Trong đó, là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đồng thời cũng là hạt nhân của pháp biện chứng duy vật, “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” đề c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA LUẬT KINH TẾ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Triết học Mác - Lênin
ĐỀ T ÀI: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận “Quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập” để lý giải một vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Phương Anh
MSSV : 461902
Hà Nội, 2021
1
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
II VẬN DỤNG
B NỘI DUNG
C KẾT LUẬN
DANH MỤC THAM KHẢO
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
Nhà triết học lỗi lạc Socrates từng nói rằng: "Trí tuệ bắt nguồn từ những điều
kì diệu" Câu nói này thực sự rất hợp lí, đặc biệt là với những vấn đề đời sống thực tiễn được nhìn nhận trên quan điểm của Triết học Triết học - lĩnh vực được tôn vinh là “khoa học của mọi khoa học”, đã nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối toàn bộ những sự vận động thuộc chỉnh thể đó và luôn cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn, đa chiều, sâu sắc nhất về mọi sự vật, hiện tượng Trong đó, là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật đồng thời cũng là hạt nhân của pháp biện chứng duy vật, “Quy luật
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” đề cập tới vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, đó chính là vấn đề nguyên nhân, động lực của sự vận động và phát triển Với vai trò to lớn như vậy,
đặt trong hệ tham chiếu mang tên Triết học, bằng việc vận dụng nội dung và
ý nghĩa phương pháp luận của “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”, chúng ta sẽ đánh giá, phân tích để thấy được một cách toàn diện về vấn đề này
Trang 4B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP.
1 Quan niệm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học.
1.1 Quan niệm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học trước Mác.
Từ buổi bình minh của lịch sử tư tưởng loài người, khi tìm cách trả lời những câu hỏi: Thế giới được hình thành như thế nào? Con người có nhận thức được thế giới hay không? các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra những phỏng đoán xung quanh các khía cạnh của vấn đề mâu thuẫn
Các nhà triết học Milê đã đưa ra tư tưởng về sự thống nhất giữa các mặt đối lập qua sự xuất hiện và diệt vong trong tự nhiên Talét cho rằng sống và chết, xuất hiện
và diệt vong hoàn toàn như nhau; sự thống nhất của các mặt đối lập trên là quá trình biến đổi phổ biến Nối tiếp phỏng đoán đó, học thuyết của Anaximanđrơ ra đời bàn về quan hệ giữa khởi nguyên apeirôn và các trạng thái khác nhau của vật chất là quan hệ giữa các mặt đối lập Anaximen ở thời kì sau lại cho rằng sự xuất hiện của tất cả vật thể và sự quay lại khởi nguyên đầu tiên thống nhất của chúng là
do quá trình cô đặc và làm loãng Tuy còn mang tính sơ khai, thô thiển và trực
quan nhưng những phỏng đoán trên đã để lại đóng góp không nhỏ cho sự pháp triển
tư duy biện chứng Hy Lạp cổ đại
Được Lênin đánh giá là “một trong những người sáng lập ra phép biện chứng”, nhà triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclít cho rằng: “Cùng một cái ở trong chúng ta
Trang 5-sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già Vì rằng cái này mà biến đổi là cái kia và ngược lại, cái kia mà biến đổi là cái này; cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi, cái ướt khô đi, cái khô ướt lại; bệnh tật làm cho sức khoẻ quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn"1 Thừa nhận sự thống nhất của các mặt đối lập, ông coi đó không phải là trùng hợp tuyệt đối mà là sự nương tựa lẫn nhau, nếu thiếu nó thì các mặt đối lập không còn là các mặt đối lập Tư tưởng biện chứng về mặt đối lập đạt đỉnh cao trong sự phát triển phép biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là Cantơ và Hêghen Trong học thuyết về antinomia của Cantơ, các mặt đối lập là những đối lập về chất, ông đã từ bỏ việc thừa nhận các mâu thuẫn khách quan, coi tồn tại của mâu thuẫn chính là bằng chứng cho sự bất lực của con người trong nhận thức thế giới Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng Cantơ đã đem lại đóng góp lớn cho sự phát triển của phép biện chứng, chỉ ra được tính khách quan của các mâu thuẫn tồn tại trong nhận thức, tấn công vào hạn chế của phương pháp siêu hình, làm sống dậy tinh thần biện chứng Kế thừa tinh thần
ấy, Hêghen là người sớm nhận ra vai trò của mâu thuẫn trong quá trình vận động phát triển Ông đã đi đến kết luận về tính phổ biến của mâu thuẫn, coi mâu thuẫn như nguồn gốc, động lực cho sự vận động phát triển và điều đó cũng khiến cho Hêghen trở thành người đầu tiên trong lịch sử triết học đã nghiên cứu, trình bày phép biện chứng một cách tự giác, có ý thức và đầy đủ
1 Lịch sử triết học, “Triết học của xã hội nô lệ”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, tr.135.
Trang 61.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Đối với Mác và Ăngghen, học thuyết Hêghen về vấn đề mâu thuẫn có giá trị rất lớn, nhưng dưới hình thức duy tâm và thần bí hoá, nó không thể là công cụ thích hợp cho việc nhận thức thế giới một cách đúng đắn; nó chứa đựng mâu thuẫn không có lối thoát nên không thể chỉ ra cách giải quyết cho các mâu thuẫn của hiện thực Bởi vậy, Mác, Ăngghen làm nhiệm vụ xoá tan đám sương mù duy tâm ấy, kéo nó ra khỏi thế giới của những ảo tưởng, đi vào thế giới hiện thực của con người
1.2.1 Khái niệm mặt đối lập và mâu thuẫn biện chứng.
Mặt đối lập là những mặt, những yếu tố, những thuộc tính, những bộ phận có đặc điểm, hoặc có khuynh hướng vận động, biến đổi trái ngược nhau tồn tại trong cùng một sự vật hay hệ thống sự vật, tác động qua lại với nhau giúp cho sự vật vận động, biến đổi
Ví dụ: Điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử; tốt và xấu, giàu và nghèo trong xã hội; sai lầm và đúng đắn trong nhận thức;
Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn bao hàm sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại với nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau nhưng có khuynh hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau Mâu thuẫn biện chứng được tạo nên từ các mặt đối lập, các bộ phận,
Trang 7các thuộc tính, có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưng cùng tồn tại khách quan trong mỗi sự vật, hiện tượng Ví dụ như: Lề trái và lề phải đường không được gọi là mâu thuẫn biện chứng
1.2.2 Đặc điểm, tính chất của mâu thuẫn biện chứng.
Mâu thuẫn biện chứng phải bao gồm ba yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là
sự thống nhất của các mặt đối lập biện chứng, đấu tranh của các mặt đối lập biện chứng và sự chuyển hoá của các mặt đối lập biện chứng thể hiện quá trình giải quyết mâu thuẫn Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau tạo nên trạng thái ổn định tương đối của sự vật hiện tượng Bởi vậy, không phải hai mặt đối lập nào cũng trở thành mâu thuẫn biện chứng Mặt đối lập phải đáp ứng được bốn đặc trưng của mặt đối lập biện chứng, dẫn đến phải
đủ các yếu tố của mâu thuẫn biện chứng mới tạo thành mâu thuẫn biện chứng Ví dụ: Bên trái và bên phải của con đường không phải là mâu thuẫn biện chứng, màu trắng của viên phấn và màu đen của cái bảng mâu thuẫn biện chứng
Dân gian có câu: “Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo” Tuy nhiên, đó là câu nói cảm tính, thiên lệch bởi những mối liên hệ tồn tại trong vũ trụ là khách quan, do vậy con người cần có tính khách quan khi xem xét đánh giá về sự vật Mâu thuẫn biện chứng cũng thế, nó mang tính khách quan chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Ví dụ như quá trình đồng hoá,
dị hoá trong cơ thể Bên cạnh đó, mâu thuẫn biện chứng tồn tại rất phổ biến trong
Trang 8mọi lĩnh vực, ví dụ như mâu thuẫn giữa lực đẩy và lực hút giữa các nguyên tử trong phân tử; đồng thời cũng đa dạng, phong phú, mỗi loại có những tính chất, vai trò
Trang 9khác nhau Sự đa dạng đó phụ thuộc vào đặc điểm các mặt đối lập, điều kiện triển khai sự tác động qua lại các mặt đối lập, trình độ tổ chức của sự vật, hiện tượng
1.2.3 Phân loại các mâu thuẫn.
Căn cứ vào sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng: Có mâu thuẫn cơ bản
và mâu thuẫn không cơ bản Mâu thuẫn cơ bản tác động toàn bộ, quy định bản chất, sự phát triển của sự vật, hiện tượng từ khi tồn tại đến lúc tiêu vong Ví dụ: Mâu thuẫn giữa các nước XHCN và các nước theo CNTB Mâu thuẫn không cơ bản tác động một hoặc một số mặt của sự vật, hiện tượng, chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản Ví dụ: Mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong mỗi giai đoạn: Có mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu Mâu thuẫn chủ yếu luôn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển, có tác dụng quy định các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn đó và khi giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu sẽ tạo điều kiện để giải quyết các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn Ví dụ: Thời kỳ nước ta trước Cách mạng Tháng Tám, mâu thuẫn chủ yếu
là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với các nước đế quốc xâm lược Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nhưng không đóng vai trò quyết định trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng mà
bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Ví dụ: Mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với sự vật, hiện tượng: Có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là sự tác động giữa các
Trang 10mặt và khuynh hướng đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng Ví dụ: Mâu thuẫn nội bộ nền kinh tế nước ta Mâu thuẫn bên ngoài là những mối liên hệ, quan hệ với các đối tượng khác ở môi trường tồn tại của nó, chỉ có tác dụng khi thông qua mâu thuẫn bên trong Ví dụ: Mâu thuẫn kinh tế VN với các nước ASEAN
Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bản đối lập nhau trong mối quan hệ giữa các giai cấp của một giai đoạn lịch sử nhất định: Có mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, lực lượng, có lợi ích cơ bản đối lập nhau, không thể điều hoà Ví dụ: Mâu thuẫn giữa công nhân và giai cấp tư sản Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa lực lượng, khuynh hướng xã hội thống nhất về lợi ích cơ bản, đối lập
về lợi ích không cơ bản, cục bộ Ví dụ: Mâu thuẫn nội bộ nhân dân lao động
1.2.4 Quá trình vận động của mâu thuẫn.
Có hai tác động dẫn đến sự vận động của mâu thuẫn, đó là tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng ( tác nhân bên ngoài ) và tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập của cùng một sự vật, hiện tượng ( tác nhân bên trong ) Tuy nhiên, chỉ có tác nhân bên trong mới có thể thúc đẩy được sự phát triển của sự vật hiện tượng
2 Sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập Nội dung của quy luật.
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa, ràng buộc lẫn nhau, làm tiền
đề tồn tại cho nhau; còn đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại, xâm nhập vào nhau theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Trong quá
Trang 11trình vận động phát triển của sự vật, thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không thể tách rời Có thể thấy, sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, còn
sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối
Sự chuyển hoá của các mặt đối lập là những mâu thuẫn của sự vật đã được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời với những mặt đối lập và mâu thuẫn biện chứng mới phong phú Sự chuyển hoá của các mặt đối lập có thể có nhiều hình thức: Mặt đối lập này bài trừ, phủ định mặt đối lập kia chẳng hạn như đấu tranh giai cấp dẫn đến giai cấp này phủ định giai cấp kia; hoặc các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau, ví dụ khi cắt đội một thanh nam châm thì hình thành một nam châm mới với mặt đối lập mới; hoặc cả hai mặt đối lập cùng biến đổi Ví dụ, trong cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản dẫn đến cả giai cấp tư sản và cả giai cấp công nhân đều biến đổi
Từ những phân tích đó, ta có thể rút ra nội dung của “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”: Trong cùng một sự vật, hiện tượng, tồn tại những mặt vận động, biến đổi trái ngược nhau được gọi là những mặt đối lập Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập, đấu tranh của các mặt đối lập làm cho các mặt
đó biến đổi và mâu thuẫn cũng phát triển Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau giữa hai mặt đối lập biện chứng tuy nhiên khác nhau đó ngày càng lớn, đến khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt, nếu đủ điều kiện sẽ dẫn đến sự chuyển hoá của các mặt đối lập, mâu thuẫn được giải quyết làm cho sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Bởi thế, Lênin khẳng định, sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các
Trang 12mặt đối lập Vì thế, mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển
3 Ý nghĩa phương pháp luận.
Thứ nhất, thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn giữa sự vật và hiện tượng,
từ đó giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo quy luật , điều kiện khách quan Muốn phát hiện mâu thuẫn cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập, từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp cho hoạt động nhận thức, thực tiễn
Thứ hai, cần phải phân tích mâu thuẫn để tìm ra phương pháp giải quyết Để
phân tích mâu thuẫn, ta cần xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng loại mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí, mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều kiện chuyển hoá giữa chúng
Thứ ba, nắm vững các nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các
mặt đối lập, không điều hoà mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu thuẫn còn phụ thuộc điều kiện và thời điểm
II.
Trang 14DANH MỤC THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc Đại
học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb Chính trị quốc gia sự thật, 2021.
2 Nguyễn Thanh Bình, Một số vấn đề về lý luận mâu thuẫn và nguyên tắc mâu
thuẫn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 luận án tiến sĩ
3 Nguyễn Văn Hiền, Võ Thị Nhung, “Minh họa “phép biện chứng duy vật” qua một số câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao Việt Nam”, Bình Định, 2021
4 Hội đồng xuất bản C Mác và Ph Ăngghen tuyển tập, C Mác và Ph
Ăngghen tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1980.
5 Hội đồng xuất bản C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, C Mác và Ph
Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994,
Với trình độ kiến thức còn hạn chế, bài làm của em chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Em hy vọng thầy, cô có thể nhận xét, đóng góp ý kiến để bài làm của em hoàn thiện hơn.
Trang 15Em xin chân thành cảm ơn!