1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ phản đối ý kiến trên

12 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 299,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM Môn: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM ---*---Chủ đề 01: Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân qu

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

Môn: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

-* -Chủ đề 01:

Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ/phản đối ý kiến

trên.

Lớp niên chế:

Lớp tín chỉ:

Nhóm: 02 (Quan điểm phản đối)

Hà Nội - 2021

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM

BÀI TẬP NHÓM

Ngày: Địa điểm:

Nhóm: Lớp: Khóa: Khoa:

Tổng số sinh viên của nhóm:

+ Có mặt: + Vắng mặt: Nội dung: xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm Tên bài tập: Môn học: Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số 2 Kết quả như sau: STT Mã SV Họ và tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của GV A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV ký tên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 - Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày tháng năm 2021 + Giáo viên chấm thứ nhất: TRƯỞNG NHÓM + Giáo viên chấm thứ hai:

- Kết quả điếm thuyết trình

- Giáo viên cho thuyết trình:

- Điểm kết luận cuối cùng:

- Giáo viên đánh giá cuối cùng:

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Ở một góc độ giản đơn, đây chính là các quyền con người

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, dù ở Hiến pháp hay bất cứ văn bản pháp luật nào cũng chưa hề đề cập đến khái niệm quyền con người Thế nhưng đây là đối tượng quyền được quan tâm và bảo vệ xuyên suốt, mọi hành lang pháp lý đã xây dựng đều nhằm thúc đẩy quyền con người, tạo điều kiện để phát huy tối đa khả năng của con người trong đóng góp vào xây dựng xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước

Hiện nay, công tác thúc đẩy và bảo vệ quyền con người đang được các quốc gia thực hiện theo hai hướng: một là xây dựng các hành lang pháp lý hiệu quả, lồng ghép vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; và hai là thiết lập hẳn một cơ quan chuyên trách riêng biệt, chuyên phụ trách công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người (cơ quan này thường được gọi là Cơ quan Nhân quyền quốc gia)

Xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia đã được khá nhiều quốc gia thực hiện,

và cũng được đánh giá là xu thế tất yếu của thế giới Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh tình hình Việt Nam hiện nay thì việc cho ra đời một cơ quan nhân quyền quốc gia

là chưa thực sự phù hợp Bài luận sau đây của nhóm sẽ phân tích làm rõ quan điểm này

Trang 4

NỘI DUNG

1 Lý thuyết chung về quyền con người và cơ quan nhân quyền quốc gia.

1.1 Lý thuyết chung về quyền con người

1.1.1 Khái niệm và phân loại quyền con người

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy liên hợp quốc về quyền con người thì

“Quyền con người” là “những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”1 Còn theo quan điểm của PGS TS Vũ Công Giao, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế2 Như vậy, quyền con người dưới góc độ khoa học pháp lý chính là những quyền, những khả năng tự do thực hiện các hành động bất

kỳ nhằm tồn tại hay thỏamãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản nhất của con người, những chủ thể khác trong xã hội có nghĩa vụ phải tôn trọng và không được xâm phạm

Năm 1966, Liên hợp quốc đã thông qua Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự

và Chính trị; và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa Nhiều nhà khoa học đã chiếu theo đó để phân quyền con người thành hai nhóm

chính: các quyền dân sự và chính trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

Ngoài ra, để phục vụ cho việc nghiên cứu chuyên sâu hơn, cũng có thể chia quyền

con người thành năm nhóm nhỏ hơn: quyền chính trị, quyền dân sự, quyền kinh tế,

quyền xã hội, và quyền văn hóa.

Các quyền chính trị có thể kể đến như quyền lập đảng phái, quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước…

Các quyền dân sự có thể hiểu là các quyền sống, quyền tự do đi lại, quyền sở hữu, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự…

1 OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development

Cooperation, New York and Geneva, 2006, trang 03.

2 PGS TS Vũ Công Giao, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 2011, trang 38.

Trang 5

Các quyền kinh tế gồm quyền tự do kinh doanh, tự do buôn bán, trao đổi… Các quyền xã hội gồm quyền được lao động, quyền được hưởng thụ hệ thống an sinh xã hội, quyền được chăm sóc y tế…

Các quyền văn hóa gồm quyền tham gia vào đời sống văn hóa, quyền hưởng thụ các thành tựu văn hóa của nhân loại, quyền được đi học, quyền được giáo dục… Tuy nhiên sự phân loại trên cũng chỉ mang tính tương đối bởi ranh giới giữa các loại quyền đôi khi rất mong manh, một quyền có thể vừa mang tính chất của loại quyền này, vừa mang tính chất của loại quyền kia…

1.1.2 Đặc điểm của quyền con người

Theo PGS TS Vũ Công Giao, quyền con người có bốn đặc điểm chính3:

(1) Quyền con người phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo

(2) Quyền con người mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người

(3) Quyền con người phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

(4) Quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý

1.1.3 Các cách thức bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Có hai cách chính thường được các quốc gia sử dụng để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Một là lồng ghép việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người vào chức năng nhiệm vụ của các cơ quan (lập pháp, hành pháp, tư pháp) trong bộ máy nhà nước; và hai là xây dựng một cơ quan chuyên trách riêng, được trao đủ quyền hạn và có đủ sự độc lập tương đối (với các cơ quan khác) giúp thực hiện tốt nhiệm

vụ bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Cơ quan chuyên trách này thường được

gọi là Cơ quan Nhân quyền quốc gia.

1.2 Cơ quan nhân quyền quốc gia

1.2.1 Khái niệm và phân loại cơ quan nhân quyền quốc gia

3 PGS TS Vũ Công Giao, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 2011, trang 43.

Trang 6

Cơ quan Nhân quyền quốc gia (CQNQQG) là một cơ quan do nhà nước thành lập, được quy định cụ thể trong Hiến pháp (hoặc một đạo luật) nhằm thực hiện chức năng bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người4 Như vậy, CQNQQG là một cơ quan có địa vị pháp lý rõ ràng, được trao quyền hạn tương xứng và chịu trách nhiệm bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

Các mô hình CQNQQG đang phổ biến hiện nay gồm có: Ủy ban nhân quyền quốc gia; Cơ quan thanh tra Quốc hội; và Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụ thể

1.2.2 Đặc điểm của cơ quan nhân quyền quốc gia

Tham chiếu theo các tiêu chuẩn của Nguyên tắc Paris 1993 thì một cơ quan được coi là CQNQQG nếu có những đặc điểm sau:

(1) Được quy định trong Hiến pháp hoặc một văn bản pháp luật cụ thể, đảm bảo

có sự độc lập tương đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp khác (2) Được giao quyền hạn đủ để thực hiện các chức năng tư vấn, giám sát, tiếp nhận, xử lý các khiếu nại về các hành vi vi phạm nhân quyền

(3) Thành viên của cơ quan đến từ nhiều tầng lớp, ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội Tất cả đều được tạo điều kiện để có cơ hội tham gia vào công tác thúc đẩy, bảo vệ quyền con người

1.2.3 Hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thúc đẩy quyền con người là các hoạt động nhằm phổ biến thông tin và kiến

thức về quyền con người tới các chủ thể trong xã hội, chủ yếu thông qua giáo dục

và phương tiện truyền thông

Bảo vệ quyền con người là các hoạt động tiếp nhận, điều tra và xử lý các hành vi

vi phạm quyền con người CQNQQG phải có quyền tham gia vào các hoạt động điều tra, xét xử, thu thập chứng cứ, xác minh các hành vi vi phạm (những hoạt động này có nét tương đồng với chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp)5

4 Lã Khánh Tùng, Cơ quan nhân quyền quốc gia, NXB Hồng Đức, 2017, trang 3.

5 Lã Khánh Tùng, Cơ quan nhân quyền quốc gia, NXB Hồng Đức, 2017, trang 27.

Trang 7

2 Vấn đề bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và yêu cầu thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam hiện nay

2.1 Vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam hiện nay

Ngay tại Điều 3 của Hiến pháp 2013, Việt Nam khẳng định nhà nước công nhâ ̣n, tôn trọng, bảo vê ̣ và bảo đảm quyền con người; tạo điều kiện để mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện Dù không định nghĩa chi tiết quyền con người là gì, nhưng Hiến pháp 2013 đã dành hẳn một chương II để nêu

rõ các quyền con người được nhà nước Việt Nam bảo hộ Thậm chí Điều 14 của Hiến pháp còn tái khẳng định một lần nữa: tại Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Như vậy, quyền con người là một trong các đối tượng được bảo vệ xuyên suốt trong mọi văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam

Ngoài ra, cũng theo Hiến pháp thì quyền lực nhà nước Việt Nam là thống nhất,

có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao với hoạt động của các

cơ quan khác Bản thân Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội hay nhân sự của Quốc hội (các đại biểu Quốc hội) cũng luôn chịu sự giám sát của người dân Chính phủ

là cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…

Như vậy có thể thấy, Việt Nam không thành lập một cơ quan riêng biệt để bảo

vệ, thúc đẩy quyền con người; mà vấn đề này được coi lẽ tất yếu trong nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nhà nước, và là đối tượng được bảo vệ xuyên suốt trong

tư tưởng xây dựng hành lang pháp lý và thi hành pháp luật

2.2 Vấn đề Cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam hiện nay

Trang 8

Căn cứ theo các tiêu chuẩn của Nguyên tắc Paris 1993 thì Việt Nam hiện chưa

có cơ quan nào có thể coi là CQNQQG Tuy nhiên Việt Nam vẫn có các cơ quan được giao thực hiện một số chức năng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người có nét tương đồng với CQNQQG, ví dụ như Ủy ban Dân tộc của Chính phủ; Hội đồng Dân tộc và Ban Dân nguyện của Quốc hội; Cục Trẻ em, Vụ Bình đẳng giới của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội… Một số ý kiến cho rằng có thể phát triển một trong số các cơ quan này lên thành CQNQQG, tuy nhiên để triển khai trên thực tế trong bối cảnh tình hình hiện này thì vẫn còn nhiều bất cập và chưa thống nhất

2.3 Đánh giá sự cần thiết của cơ quan nhân quyền quốc gia trong việc bảo vệ

và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Thế giới hiện nay đang có hơn 100 CQNQQG Tại khu vực Đông Nam Á cũng

có 06/11 quốc gia đã thành lập CQNQQG riêng Có thể thấy, việc thành lập

CQNQQG đang là xu thế vì sự hiệu quả trong công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Tuy nhiên đặt trong bối cảnh tình hình Việt Nam hiện nay, việc thành lập một CQNQQG là chưa thực sự phù hợp Cụ thể:

(1) Bộ máy nhà nước Việt Nam đang chia thành nhóm các cơ quan lập pháp, nhóm các cơ quan hành pháp và nhóm các cơ quan tư pháp CQNQQG muốn đạt được sự độc lập cao nhất thì cần là một thiết chế riêng chứ không nên là cơ quan trực thuộc của bất kỳ nhóm cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp nào Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc, Việt Nam phải sửa đổi Hiến pháp của mình để bổ sung thêm thiết chế CQNQQG vào tổ chức bộ máy nhà nước Mà việc sửa đổi Hiến pháp là không dễ dàng và nhanh chóng ngay được Bởi thứ nhất, về mặt quy định, muốn sửa đổi Hiến pháp thì phải có ít nhất 2/3 số lượng đại biểu Quốc hội tán thành Quan điểm và ý kiến về CQNQQG nói chung cũng như vấn đề thành lập CQNQQG cho Việt Nam nói riêng vẫn đang còn nhiều ý kiến trái chiều, khó mà đạt được một tỷ lệ đồng thuận cao ngay được Thứ hai, về tính hợp lý, một khi đã quyết định sửa đổi Hiến pháp, thì sẽ phải trưng cầu ý kiến của người dân, cũng như phải kết hợp nghiên cứu sửa đổi một số vấn đề pháp lý khác kèm theo (chứ không thể sửa đổi Hiến pháp chỉ nhằm mỗi việc bổ sung quy định thành lập một

Trang 9

CQNQQG thôi được), điều này vô hình chung sẽ làm kéo dài thêm thời gian để xây dựng và thành lập một CQNQQG Tóm lại, trong ngắn và trung hạn (tầm 3 đến 5 năm tới), khả năng có một CQNQQG tại Việt Nam là chưa khả thi về mặt thực tế

(2) Việc thành lập CQNQQG là nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người ở Việt Nam, đây là một quyết định đúng đắn Thế nhưng trên thực tế, nếu thành lập

CQNQQG thì Việt Nam sẽ lựa chọn mô hình, cách thức tổ chức và hoạt động CQNQQG nào cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất thì đây vẫn còn là một câu hỏi lớn Trong số các nhà nước xã hội chủ nghĩa có nền chính trị tổ chức nhà nước tương đồng với Việt Nam hiện nay thì cũng chưa có quốc gia nào xây dựng riêng một CQNQQG, nên khó có mô hình phù hợp cho Việt Nam tham khảo (các quốc gia đã thành lập CQNQQG thường là các nước có nền chính trị và tổ chức hệ thống bộ máy nhà nước khác biệt với Việt Nam) Ngoài ra kể cả khi đã chọn được

mô hình tổ chức CQNQQG phù hợp rồi thì vấn đề thiết lập cơ sở hạ tầng, phát triển tổ chức, quản trị tài chính và xây dựng năng lực làm việc về quyền con người cũng đặt ra không ít thách thức

Đa số người dân Việt Nam đang tiếp cận và hiểu “quyền con người” ở một mức

độ rất giản đơn, chưa đi sâu vào tìm hiểu các khía cạnh của quyền con người ở góc

độ học thuật dẫn đếnhiểu biết về quyền con người, quyền công dân còn hạn chế; thiếu chuyên gia có kiến thức chuyên sâu về quyền con người Ngay đến khái niệm quyền con người là gì, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng chưa có định nghĩa cụ thể, rõ ràng Do đó vấn đề về nhân lực cho CQNQQG thực sự là một thách thức lớn Ngoài ra, trong hai năm gần đây, dưới ảnh hưởng của dịch Covid-19, Việt Nam đã phải chi hàng nghìn tỷ để chống dịch, việc chi thêm một phần ngân sách cho hoạt động của một CQNQQG là không hợp lý tại thời điểm này, chắc chắn sẽ gây bất bình trong dư luận Như vậy, vấn đề về năng lực nhân sự và nguồn lực tài chính cho CQNQQG đang là cản trở chính cho việc thành lập một CQNQQG tại Việt Nam

Trang 10

(3) Bảo vệ và phát huy quyền con người là một chủ trương đúng đắn của Đảng

và Nhà nước, đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp và các văn bản luật có liên quan như Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Luật Trưng cầu Ý dân 2015, Luật Tiếp cận thông tin

2016, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân 2015, Luật Trẻ em 2016…, mỗi luật đều nhằm bảo vệ một (hoặc một vài) quyền nào đó trong nhóm các quyền con người

Có thể thấy, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người là một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật tại Việt Nam, công tác này được lồng ghép vào chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đảm bảo những cơ quan trong mô hình nhà nước hiện tại đã đủ để bảo vệ tốt quyền con người, chưa cần thiết phải xây dựng thêm một cơ quan riêng biệt cho vấn đề này nữa Và trên thực tế trong thời gian qua, tính hiệu quả của hành lang pháp luật đã xây dựng cũng như hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong công tác bảo đảm quyền con người đã được nâng lên rõ rệt

Như vậy, việc thành lập CQNQQG dưới góc độ lý luận là cần thiết, nhưng đặt vào bối cảnh tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay là “chưa sẵn sàng” Thách thức về sự đồng thuận cao trong toàn dân, thách thức về nguồn lực tài chính để hoát động, thách thức về nguồn lực nhân sự để thực hiện chức năng nhiệm vụ…, đều đang là những rào cản lớn cho việc thành lập một CQNQQG tại Việt Nam Và tình hình hiện nay cũng cho thấy, các thách thức này sẽ khó có thể bị gỡ bỏ nhanh chóng, một sớm một chiều Ngoài ra, hành lang pháp lý cũng như hoạt động bảo vệ quyền con người của các cơ quan nhà nước hiện tại cũng đang phát huy hiệu quả tốt Tất cả những điều này đồng nghĩa với việc, phải khá lâu nữa, Việt Nam mới xây dựng một CQNQQG vào trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình

Ngày đăng: 07/03/2022, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. TS. Thái Vĩnh Thắng, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, 2017 Khác
2. PGS. TS. Vũ Công Giao, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 2011.* Sách Khác
1. Principles Relating To The Status Of National Institutions (The Paris Principles) Khác
2. United Nations, UNHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006.* Văn bản quy phạm pháp luật Khác
1. Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28/11/2013 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w