độ và phạm vi của sự phân công lao động xã hội,chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh

Hai là, chúng là những quan hệ kinh tế đạt đến trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định,

thường xuyên, lâu dài, thông qua những thoả thuận hợp đồng từ trước giữa các bên thamgia liên kết Khác với cách quan niệm có tính chất "phổ thông", "dân dã", không phải tất

cả các quan hệ kinh tế theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp đều là liên kết kinh tế.Những quan hệ kinh tế nhất thời, những quan hệ buôn bán trao đổi thường nhật, ngẫunhiên bất kỳ giữa các doanh nghiệp… không phải là liên kết kinh tế

Ba là, liên kết kinh tế là một quá trình là xích lại gần nhau và ngày càng cố kết, đi

đến thống nhất trên tinh thần tự nguyện giữa các thành viên liên kết Quá trình này vậnđộng phát triển qua những nấc thang quan hệ từ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liênminh, hợp nhất lại.Và như vậy, quá trình phân công chuyên môn hoá là quá trình tiền đề,điều kiện, là quá trình vừa đối lập biện chứng , vừa bổ sung không thể thiếu được của quátrình liên kết kinh tế Còn hợp tác hoá và liên hợp hoá là những hình thức biểu hiện củanhững nấc thang, những bước phát triển khác nhau của liên kết kinh tế Quá trình liên kếtkinh tế phát triển đến bước hợp nhất, thống nhất lại thành một đơn vị kinh tế lớn hơn, sẽchuyển sang một giai đoạn mới khác hẳn về chất Đó là sự thể hiện của sự tập trung(concentration) sản xuất Giữa các phạm trù trên vừa có sự phân biệt, vừa có sự thốngnhất biện chứng với nhau

Tóm lại: quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp diễn ra theo nấc thang với

- Liên hiệp hoá sản xuất-kinh doanh và liên minh kinh tế

Bốn là, liên kết kinh tế là những hình thức hay những biểu hiện của sự phối hợp

hoạt động giữa các thành viên liên kết thông qua những "giao kèo", "thoả thuận", "hợpđồng", "hiệp định", "điều lệ", thông qua những hình thức, hình thể nào đó, nhằm thựchiện những mục tiêu nhất định với hiệu quả kinh tế cao nhất trong tất cả các lĩnh vựckhác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh, khoa học, công nghệ, bảo

vệ tài nguyên, môi trường…) Tuỳ theo góc độ xem xét, nếu quá trình liên kết được diễnra:

- Giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành kinh tế-kỹ thuật goị là liên kết theongành;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành và các khâu khác nhau của quá trình táisản xuất xã hội gọi là liên kết liên ngành;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (có các hình thức

sở hữu khác nhau) gọi là liên kết giữa các thành phần kinh tế (còn gọi là giữa các khu vựckinh tế);

Trang 23

- Giữa các doanh nghiệp trong một vùng lãnh thổ địa phương nhất định gọi là liênkết theo vùng (địa phương);

- Giữa các doanh nghiệp vượt ra ngoài phạm vi một vùng lãnh thổ địa phương nào

đó gọi là liên kết liên vùng;

- Giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, tức là vượt ra ngoài phạm

vi khuôn khổ một quốc gia nào đó, gọi là liên kết quốc tế

Các hình thức liên kết kinh tế được biểu hiện về phương diện tổ chức hình thể đã

và đang diễn ra trong lịch sử với nhiều tên gọi rất phong phú: Các ten (Cartel), Xanh

-đi - ca (Syndicate), Tờ - rớt (Trust), Công – xooc – xi - om (Consortium), doanh nghiệpchung vốn (Partnership), Công ty, Công ty cổ phần, Tổng công ty (Company,Corporation, General Co.), Công ty trách nhiệm hữu hạn (Co.Ltd), Tập đoàn (Concern,Conglomerate, Group), Xí nghiệp (Công ty) liên doanh (Joint venture), Nhóm sản phẩm,

Vệ tinh, Xí nghiệp liên hợp (Combinate), Liên hiệp các xí nghiệp (Union of enterprises),

Tổ hợp sản xuất - lãnh thổ (APK), Tổ chức hiệp tác (Cooperation), Hiệp hội (Society,Association)…

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUAN HỆ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA SẢN XUẤT VÀ

THƯƠNG MẠI 2.1 Quá trình phát triển các quan hệ liên kết kinh tế ở nước ta:

Trước khi đi vào phân tích tình hình thực tiễn của quá trình liên kết kinh tế giữa sảnxuất và thương mại, cần phải điểm qua quá trình lịch sử vận động và thực trạng quan hệliên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nói chung để hiểu rõhơn về bối cảnh

a/ Mặc dầu nền kinh tế hàng hoá nước ta còn kém phát triển, song khi tiến hànhkháng chiến chống thực dân Pháp thành công, tiếp thu những quan điểm kinh tế và chínhtrị của các nước xã hội chủ nghĩa, mà chủ yếu là Liên Xô trước đây, chúng ta đã tiến hànhmột loạt biện pháp nhằm liên kết các doanh nghiệp với mong muốn làm biến đổi nhanhchóng nền kinh tế quốc dân: Tiến hành cải cách ruộng đất, hợp tác hoá trong nôngnghiệp, cải tạo công thương nghiệp, xây dựng và phát triển mạnh các xí nghiệp công,thương nghiệp, các nông trường, lâm trường quốc doanh, tiến hành quản lý nền kinh tếquốc dân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung

Năm 1956, vừa mới tiến hành xong công cuộc cải cách ruộng đất - thực hiện xongkhẩu hiệu "người cày có ruộng", hai năm sau (1958) chúng ta đã bắt tay vào tiến hànhphong trào hợp tác hoá một cách ồ ạt và cũng chỉ hai năm sau (1960) đã "căn bản hoànthành phong trào hợp tác hoá" trong nông nghiệp với 88,8% số hộ nông dân miền Bắc gianhập hợp tác xã Cũng trong thời gian này chúng ta vừa tiến hành cải tạo công, thươngnghiệp tư bản tư nhân, vừa xây dựng các cơ sở công, thương nghiệp, nông trường quốcdoanh Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất tổ quốc, chúng ta lại tiếnhành rầm rộ phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tưbản tư nhân ở miền Nam

Tư tưởng về sự phân công, hiệp tác giữa các khu vực sản xuất-cơ sở nền tảng củaquan hệ liên kết kinh tế - đã được đặt ra ngay trong Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 5 tháng

7 năm 1961 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, trong đó ghi

Trang 24

rõ yêu cầu của sự phân công hiệp tác của khu vực thủ công nghiệp với công nghiệp quốcdoanh Nghị quyết số 143-CP ngày 3 tháng 8 năm 1970 của Hội đồng Chính phủ, quyđịnh về nguyên tắc phân công, hiệp tác giữa công nghiệp quốc doanh với tiểu côngnghiệp và thủ công nghiệp (xem 44).

Tuy nhiên, do xuất phát từ việc tiếp thu một cách máy móc mô hình hợp tác hoá vàliên hợp hoá ở các nước xã hội chủ nghĩa, cùng với sự choáng ngợp bởi thành tựu trongchiến tranh giải phóng dân tộc do có sự đóng góp phần nào của phong trào hợp tác hoá vàcải tạo công thương nghiệp nói trên mà tháng 8 năm 1974 tại Hội nghị tổng kết công tác

tổ chức sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình đã đề ra yêu cầu phải tạo ra các "công trường thủ công XHCN" Cho nên, trong nông nghiệp đã đẩy mạnh phong trào quy mô hợp tác

xã toàn xã và còn có ý đồ đưa nhanh lên quy mô hợp tác xã liên xã, cùng với tư tưởngxây dựng huyện nông-công nghiệp và pháo đài bảo vệ tổ quốc… Mặc dù, trình độ lựclượng sản xuất-công cụ sản xuất và kỹ thuật canh tác thô sơ, lạc hậu, cán bộ quản lý nănglực kém, trình độ sản xuất hàng hoá còn thấp

Trong công, thương nghiệp thì sự áp dụng quá trình liên hợp hoá một cách máymóc cũng được tiến hành một cách tràn lan Hình thức liên hiệp các xí nghiệp ở nước tabắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1974 (thành lập Liên hiệp các xí nghiệp chè) và cuối năm

1975 thành lập liên hiệp các xí nghiệp dệt Từ chủ trương "đẩy mạnh chuyên môn hoá, tổchức tốt việc hợp tác hoá và liên hợp hoá trong sản xuất, tạo điều kiện tổ chức các nhómsản phẩm, công ty, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp" của Đại hội Đảng Cộngsản Việt Nam lần thứ IV, sau đó là Chỉ thị số 548-TTg ngày 1 tháng 12 năm 1978 của Thủtướng Chính phủ về việc "Tổ chức các Liên hiệp sản xuất" và Nghị định số 302-CP banhành điều lệ về "Tổ chức và hoạt động của Liên hiệp các xí nghiệp", bằng các biện pháp

tổ chức hành chính chúng ta đã tiến hành sát nhập rất nhiều xí nghiệp, công ty, cửa hàng,nông trường Trạm trại vào thành các liên hiệp các xí nghiệp, xí nghiệp liên hợp, nhómsản phẩm, tổng công ty một cách ồ ạt, máy móc mà không tính đến tất yếu kinh tế-kỹthuật, không tuân theo nguyên tắc tự nguyện Theo thống kê chưa đầy đủ của Viện quản

lý kinh tế Trung ương thì đến nay trên cả nước có trên 200 Liên hiệp (Tổng công ty) các

xí nghiệp theo ngành và vùng (địa phương) Trong thời kỳ thực hiện quản lý theo cơ chế

kế hoạch hoá tập trung, một số Liên hiệp và Tổng công ty bước đầu đã có những tác dụngđáng kể trong việc quản lý theo ngành Nhưng phần đông chưa có tác dụng thực sự, bởi

có sự chồng chéo về mặt chức năng đối với cơ quan quản lý Nhà nước cấp Bộ Mặt khác,xét về phương diện hiệu quả sản xuất-kinh doanh, thì trên thực tế, đại bộ phận là kémhiệu quả Hơn nữa, nó còn cản trở tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của các doanh nghiệp cơsở

Quan hệ giữa công nghiệp (kể cả thủ công nghiệp) và thương nghiệp thời kỳ này

có đặc điểm nổi bật là hình thức gia công thương nghiệp mang tính phổ biến Các xínghiệp công nghiệp chủ yếu sản xuất hàng gia công trên cơ sở định mức tiêu hao nguyênvật liệu, tiền công do các cửa hàng, công ty thương nghiệp định ra và giao cho theo từngtháng, từng quý và theo từng lô sản phẩm Thực chất của mối quan hệ này là sự phụ thuộcmột chiều của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vào các doanh nghiệp thương mại.Hình thức này đã tồn tại trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp

Nó được thực hiện theo kế hoạch pháp lệnh và tiến hành tiêu thụ (mà thực chất là giao

Trang 25

nộp sản phẩm) cho các công ty thương mại theo địa chỉ đã được chỉ định từ trước của kếhoạch Nhà nước Trong mối quan hệ đó lợi ích của các doanh nghiệp sản xuất bị xâmphạm đáng kể Dù có hiểu là quan hệ liên kết kinh tế thì chính nó thể hiện tính chất gò

bó, gượng ép Tuy nhiên trong chừng mực nào đó, hình thức gia công thương nghiệp vẫn

có phần biểu hiện quan hệ có tính chất "hai bên" giữa doanh nghiệp sản xuât và doanhnghiệp thương mại Đồng thời nó đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhậpcho người lao động ở các xí nghiệp công nghiệp giải quyết được một phần khó khăn vềnguyên vật liệu Về phía các công ty thương mại thực sự chủ động và ít nhiều tạo đượcnguồn hàng khá ổn định thường xuyên cung cấp cho người tiêu dùng theo kế hoạch trêngiao

Có thể nói, cùng với việc tiếp thu và áp dụng một cách máy móc, duy ý chí quanniệm xây dựng nhanh CNXH và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quá trình liên kếtkinh tế ở nước ta trước những năm 1980 không được tiến hành một cách tự nguyện vàdần dần từ thấp đến cao, thông qua những tất yếu kinh tế, xuất phát từ trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, cùng với sự đáp ứng về trình độ và năng

lực của đội ngũ cán bộ quản lý Nó diễn ra một cách tràn làn, ồ ạt, bất chấp quy luật, bằng biện pháp hành chính tổ chức dội từ trên xuống, chủ yếu thông qua mối quan hệ liên kết dọc, thậm chí đi ngay vào quá trình liên kết ở giai đoạn cao và dẫn đến có nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế, hiệu quả kinh tế vô cung thấp.

b/ Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (khoá IV)cuối năm 1979 đề ra chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng, côngnghiệp địa phương, tăng cường và phát huy quyền tự chủ của các địa phương và cơ sở đãtạo điều kiện cho việc tìm tòi phát hiện nhiều hình thức kinh tế năng động, thích hợp, mởrộng và phát triển các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế cơ sở Mặt khác, đầu nhữngnăm 80 (1981) trên trường quốc tế, chúng ta bắt đầu tham gia vào quá trình liên kết kinh

tế quốc tế XHCN (sau khi đã trở thành thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)),cũng là một nhân tố thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước

ra đời và phát triển với nhiều hình thức phong phú đa dạng

Cũng chính vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 này, nền kinh tế nước tagặp khó khăn nhất trong sản xuất kinh doanh Hầu hết các xí nghiệp đều thiếu vật tưnguyên liệu cho sản xuất, phụ tùng thiết bị thay thế, mức huy động công suất máy mócthiết bị vào sản xuất chỉ khoảng 25-30% công suất thiết kế Để triển khai thực hiện Nghịquyết Trung ương 6 khoá IV, tức chủ trương "bung ra" trong sản xuất kinh doanh, pháttriển mạnh kinh tế gia đình, Nghị quyết 25+26/CP đã đưa ra chủ trương "kế hoạch 3phần" và "4 nguồn khả năng" tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế của các đơn vị sôi độnghẳn lên Các đơn vị được quyền tìm kiếm bạn hàng, trao đổi những vật tư "dư thừa, ứđọng", sản phẩm của kế hoạch "phụ", phần "vượt" kế hoạch, các doanh nghiệp đượcquyền trao đổi để buôn bán công khai, tự nguyện quan hệ với nhau ngày càng phổ biến

Từ chỗ lúc đầu quan hệ mua bán với nhau từng đợt một và số lượng ít ỏi, cá đơn vị tiếnlên quan hệ mua bán trao đổi vật tư sản phẩm với nhau thường xuyên hơn, khăng khíthơn và đi đến ký kết các hợp đồng sản xuất những vật tư cho nhau một cách ổn định,thường xuyên (tất nhiên vẫn chỉ nằm trong khuôn khổ kế hoạch "phụ") Tóm lại là cácđơn vị đã mở rộng và phát triển quan hệ liên kết kinh tế nhằm mục tiêu bảo đảm nguồn

Trang 26

nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Chính

nó đã thực sự tháo gỡ khó khăn cho các xí nghiệp trong giai đoạn này Các văn bản phápquy của Nhà nước đã chính thức thừa nhận "nguồn hàng do liên kết kinh tế tạo ra là mộttrong 4 nguồn khả năng để thực hiện kế hoạch sản xuất-kinh doanh của các đơn vị cơ sở"

Tuy vậy, một phần do chưa định rõ thế nào là liên kết kinh tế, một phần do chưa cócác luật, lệ, các văn bản pháp quy ban hành để quy định phạm vi chó phép "bung ra" củacác hoạt động kinh tế nói chung, quy định tính chất, nội dung của liên kết kinh tế nóiriêng, mà hầu như tất cả các hoạt động kinh tế, quan hệ kinh tế giữa các đơn vị diễn rangoài phạm vi khuôn khổ kế hoạch pháp lệnh của nhà nước đều được coi là liên kết kinh

tế Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã lợi dụng danh nghĩa "liên kết kinh tế" để hoạt độngphi pháp, biến vật tư quý hiếm được phân bổ theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước thànhnhững "vật tư dư thừa' hoặc "sản phẩm phụ" để "liên kết" thu lãi lớn… Thực chất là đãgây khó khăn thêm cho việc thực hiện kế hoạch nhà nước nói chung Vì vậy, để chấnchỉnh một bước các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp quốc doanh, nhằm thực hiệnchủ trương "bung ra đúng hướng", cũng như quy định hướng dẫn nội dung, tính chất vàphạm vi hoạt động liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, Hội đồng Bộ trưởng đã banhành Nghị quyết số 56/HĐBT về cải tiến quản lý kinh tế nhằm sửa đổi Nghị quyết số 25,26/CP và Quyết định số 162/HĐBT quy định về hoạt động liên kết kinh tế vào tháng 11năm 1984 Với các quyết định này, phạm vi của liên kết kinh tế đã bị thu hẹp hơn, do đólàm lành mạnh hơn các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp, dùvẫn còn "kế hoạch hai phần" và "kế hoạch ba phần"

Do vậy, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp từ đó có hai dạng khác nhau: dạng quan hệ thứ nhất thực hiện theo ý đồ của Nhà nước, của cơ quan quản lý cấp trên, tức theo địa chỉ chỉ định của kế hoạch Nhà nước, dạng quan hệ thứ hai hình thành khi các

đơn vị sản xuất kinh doanh tự tìm đến nhau hợp tác làm ăn Dạng quan hệ thứ hai chủ yếu

diễn ra trong phạm vi giải quyết những nhiệm vụ "thứ yếu", nhiệm vụ "phụ thêm", nhiều doanh nghiệp đã dựa vào thế mạnh của mình và tìm thấy thế mạnh của nhau, đã tiến hành thoả thuận hợp tác, liên kết làm ăn với nhau tương đối lâu dài.

Mười tám xí nghiệp của Tổng công ty tạp phẩm (nay là Tổng công ty Nhựa ViệtNam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ) hàng năm có khả năng sản xuất 180 mặt hàng, trong khi

đó chỉ có 80 mặt hàng kế hoạch được Nhà nước đảm bảo vật tư, còn lại 100 mặt hàng tựcân đối qua khâu liên kết và sản xuất phụ Nổi bật nhất là mặt hàng mũ thợ lò là sảnphẩm liên kết có hiệu quả nhất giữa Công ty xuất nhập khẩu than (coallimex) và Tổngcông ty tạp phẩm Còn ở Công ty bột giặt miền Nam (thành phố Hồ Chí Minh), từ 1979

về trước nguồn vật tư cho sản xuất 100% được thực hiện qua kế hoạch Nhà nước Sangnăm 1980 thì kế hoạch Nhà nước chỉ đảm bảo được 90% vật tư, còn 10% được thực hiệnqua khâu liên kết Năm 199, các cơn số tương ứng là70% và 30% Đến năm 1992 thì 30%

là do kế hoạch Nhà nước phân phối, còn 70% thực hiện qua khâu liên kết Nhà máy cao

su Vinh (Nghệ An) nhờ liên kết kinh tế với Nhà máy cao su Sao Vàng mà khép kín dâychuyền sản xuất lốp xe đạp Sự kết hợp chặt chẽ giữa Nhà máy cơ khí Tam Hiệp (Bộ Lâmnghiệp) với các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất khác đã rút ngắn được thời giannghiên cứu để sản xuất phụ tùng xe REO, tiết kiệm cho Nhà nước hàng triệu đồng ngoại

tệ mạnh (mỗi năm khoảng 500.000 USD) Sự liên kết giữa Nhà máy chế tạo máy công cụ

Trang 27

số 1 (nay thuộc Bộ Công nghiệp nặng) với 20 nhà máy và Viện nghiên cứu đã sản xuấtthành công dây chuyền thiết bị toàn bộ cho các trạm thuỷ điện loại 2000-3000 KW vàloại 5-6 MW… sản xuất hoàn chỉnh thiết bị dây chuyền sản xuất líp xe đạp… Trong tổchức "hiệp tác" này, Nhà máy công cụ số 1 đảm nhiệm vai trò trung tâm tổ chức liên kết.Các đơn vị khác được phân công khảo sát, thiết kế, sản xuất những phụ kiện, Nhà máycông cụ số 1 lắp ráp, được thực hiện bằng các hợp đồng sản xuất về quy cách, chủng loại,phẩm chất theo những tiêu chuẩn quy ước với những đơn giá đã được thống nhất giữa cácbên Hợp tác xã mua bán xã Thanh Hoà (Vĩnh Phú) thì đứng làm trung gian liên kết giữacác hộ nông dân trồng sắn trong huyện với Nhà máy rượu Đồng Xuân, thông qua phươngthức ký hợp đồng trao đổi hàng hai chiều với giá cả thoả thuận giữa các bên Hàng đốilưu chủ yếu là sắn và rượu Nhờ đó Nhà máy rượu Đồng Xuân có đủ nguyên liệu, bà connông dân bán được sắn, có rượu uống theo giá thoả đáng… (xem thêm 31+56).

c/ Từ cuối năm 1985 trở đi, sau khi có Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lầnthứ 8 (khoá V), chuyển hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp sang hạch toán kinhdoanh, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quyết định chuyển nền kinh tếnước ta sang sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, cùng với Quyết định 217/HĐBT(1987) giao quyền tự chủ cho giám đốc các doanh nghiệp Nhà nước, làm cho hoạt độngsản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng linh hoạt, năng động, cácc quan hệkinh tế giữa các doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ, sôi động, đan xen phức tạp và ngày càng

gắn bó mật thiết với nhau hơn Các quan hệ kinh tế nhất thời giữa các doanh nghiệp luôn luôn vận động chuyển hoá phát triển sang quan hệ hợp tác, liên kết lâu dài hơn, ngày càng nhiều Các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đi vào thực chất hơn, diễn

ra theo đúng quy luật tất yếu của quá trình phát triển kinh tế nói chung, của các quan hệkinh tế giữa các doanh nghiệp nói riêng và phạm vi của chúng đã bao trùm trên toàn bộcác mặt hoạt động, trên toàn bộ nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Hoạt động liên kết kinh tế trở nên sôi động, phong phú hơn, diễn ra trên tất cả các lĩnhvực, các thành phần kinh tế, cho nên Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khoáVI) đưa vấn đề liên kết trở thành một nội dung quan trọng của Nghị quyết Tinh thần củaNghị quyết đã xác định liên kết kinh tế trở thành một nội dung quan trọng của các hoạtđộng kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế hàng hoá, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và pháttriển Đồng thời Nghị quyết cũng nêu rõ yêu cầu hoạt động liên kết kinh tế phải tuân thủpháp luật, không gây tổn hại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảocác bên cùng có lợi Mặt khác ngày 22 tháng 3 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hànhNghị định số 28/HĐBT về "Điều lệ xí nghiệp liên doanh" (hay "Xí nghiệp cổ phần") vàngày 4 tháng 4 năm 1989 ban hành Quyết định số 38/HĐBT về "Liên kết kinh tế trongsản xuất, lưu thông, dịch vụ" thay cho Quyết định số 163/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm

1984, quy định cụ thể đối với việc thành lập, giải thể hoạt động của các xí nghiệp liêndoanh (xí nghiệp cổ phần, chung vốn), những nội dung chủ yếu của liên kết kinh tế trongđiều kiện chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

Nhìn chung, cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta từ hoạt động, vận hànhtheo cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang vận động theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước, cùng với việc xác lập, mở rộng quyền tự chủ chocác doanh nghiệp Nhà nước, kiện toàn tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước

Trang 28

(theo Quyết định số 388/HĐBT về đăng ký, thành lập, giải thể các doanh nghiệp Nhànước và Chỉ thị số 202/CT của Thủ tướng Chính phủ về cổ phần hoá thí điểm các doanhnghiệp Nhà nước) việc xác lập quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trướcpháp luật (không phân biệt loại hình sở hữu và cấp quản lý), đã làm cho các hoạt độngkinh tế của các doanh nghiệp ngày càng chủ động, tích cực, sống động và "lành mạnh",làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng đi vào thế ổn định và phát triển Quá trình đó cũnglàm cho các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp ngày càng mở rộng Song song với

nó, quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng được gia tăng, phát triển từ thấpđến cao, từ lỏng lẻo đến cố kết khăng khít Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đã vàđang phát triển với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, tồn tại xen kẽ, đan chéo và bên

cạnh nhau Phổ biến nhất hiện nay là hình thức hợp tác đầu tư sản xuất-kinh doanh và liên doanh, trong đó hình thức liên doanh phát triển mạnh Nhiều xí nghiệp, công ty liên

doanh hai bên và nhiều bên đã và đang được thành lập cùng các hình thức hợp tác sảnxuất-kinh doanh như: đầu tư ứng trước, bao tiêu sản phẩm, uỷ thác xuất-nhập khẩu, cungứng vật tư để hợp tác, gia công… diễn ra một cách rầm rộ trong tất cả các ngành, các lĩnhvực của nền kinh tế quốc dân Cùng với chủ trương cổ phần hoá một bộ phận các doanh

nghiệp Nhà nước, một số công ty cổ phần và nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn đang lần lượt ra đời và có chiều hướng gia tăng trong vài năm tới Mặt khác, với chủ trương mở

của mạnh mẽ nền kinh tế nước ta và việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,hai hình thức nói trên (công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn) của liên kết kinh

tế của các doanh nghiệp đã trở thành hình thức liên kết kinh tế quốc tế trên đất nước ta

Hình thức liên hợp hoá giữa các doanh nghiệp đang từng bước chuyển hoá, biến đổi để

phù hợp với điều kiện cơ chế kinh tế mới Các Liên hiệp các xí nghiệp và Xí nghiệp liênhợp trước đây được thành lập ồ ạt bằng các biện pháp "cưỡng chế" hành chính tổ chứcvới quy mô quá lớn không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình

độ tri thức và công nghệ quản lý đều đang được xem xét giải thể chia nhỏ hoặc thay đổihình thức liên hợp Nhiều xí nghiệp liên hợp công-nông nghiệp quá lớn, bao gồm mộtloạt nông trường, trạm, trại quốc doanh, và một loạt nhà máy chế biến có cùng phươngpháp công nghệ, cùng sử dụng một loại nguyên liệu, sản xuất ra cùng một loại sản phẩm,nhưng lại ở cách xa nhau hàng chục km, đều đã, đang và sẽ chia nhỏ thành những xínghiệp liên hợp nông - công nghiệp chỉ còn bao gồm 1 nhà máy chế biến với 1 - 2 nôngtrường quốc doanh sản xuất cây, con nguyên liệu nông sản chế biến, đồng thời tiến hànhhợp tác, liên doanh thêm với một số đơn vị kinh tế tập thể, cá thể và tư nhân lân cận xungquang tạo nên vùng cung cấp nguyên liệu đủ công suất chế biến của nhà máy Nhiều liênhiệp xí nghiệp, tổng công ty ngành, vùng quá lớn, ít có mối liên hệ tất yếu về phươngdiện kinh tế, cũng đã và đang được xem xét giải thể chia nhỏ và thay đổi hình thức tổchức liên kết

Song song với quá trình đó đang manh nha một hình thức liên kết kinh tế vừa lỏnglẻo hơn hình thức "liên hiệp" trước đây, nhưng phạm vi và tính chất tương đối phức tạp

hơn, chúng tôi tạm xác định là "Tập đoàn đầu tư - sản xuất - xuất nhập khẩu" (chẳng hạn như Seaprodex và một vài liên hiệp khác cũng đang có ý định chuyển đổi thành) Tập đoàn này là một tổ chức liên kết phối hợp của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động, như đóng góp hỗ trợ tài chính, đầu tư, nghiên cứu khoa học -công nghệ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu là xuất - nhập khẩu Thế nhưng các doanh nghiệp

Trang 29

thành viên là một pháp nhân và vẫn hoạt động độc lập Nó đang được một số Liên hiệp,Tổng công ty lớn trước đây đề nghị chuyển đổi, hoặc thành lập mới, để thử nghiệm Nétmới của "tập đoàn" kiểu này so với các hình thức "liên hiệp" và "tổng công ty" là cácdoanh nghiệp thành viên cùng nhau sáng lập ra công ty hỗ trợ đầu tư tài chính (financeholding) Thực chất đó là một công ty cổ phần, hay công ty liên doanh góp vốn (tàichính), nhưng hoạt động đầu tư của công ty này được điều khiển bởi Hội đồng quản trị

"Tập đoàn" cho những dự án xét thấy cần thiết ở một vài doanh nghiệp thành viên nào đó.Lãi do hoạt động đầu tư đem lại cũng đều được chia cho các thành viên góp vốn như các

cổ đông của công ty cổ phần Điều chủ yếu của tập đoàn này là giải quyết một cách tốtnhất vấn đề đầu vào và đầu ra cho các doanh nghiệp thành viên trên cơ sở phân chia lợiích thoả đáng, với sự thoả thuận quy ước nhiều bên liên kết Nó có thể bao gồm rất nhiềudoanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu (thành phần kinh tế), cấp quản lý Hiệnnay nó đang là hình thức manh nha, song trong tương lai, khi nền kinh tế chuyển mạnhsang vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, lực lượng sản xuấtphát triển mạnh mẽ hơn nữa, trình độ năng lực của cán bộ và công nghệ quản lý tiến bộcao hơn, cùng với sự hoà nhập ngày càng nhanh nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế thếgiới, hình thức này sẽ trở nên phổ biến

Cùng với việc đổi mới và giải thể các liên hiệp trước đây làm nhiệm vụ quản lýngành, các hiệp hội của những nhà sản xuất và tiêu thụ (kinh doanh) một loại sản phẩm,

ngành hàng cũng đang được thành lập Hiệp hội là một hình thức liên kết kinh tế, là một

tổ chức liêm minh kinh tế giữa những nhà sản xuất (nuôi trồng, chế biến) và kinh doanh (tiêu thụ), nhằm giúp nhau giải quyết những khó khăn về vốn, vật tư, thiết bị, công nghệ,

kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Đặc biệt, nó là một tổ chức liên minh kinh tế nhằm đảm bảo quyền lợi của các nhà sản xuất và kinh doanh trong nước, chống lại sự cạnh tranh

và tiến hành cạnh tranh tập thể với các doanh nghiệp nước ngoài, trên thị trường trong

và ngoài nước

2.2 Thực trạng của việc liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại hiện nay

Khi nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang vận động theo cơ chế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước, sự liên kết giữa sản xuất và thương mại được tạo lập nên bởinhững dạng thức mới

a/ Hình thức liên kết kinh tế ban đầu và phổ biến nhất hiện nay giữa sản xuất và thương mại là hợp đồng hợp tác theo lô hàng, theo sản phẩm, theo thời vụ sản xuất vầ tiêu thụ, liên doanh giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau:

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất với các doanh nghiệp thương mại hoàn

toàn độc lập thông qua nhiều hình thức, tên gọi phong phú như Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu, đầu tư ứng trước vốn, nhận bao tiêu sản phẩm lâu dài, gia công và cả liên doanh đồng thời đan xen với những quan hệ kinh tế nhất thời, xuất phát từ những quan

hệ buôn bán ngẫu nhiên phát triển lên thành dạng hợp tác, liên kết lâu dài trong quan hệlàm ăn giữa hai bên và nhiều bên Sự liên kết này đã góp phần quan trọng và việc tăngcường sản xuất-kinh doanh của từng đơn vị nói riêng, của cả ngành nói chung

- Nhờ có sự hợp tác gắn kết dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư ứng vốnbao tiêu sản phẩm, uỷ thác xuất khẩu than và nhập vật tư, thiết bị, phụ tùng lâu dài trên

Trang 30

cơ sở thoả thuận chi phí, giá cả hợp lý giữa Coalimex (Công ty xuất nhập khẩu than) vớicác doanh nghiệp sản xuất than mà lượng than xuất khẩu vài năm gần đây, năm sau tănghơn năm trước khoảng 20-30% (bình quân khoảng 1,6 triệu tấn/năm); tổng sản lượngthan sản xuất ra trong toàn ngành cũng tăng lên Năm 1989, do mới bắt đầu chuyển đổi

cơ chế, sự gắn bó giữa sản xuất và thương mại (tiêu thụ) bị hụt hẫng, cho nên tổng sảnlượng than sạch toàn ngành bị tụt từ 6,9 triệu tấn (1988) xuống còn 3,8 triệu tấn Năm

1990 trở đi bắt đầu có sự hợp tác chặt chẽ trên cơ sở tự nguyện của đôi bên giữaCoalimex, Công ty cung ứng tiêu thụ than III… với các doanh nghiệp khai thác thantrong việc tiêu thụ than đã góp phần nâng tổng sản lượng than sạch lên tới 4,6 triệu tấn,

1991 lên 5,6 triệu tấn và năm 1992 lên tới gần 6 triệu tấn (xem biểu 1) Tuy nhiên sangnăm 1993 ngành than đã trở lại cơ chế nhiều đầu mối được xuất khẩu trực tiếp, trong đónhiều đơn vị không có than cũng có quota, vì vậy đã cạnh tranh nhau làm hạ giá xuấtkhẩu và tranh bạn hàng của nhau, làm cho tổng số than xuất và tiêu thụ (đặc biệt là xuấtkhẩu) của cả nước kém hẳn đi (trong 9 tháng xuất khẩu chưa đạt 1 triệu tấn/tổng số kếhoạch xuất khẩu cả năm là 2 triệu tấn) Cho nên đã có nhiều ý kiến đề xuất và hội nghịtoàn ngành than vừa qua đã đi đến kết luận trở lại với cơ chế sản xuất và tiêu thụ thannhư năm 1992

Biểu 1: Sản lượng sản xuất và tiêu thụ than sạch và dầu thô

các năm 1986-1992 (triệu tấn) Năm

Chỉ tiêu

1986

1987

1988

1989

1990

Trang 31

mạnh (xem biểu 1), đến ngày 12/11/1993 tổng sản lượng dầu thô khai thác và xuất khẩuđược lên tới 20 triệu tấn.

Từ hai thí dụ trên cho thấy vai trò đầu mối liên kết của các công ty xuất nhập khẩutrong từng ngành, cũng như thấy rõ tác dụng to lớn của việc liên kết gắn bó giữa các công

ty xuất nhập khẩu chuyên ngành với các doanh nghiệp sản xuất đã góp phần nâng cao sựphát triển và hiệu quả kinh tế của từng ngành, đồng thời hạn chế cạnh tranh trong nội bộkhông cần thiết ở thị trường nước ngoài

- Kem giặt Intimex là sản phẩm liên kết giữa nhà máy hoá chất Đức Giang vàTổng công ty xuất - nhập khẩu nội thương và hợp tác xã (Intimex) Sản phẩm liên kết nàybắt đầu được thực hiện từ năm 1989, khi có nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguyênliệu chất tạo bọt (DBSA) để sản xuất kem giặt Kết quả cụ thể được biểu hiện qua biểu 2

Biểu 2: Kết quả sản xuất sản phẩm liên kết kem giặt Intimex 4 năm 1989-1992

Nguồn: Phòng Kinh tế Nhà máy hoá chất Đức Giang

Tổng công ty Intimex là một trong những đơn vị được làm nhiệm vụ xuất-nhậpkhẩu trực tiếp, có ngoại tệk, đã nhập khẩu chất tạo bọt DBSA cung cấp cho Nhà máy hoáchất Đức Giang sản xuất kem giặt Intimex, sau đó tiêu thụ một phần sản phẩm làm ra chonhà máy (khoảng từ 20-50%) Giá trị của chất tạo bọt DBSA chiếm tới 50% giá thành sảnphẩm của kem giặt Như vậy trong sản phẩm liên kết này, mỗi bên góp 50% vốn bằnghiện vật, lợi nhuận được chia đôi Sản phẩm Intimex sản xuất ra ngày càng tăng, uy tínvới khách hàng ngày càng lớn Đây là một hình thức liên doanh ngày càng phát triển và

có hiệu quả giữa một doanh nghiệp sản xuất và một doanh nghiệp thương mại

- Tổng công ty vải sợi may mặc (Textaco) thuộc Bộ Thương mại, là một đơn vị chủyếu làm nhiệm vụ kinh doanh thương mại hàng vải, sợi, may mặc, những năm qua nhờliên kết chặt chẽ với một số nhà máy, công ty, xí nghiệp dệt và may, thông qua các hìnhthức: Hợp tác gia công, đầu tư ứng vốn bao tiêu sản phẩm, đã góp phần không nhỏ trongviệc đảm bảo chân hàng, không ngừng nâng cao kết quả kinh doanh của đơn vị (xem biểu3) Tổng công ty vải sợi may mặc đã tiến hành nhập nguyên liệu (bông, sợi

Biểu 3: Kết quả kinh doanh của Tổng công ty vải sợi may mặc các năm 1992

Doanh thu Tỷ đồng 65,0 109,3 208,5 295,6 Nộp ngân sách Nhà

nước

" 1,6 3,4 9,0

Trang 32

Vốn lưu động tự có " 17,4 17,8 20,3 34,5Nguồn: Phòng kế hoạch Tổng công ty Textaco

tự nhiên và hoá học hoặc vải chất lượng cao) giao cho các nhà máy sợi, dệt tiến hànhkéo sợi, dệt vải, bao tiêu toàn bộn phẩm, bằng việc tiếp tục dùng số vải đó giao cho các xínghiệp may, may quần áo, Tổng công ry cũng bao tiêu toàn bộ số sản phẩm này theo conđường xuất khẩu và tiêu thụ ở trong nước Kết quả là, các Xí nghiệp dệt và may có đượcnguồn vật tư chủ động đảm bảo tốt sản xuất với phương châm phát huy hiệu quả tối đacông suất máy móc, công nhân có việc làm, đời sống đảm bảo, đồng thời lại có ngườiđảm bảo đầu ra chắc chắn, giúp cho nhà máy yên tâm tổ chức quản lý sản xuất có hiệuquả nâng cao năng suất lao động Về phía Textaco luôn đảm bảo được chân hàng và thực

sự đóng được vai trò "Sợi dây liên kết" các nhà sản xuất lại với nhau và với người tiêudùng Điều đặc biệt quan trọng, hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn do làm nhiều khâu "dịchvụ" trong một lô hàng Tuy nhiên, ở phương thức này, một phần do sự tính toán chi phí,giá cả chưa chính xác, một phần do "lợi thế" thuộc về các nhà thương mại (thể chủ động),một phần cũng do tâm lý vốn sẵn quan niệm cho rằng thương nghiệp là thành phần ănbám, bóc lột nhất (người không tạo ra giá trị xã hội), cho nên những doanh nghiệp sảncuất cảm thấy bị thiệt thòi Bắt đầu từ năm 1990 Textaco tiến hành liên kết với một số xínghiệp sợt, dệt, may thông qua hình thức đầu tư ứng vốn cho các nhà máy như: Dệt ViệtThắng 1,5 tỷ đồng, Dệt Phong Phú 1,7 tỷ, dệt Long An 20 nghìn USD và 300 triệu đồngtiền Việt, chăn Bình Lợi 200 nghìn USD, len Vĩnh Thịnh 120 nghìn USD… Đã tiến hànhnhập bông, xơ, sợi tổng hợp cung cấp cho các nhà máy dệt, sợi, sau đó bao tiêu toàn bộsản phẩm như: nhập khẩu sợi petex làm màn tuyn cho nhà máy dệt Đông Phương với 300tấn/năm, dệt được 3,5-4 triệu chiếc màn tuyn/năm Nhập xơ polieste cho nhà máy sợiNha Trang khoảng 300 tấn/năm Ký hợp đồng nhận bao tiêu thường xuyên toàn bộ vảitrắng của nhà máy dệt Việt Thắng, sau đó tiến hành gia công ở các cơ sở may thủ côngnghiệp làm ga trải giường và tiêu thụ thông qua các công ty, cửa hàng trực thuộc Baotiêu toàn bộ số vải xoa của nhà máy dệt Phú Hoà để gia công ở các cơ sở may thủ côngnghiệp may áo Kimônô và bao tiêu toàn bộ số áo này Bao tiêu toàn bộ số vải đỏ của nhàmáy dệt Vĩnh Phú khoảng 1 triệu mét/năm Nhập nguyên liệu, sau đó bao tiêu sản phảmcho nhà máy chăn Bình Lợi, nhà máy len Vĩnh Thịnh khoảng 55 tấn len/năm, cung cấpvải gia công may các loại áo sơmi, jaket, quân phục, quần áo bảo hộ lao động cho các xínghiệp may Việt Tiến, Chiến Thắng, May 10, Đáp Cầu, Thăng Long, Đồng Nai, may xuấtkhẩu Nam Định, Hải Phòng và một loạt các cơ sở may tư nhân, cá thể, sau đó xuấtkhẩu đi các nước và tiêu thụ nội địa Như vậy, qua thí dụ này cho thấy sự liên kết dướinhiều hình thức phong phú của một doanh nghiệp thương mại với các doanh nghiệp sảnxuất có liên quan đã giúp cho nó tồn tại, phát triển và thu được hiệu quả cao trong quátrình chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

- Ở nhà máy sợi thảm đay Thái Bình, những năm trước đổi mới, việc cung ứngnguyên liệu đay cho sản xuất phải mua qua công ty đay Thái Bình, Xí nghiệp cẩm thấynhiều lúc bị thiệt thòi Sang những năm đổi mới xí nghiệp được phép mở rộng quan hệkinh tế với nhiều doanh nghiệp, quan hệ trực tiếp với nông dân, cho nên xí nghiệp đã mởrộng việc đầu tư ứng vốn trước cho nông dân để mở rộng vùng nguyên liệu Bước đầuthấy được lợi hơn ít nhiều về giá cả so với quan hệ thông qua công ty đay Thái Bình Tuy

Trang 33

nhiên, do Nhà máy không đủ cán bộ nhân viên theo sát nông dân hướng dẫn đôn đốcnhằm đảm bảo tiến độ gieo trồng thu hoạch có kết quả và đặc biệt là để họ bán toàn bộsản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với Nhà máy (nghĩa là Nhà máy thu hồi được 100%vốn) Cho nên, có một số hộ nông dân một phần do không nắm vững kỹ thuật, năng suấtthấp kém, hoặc không thu hoạch được, một số do đói kém dùng vốn đó tiêu xài trước,không đầu tư vào sản xuất, nên không có đay thu hoạch, một số do thấy lợi về giá cả trênthị trường so với giá hợp đồng với nhà máy từ trước, nên đã bán ra ngoài Rốt cuộc Nhàmáy không đòi nợ được nông dân khá lớn Cuối cùng tính toán lại, nhà máy thấy cần thiếtphải quan hệ thông qua các công ty, hợp tác xã trong đó các công ty thương mại là chủyếu để tạo nguồn nguyên liệu Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua biểu tình hình cungcấp nguyên liệu cho nhà máy sợi-thảm đay Thái Bình ba năm qua (xem biểu 4) Trong đó

số đơn vị cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, công ty đay Thái Bình thường xuyên cungcấp nguyên liệu cho nhà máy với số lượng nhiều nhất và ngày càng tăng, tiếp đến là công

ty xuất khẩu thị xã Thái Bình và Trung tâm dịch vụ của nhà máy sợi-dệt thảm đay TháiBình trong đó bao gồm cả việc cùng góp vốn với các công ty (khoảng 50%) để công tyđầu tư ứng trước vốn cho nông dân tạo vùng nguyên liệu ổn định, một phần thực hiệnthông qua những hợp đồng cam kết cung cấp và tiêu thụ lâu dài sản phẩm nguyên liệuđay giữa nhà máy và các công ty, một phần thực hiện thông qua mua bán ngẫu nhiên,thường nhật

Qua thí dụ này cho ta thấy trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, các công

ty thương mại thực sự cần thiết trở thành cầu nối gắn bó các doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp với các hộ gia đình nông dân trồng cây nguyên liệu

Biểu 4: tình hình cung cấp nguyên liệu cho nhà máy sợi-thảm đay Thái Bình

Trung tâm dịch vụ T-TCNCông ty đay Hải HưngTextimex

Công ty lương thực Long AnDịch vụ thu mua đay Vĩnh Bảo,HP

Dịch vụ nhà máy dệt thảm đayTB

Trung tâm dịch vụ Hà TâyCửa hàng kinh doanh T.hợp

875180 -100100150-8057100

1516241 -136675531276612495

Trang 34

13.

14

THoá

Hợp tác xã Đồng Đại, Hưng HàHợp tác xã Canh Tân, Hưng HàHợp tác xã Cộng Hoà, HưngHà

Các đơn vị khác

"

"

100376

1001208

1101102

Nguồn: Phòng kế hoạch và vật tư nhà máy sợi thảm đay Thái Bình

- Chương trình đầu tư liên kết của Liên hiệp công ty xuất-nhập khẩu và đầu tư HàNội (Unimex Hà Nội) với trung tâm hỗ trợ phát triển tiến bộ khoa học-kỹ thuật thuộc Bộkhoa học, công nghệ và môi trường vào khu vực nông thôn về nuôi trồng chế biến nấm

mỡ xuất khẩu đã mở ra triển vọng phát triển một ngành nghề mới trong nông thôn, nôngnghiệp có hiệu quả ở nước ta Kết quả bước đầu có thể thấy qua biểu thống kê sau (biểu5)

Biểu 5" Kết quả bước đầu thực hiện chương trình liên kết đầu tư nấm mỡ xuất

khẩu của Unimex Hà Nội các năm 1989-1992

Nguồn: Phòng thị trường Unimex Hà Nội

Nấm mỡ muối (đã chế biến) là một loại thực phẩm được các nước ưa dùng, mộtnguồn có thể xuất khẩu khá Trồng nấm mỡ ở nước ta dã có khoảng 30 năm nay nhưngchưa xuất khẩu được Nguyên nhân là do người sản xuất, nhà khoa học và nhà đầu tư-xuất khẩu chưa kết hợp chặt chẽ được với nhau Cho nên quy mô sản xuất quá nhỏ bé,quy trình công nghệ quá lạc hậu, năng xuất hiệu quả quá thấp (1 tấn rơm chỉ làm ra được

80 kg nấm)

Từ năm 1989-1990 Unimex Hà Nội nhận thấy khả năng tiêu thụ cao trên thị trườngthế giới và tìm thấy bạn hàng có công nghệ tiên tiến, đã hợp tác với công ty liên doanhNhật-Đài Loan (Daimagu-Hooking), đưa công nghệ của Đài Loan vào sản xuất ở nước ta.Trước tiên Unimex Hà Nội bỏ vốn đầu tư (nhập thiết bị công nghệ nuôi trồng chế biến),lấy xí nghiệp thảm Đông Anh làm nơi sản xuất thí nghiệm, sau đó nhân rộng ra các hộnông dân trong vùng và sang khu vực Đan Phượng (Hà Tây) và Vĩnh Phú So với côngnghệ lý thuyết của Đài Loan thì hiệu quả năng suất chưa đạt, nhưng so với việc nuôitrồng trước đây của ta thì khá cao (1 tấn rơm đã thu được 200kg nấm, công nghệ lý thuyết

Trang 35

là 300kg) và đặc biệt là với công nghệ chiế biến mới này đã đảm bảo được tiêu chuẩnchất lượng cho xuất khẩu Nhận rõ triển vọng phát triển một nghề mới, tậnd ụng nguyênliệu chất thải trong nông nghiệp, tạo ra nhiều việc làm cho nông dân, năm 1992 Trungtâm hỗ trợ phát triển tiến bộ khoa học-kỹ thuật thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môitrường liên kết cùng Unimex Hà Nội và các địa phương đã hình thành nên 14 trạm nấmtại 8 tỉnh (Hà Bắc, Vĩnh Phú, Thái Bình, Hà Nội, Hải Hưng, Thanh Hoá, Nam Hà, QuảngNinh, Lâm Đồng) để phát triển chương trình nấm mỡ xuất khẩu trong các hộ nông dân.Các trạm nấm đặt ở các huyện là cán bộ khoa học, kỹ thuật và kinh tế của địa phương cónhiệm vụ sản xuất thử, hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, sơ chế cho các hộ nông dân trongvùng, thu mua và chế biến lại Trung tâm hỗ trợ phát triển khoa học-kỹ thuật hỗ trợ vốn(năm 1992 nhà nước đã đầu tư cho chương trình này 500 triệu đồng) hướng dẫn kỹ thuậtđến các trạm Unimex Hà Nội đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể hình dungchương trình liên kết này qua sơ đồ ở trang sau.

Kết quả bước đầu như Biểu 5 cho ta thấy là chưa nhiều, nhưng triển vọng mở ramột nghề mới cho nông thôn, nông nghiệp mới là hiệu quả cao nhất Theo tính toán củacác đồng chí lãnh đạo Unimex Hà Nội thì giá trị và hiệu quả trong việc trồng nấm mỡxuất khẩu của bà con nông dân theo công nghệ hiện nay là rất cao Rơm là thứ chất thảitrong nông nghiệp nhưng nếu trồng nấm mỡ theo công nghệ hiện nay thu hoạch bìnhquân 200 kg/tấn (cá biệt có gia đình ở Đan Phượng, Hà Tây trồng được 300 kg/tấn) Giá

cả những năm 1989-1990 do nấm Trung Quốc bị tẩy chay (có một số lô hàng bị nhiễmđộc) nên giá lúc bấy giờ ở thị trường thế giới 1900 USD/tấn (lãi rất lớn), sau đó TrungQuốc lấy lại được uy tín và cạnh tranh, nên giá thị trường thế giới giảm xuống 1600USD/tấn (1991-1992), đến nay ổn định ở mức giá 1200-1300 USD/tấn Tính ra lãi vẫn rấtcao, vì đầu tư không lớn và không phức tạp Ngay ở thị trường trong nước, do hệ thốngkhách sạn liên doanh phát triển, nên nhu cầu về nấm mỡ cũng gia tăng Bình quân hiệnnay bà con nông dân bán ở thị trường trong nước là 6000 - 7000 đồng/kg nấm tươi, cábiệt có lúc lên tới 10.000 đồng/kg Nhiều lúc không có nấm để bán cho khách sạn, nhất làkhu vực gần các thành phố lớn

Hình 1: Sơ đồ các mối quan hệ liên kết đầu tư sản xuất nấm mỡ xuất khẩu

Trang 36

Trong phong trào phát triển kinh tế vườn hiện nay ở nông thôn, nông nghiệp ởnhững vùng đã phát triển mạnh, có những hộ kinh doanh làm giầu lên vì kinh tế vườn đềunhờ sự giải quyết đầu ra một cách kịp thời, ổn định, chắc chắn của thương nghiệp (kể cảquốc doanh và tư nhân) đặc biệt đối với những vùng mà các công ty thương mại ký hợpđồng bao tiêu sản phẩm thường xuyên với giá cả, phương thức thanh toán, giao hàngđược thoả thuận trước, kinh tế vườn phát triển rất nhanh, hiệu quả kinh tế cũng rất lớn

Trong khi đó, mặt hàng quả ớt khô của các công ty xuất-nhập khẩu rau quả, hoặcmặt hàng hạt điều của các công ty xuất-nhập khẩu thực phẩm, có thị trường tiêu thụ, đồngthời có nguồn hàng rất nhiều trong dân, nhưng một phần do cơ chế thị trường cạnh tranhlộn xộn, không luật lệ, nhưng đặc biệt là không thực hiện những biện pháp hợp tác, liênkết lâu dài có hợp đồng từ trước về giá cả, phương thức, số lượng, chất lượng với nôngdân, cho nên năm 1992 mặt hàng này không thực hiện được các hợp đồng xuất khẩu vớicác công ty nước ngoài, vì không mua được hàng xuất khẩu, xuất khẩu bị lỗ vốn, bảnthân nông dân bị ế hàng

Trang 37

Tóm lại, qua những thí dụ trên cho thấy thực trạng sản xuất kinh doanh của nôngdân trong nông thôn, nông nghiệp hiện nay đang rất cần dịch vụ đầu ra bất kể thươngnghiệp tư nhân hay thương nghiệp quốc doanh Đối với nông dân dịch vụ đầu ra phảiđược đảm bảo một cách ổn định, thường xuyên, lâu dài, luôn luôn thực hiện những camkết mới mong họ yên tâm mở rộng phát triển nuôi trồng những mặt hàng có ưu thế đốivới họ Những yêu cầu đó đòi hỏi thương mại nói chung, từng doanh nghiệp thương mại

nói riêng phải thực hiện những biện pháp hợp tác, liên kết ổn định lâu dài thông qua các hợp đồng với các hộ nông dân thì mới có thể có được nguồn hàng càng ngày càng tăng

để xuất khẩu và buôn bán nói chung, đồng thời nông dân, nông thôn và nông nghiệp ngàycàng phát triển và giầu mạnh hơn lên Đến đây, chúng ta cũng có thể khẳng định lời nhậnxét của V.I Lênin về vai trò của thương mại đối với sản xuất tiểu nông trong nền kinh tếLiên Xô trước đây rất phù hợp với nền nông nghiệp nước ta hiện nay trong quá trìnhchuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển hiện đại: "thương nghiệp bán buôn có thể[và cần phải] liên kết, về mặt kinh tế, hàng triệu tiểu nông lại với nhau, bằng cách lấy lợiích mà khuyến khích họ, bằng cách làm cho họ có quan hệ gắn bó với nhau, dẫn dắt họlên quan hệ cao hơn, tức là: các hình thức hợp tác và liên hợp chính ngay trong sảnxuất"…(26) "thương nghiệp là mối quan hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng chụctriệu tiểu nông dân với nền đại công nghiệp"(27)

B/ Liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất và thương mại nằm trong chức sản xuất-kinh doanh lớn.

Ở hầu hết các Liên kiệp các xí nghiệp sản xuất được thành lập trong thời kỳ trước

đây theo phạm vi ngành dọc, đều được tổ chức lại theo hướng sát nhập các công ty nhập khẩu sản phẩm chuyên ngành về nằm trong một liên hiệp và một số thì thay đổi hình thức tên gọi Nghĩa là tiến hành liên kết gắn bó các doanh nghiệp sản xuất với các doanh nghiệp thương mại vào ngay trong một tổ chức kinh tế lớn hơn Thông qua việc

xuất-nắm lấy công tác xuất-nhập khẩu, công tác tiêu thụ chung mà cơ quan liên hiệp, tổngcông ty tiến hành điều phối các hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanhtrong liên hiệp Tổng công ty, sự điều hành quản lý chủ yếu thông qua biện pháp kinh tế.Những "Liên hiệp" nào chưa thực hiện được các khâu đổi mới bước đầu là gắn bó sảnxuất với thương mại và cơ quan liên hiệp chỉ nắm chức năng hoạt động thương mạichung, thì đều hoạt động kém hiệu quả và cơ quan quản lý cấp "liên hiệp" không hoạtđộng được, hoặc trở thành vật cản lớn đối với các hoạt động sản xuất-kinh doanh của cácdoanh nghiệp trực thuộc

- Liên hiệp các xí nghiệp dệt Việt Nam là một trong những Liên hiệp được thànhlập sớm nhất (1975), bao gồm các nhà máy, xí nghiệp cơ khí, sợi, dệt nhuộm, đến năm

1989 sát nhập công ty xuấtnhập khẩu dệt và đổi tên thành "Liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu dệt", cuối năm 1992 thì đổi tên thành "Tổng công ty dệt" theo hướng thốngnhất các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong một tổ chức, đồng thời đổi mớiphương thức tổ chức và quản lý liên hiệp theo mô hình "liên kết lỏng" Nghĩa là tăngcường các quyền lực tự chủ cho các doanh nghiệp thành viên, các doanh nghiệp quan hệliên kết với nhau trên cơ sở những lợi ích kinh tế, cơ quan "tổng công ty" với nền tảng làTextimex và một số phòng ban chức năng đã tinh giảm phần lớn chuyển dần sang làmđầu mối liên kết toàn ngành, đầu mối quan hệ kinh tế với nước ngoài trong việc tìm thị

Trang 38

-trường, bạn hàng, tham mưu và tìm đối tác liên doanh Nhờ những biện pháp nói trên đãgiúp cho “Tổng công ty trở thành một trong những điển hình tiên tiến trong quá trìnhchuyển sang cơ chế thị trường của các doanh nghiệp nhà nước Nó cũng giúp cho toànTổng công ty khắc phục được những khó khăn tưởng chừng như không thể khắc phụcnổi, khi mà thị trường Liên xô và Đông âu cũ bị phá vỡ, đang từng bước đứng vững trong

cơ chế thị trường, ngàng càng thâm nhập sâu vào thị trường khu vực II Năm 1988 toànliên hiệp nộp ngân sách cho nhà nước 48 tỷ đồng Năm 1989 toàn liên hiệp chỉ nộp ngânsách 31 tỷ 414 triệu đồng, nhưng tự bù lỗ được 214 tỷ đồng Năm 1990 nộ ngân sách 65

tỷ 380 triệu đồng Năm 1991 giá trị tổng sản lượng 639,7 tỷ đồng, nộp ngân sách 89 tỷ

790 triệu đồng (chiếm 70% tổng nộp ngân sách nhà nước toàn ngành công nghiệp nhẹ).Năm 1992, thực hiện được 676,9 tỷ đồng giá trị tổng sản lượng, kim ngạch xuất khẩu đạtxấp xỉ 42,8 triệu USD, nộp ngân sách 189 tỷ 308 triệu đồng Một số nhà máy, xí nghiệp,công ty trực thuộc Tổng công ty đựoc đánh giá là doanh nghiệp nhà nước năng động điểnhình trong cơ chế thị trường như dệt Thành công, Việt thắng, Nam định, Dệt 8-3, dệt kimĐông xuân, Sợi dệt kim Hà nội Tuy nhiên, vấn đề cải tổ Liên hiệp (nay là Tổng côngty) vẫn đang trong quá trình tìm kiếm phương thức thích hợp và chờ nhà nước (xem thêm51)

- Liên hiệp các xí nghiệp May với gần 20 xí nghiệp trực thuộc, những năm gầnđây, khi chuyển sang cơ chế thị trường, mối quan hệ giữa các đơn vị trong Liên hiệp cũng

có sự biến đổi Cơ quan liên hiệp, một mặt vẫn phải đảm nhiệm chức năng quản lý ngành,những phương thức quản lý không phải hoàn toàn như trước, mà đã thay đổi nhiều Trên

cơ sở phát huy quyền tự chủ của các doanh nghiệp trực thuộc mà mối quan hệ quản lý và

bị quản lý chủ yếu giữa cơ quan liên hiệp với các doanh nghiệp thành viên được thay

bằng các quan hệ kinh tế bình đẳng Cơ quan Liên hiệp trở thành như một công ty thương mại trực tiếp làm chức năng môi giới chào hàng, ký kết hợp đồng bao tiêu sản

phẩm cho các xí nghiệp, hợ đồng gia công, thâm nhập thị trường thế giới để mở rộng thịtrường cho các xí nghiệp, nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu và làm đầu mối tìm đối tácliên doanh hợp tác với nước ngoài cho các doanh nghiệp Nghĩa là giữa cơ quan liên hiệp

và các xí nghiệp thành viên được biến đổi theo kiểu quan hệ liên kết giữa một Công ty thương mại làm đầu mối trung gian môi giới bao tiêu sản phẩm với các xí nghiệp sản

xuất trong ngành, liên hiệp đổi tên thành “Liên hiệp sản xuất- Xuất nhập khẩu may”(Confectimex) Nhờ sự biến đổi trong quan hệ trong quan hệ kinh tế theo kiểu “liên kếtmới” trong toàn liên hiệp nói trên, cùng với những biện pháp cải tiến quản lý kinh tếkhác, như phát huy tính độc lập tự chủ của các xí nghiệp, đổi mới thiết bị và công nghệ,tích cực tìm kiếm và thâm nhập thị trường, mà những năm gần đây “liên hiệp” đã nângmức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày một tăng, đời sống của cán bộ công nhân ngàymột khấm khá Năm 1986 toàn liên hiệp chỉ thực hiện được tổng giá trị sản lượng xấp xỉ41,8 tỷ đồng, đến năm 1990 đã thực hiện được 597,6 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước5,7 tỷ đồng, nộp hàng nhập mậu dịch (có cả thuế) hơn 16 tỷ đồng, tích luỹ phát sinh gần 8

tỷ đồng, xuất khẩu được 88,9 triệu rúp và Đô la (có 3,5 triệu USD) Tháng 3/1991 trở đibắt đầu không còn “ân huệ” là được thực hiện xuất khẩu theo Nghị định thu giữa nước tavới các nước Đông âu và Liên xô ( vốn dĩ chiếm tới 80% hàng xuất khẩu của ngànhmay) Thế nhưng, do những biện pháp đổi mới nói trên và những cố gắng của toàn Liênhiệp, giá trị doanh thu tiêu thụ năm 1991 vẫn đạt tới gần 120 tỷ đồng trong đó doanh thu

Trang 39

xuất khẩu đạt 19,4 triệu rúp chuyển nhượng và 11,6 triệu USD (bằng 3,5 lần năm 1990),lợi nhuận đạt 37 tỷ đồng, nộp ngân sách đạt 14,8 tỷ đồng Năm 1992 kim ngạch xuấtkhẩulà 20 triệu USD.

- Ngành giấy là một ngành, trong thời kỳ tập trung-bao cấp, việc sản xuất và đặcbiệt là tiêu thụ hoàn toàn trên kế hoạch nhà nước phân bổ Trong quá trình đổi mới chungcủa đất nước, toàn ngành cũng như Liên hiệp giấy (với hơn 20 Xí nghiệp trực thuộc)cũng buộc phải có những biện pháp đổi mới, trong đó nổi bật là biện pháp tăng cườngquyền độc lập tự chủ cho các xí nghiệp trực thuộc, đẩy mạnh biện pháp tiếp thị bằng việc

mở các hàng giới thiệu sản phẩm Nhở đó sản xuất của ngành mấy năm qua phát triển khá(xem biểu6)

Biểu 6: Sự tăng trưởng sản xuất của ngành giấy các năm 1987-1992

(Đơn vị tính: Tấn)

1978 1988 1989 1990 1991 1992 Tổng sản phẩm toàn

30.000

115.823

84.82331.000

Nguồn: Phòng Kế hoạch và đầu tư phát triển sản xuât Tổng công ty giấy

Cũng giống như nhiều doanh nghiệp khác, trong 2 năm 1988-1989 là những năm chuyển đổi cơ chế bị hụt hẫng, cho nên tổng sản phẩm đều giảm sút, từ 1990 trở đi, đặcbiệt trong các năm 1991-1992 do có những biện pháp tích cực thâm nhập thị trường gắnsản xuất với tiêu thụ, nên tổng sản lượng tăng lên khá Đến nay, sản phẩm giấy đang vấpphải sự cạnh tranh rất lớn của hàng ngoại nhập lậu, liên hiệp giấy đang xúc tiến nhiềubiện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, trong đó nổi bật là biện pháp cải tiển tổ chức theohướng liên kết chặt chẽ hơn nữa công tác sản xuất với tiêu thụ, tăng cường công tác tiếpcận thị trường Tháng 3 năm 1993 Liên hiệp giấy đổi tên thành Tổng công ty giấy và đổimới mạnh mẽ hệ thống tổ chức của đơn vị Chuyển các cửa hàng giới thiệu sản phẩmthành các công ty dịch vụ và tiêu thụ giấy hạch toán độc lập, liên kết với các nhà máythông qua các mối quan hệ kinh tế bình đẳng, cùng có lợi Đổi mới, tinh giảm một sốPhòng, Ban, thành lập thêm một số phòng, ban mới như Phòng quan hệ hợp tác quốc tế,

Trang 40

phòng xuất nhập khẩu, ban thị trường Cơ quan tổng công ty tập trung chủ yếu vào côngtác định phương hướng và đầu tư phát triển, giải quyết đầu ra và đầu vào cho toàn đơn vị,nhằm phấn đấu để năm 1993 đạt mức kế hoạch sản xuất 91.000 tấn sản phẩm giấy và cácnăm sau tăng mạnh Đồng thời tháng 10/1992 Hiệp hội các nhà sản xuất và tiêu thụ giấyViệt nam với 86 thành viên được thành lập, do ông Lê Chi ái, Tổng Giám đốc tổng công

ty giấy làm chủ tịch, nhằm tăng cường sự hợp tác chặt chẽ giữa những nhà sản xuất vàtiêu thụ giấy toàn ngành, không phân biệt cấp quản lý, thành phần kinh tế, để chống lại sựcạnh tranh của hàng ngoại, đẩy mạnh phát triển ngành

- Cuối năm 1979 đầu năm 1980 Liên hiệp xi măng Việt nam ra đời với nhiệm vụphối hợp các nhà máy bảo đảm nhu cầu xi măng cho cả nước Đến năm 1982-83 khinhững mẻ xi măng đầu tiên của nhà máy Xi măng Bỉm sơn và Hoàng thạch ra lò thì Liênhiệp Xi măng bao gồm 4 nhà máy Xi măng có công suất lớn (Tổng công suất hơn 3 triệutấn/năm) Tuy nhiên, hoạt động trong cơ chế bao cấp và đặc biệt khi Liên xô và Đông âutan rã, hợp đồng theo nghị định cung cấp phụ tùng bị cắt thì gặp nhiều khó khăn trong sảnxuất và tiêu thụ Trước những năm 90 sản phẩm xi măng Liên hiệp chỉ đạt dưới 70%công suất thiết kế (xem biểu 7) Bằng nhiều biệp pháp đổi mới hệ thống quản lý và tổchức, liên hệ với các ngành, đề xuất nhà nước cải tiến chế độ quản lý Trước hết liênhiệp liên hệ với ngành cơ khí và công nghiệp quốc phòng sản xuất phụ tùng thay thế ởtrong nước

Biểu 7: Sự tăng trưởng sản xuất và kinh doanh của Liên hiệp Xi măng Việt nam

của các năm 1986-1992

Chỉ tiêu Đơn

vịtính

9.284

1.735

151.732

38.881

1.930

470.285

64.242

2.408

845.102

186.206

2.895

2.420.454

210.203

3.522

3.765.720

525.739

Nguồn: Phòng kế hoạch và Phòng Kế toán Liên hiệp Xi măng Việt nam

Ngày đăng: 08/03/2022, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w