Trong tiến trình lịch sử, thế giới đã và đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ, cùng với những thành tựu vượt bậc của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, nó đã thúc đẩy tiến trình hội nhập toàn cầu hóa, hợp tác hóa giữa các quốc gia dân tộc. Việc nghiên cứu, nắm chắc đường lối lãnh đạo, chính sách quản lý, điều hành, đặc biệt là tư duy lãnh đạo của người đứng đầu các nước lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp cho các nước nhận thức đúng đắn, chính xác xu hướng vận động, phát triển và đề xuất các chủ trương, chính sách của quốc gia phù hợp với xu thế phát triển, mở ra thời cơ thuận lợi thúc đẩy kinh tế đất nước, đồng thời khắc phục có hiệu quả những hạn chế, tiêu cực do mặt trái cơ chế thị trường mang lại. Hiện nay, Trung Quốc đang trổi dậy mạnh mẽ với tham vọng trở thành cường quốc đứng đầu thế giới, việc tham dự và giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu đã và đang gia tăng vị thế và tầm ảnh hưởng to lớn của quốc gia đông dân nhất thế giới này. Những quyết định, chủ trương, chính sách của Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đối với các nước trên thế giới nhất là các quốc gia láng giềng, các nước có nền kinh tế chậm hoặc đang phát triển. Do vậy, nghiên cứu quá trình cải cách, mở cửa của Trung Quốc có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, hệ thống, đánh giá chính xác những thành tựu và hạn chế của công cuộc mở cách, mở cửa của Trung Quốc. Từ đó, dự báo xu thế phát triển trong tương lai, đề xuất chủ trương, đối sách phù hợp, tận dụng tối đa những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế, tác động tiêu cực có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển và công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước ta trong mọi tình huống. Do đó, tôi chọn chủ đề: “Từ tư duy, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Đảng ta giải quyết tốt mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay” làm nội dung viết tiểu luận của mình, với mong muốn giúp cho mọi người có nhận thức sâu sắc hơn về quá trình hình thành, phát triển tư duy, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, sự tác động ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và thấy được quá trình hình thành, phát triển tư duy đối ngoại của Đảng ta, thành công trong giải quyết mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc, vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời gian qua.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử, thế giới đã và đang có những bước chuyển biếnmạnh mẽ, cùng với những thành tựu vượt bậc của cuộc cách mạng công nghệ4.0, nó đã thúc đẩy tiến trình hội nhập toàn cầu hóa, hợp tác hóa giữa các quốcgia - dân tộc Việc nghiên cứu, nắm chắc đường lối lãnh đạo, chính sách quản lý,điều hành, đặc biệt là tư duy lãnh đạo của người đứng đầu các nước lớn có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, giúp cho các nước nhận thức đúng đắn, chính xác xuhướng vận động, phát triển và đề xuất các chủ trương, chính sách của quốc giaphù hợp với xu thế phát triển, mở ra thời cơ thuận lợi thúc đẩy kinh tế đất nước,đồng thời khắc phục có hiệu quả những hạn chế, tiêu cực do mặt trái cơ chế thịtrường mang lại
Hiện nay, Trung Quốc đang trổi dậy mạnh mẽ với tham vọng trở thànhcường quốc đứng đầu thế giới, việc tham dự và giải quyết các vấn đề mang tínhtoàn cầu đã và đang gia tăng vị thế và tầm ảnh hưởng to lớn của quốc gia đôngdân nhất thế giới này Những quyết định, chủ trương, chính sách của TrungQuốc có ảnh hưởng rất lớn đối với các nước trên thế giới nhất là các quốc gialáng giềng, các nước có nền kinh tế chậm hoặc đang phát triển Do vậy, nghiêncứu quá trình cải cách, mở cửa của Trung Quốc có ý nghĩa rất quan trọng giúpcho chúng ta nhận thức đúng đắn, hệ thống, đánh giá chính xác những thành tựu
và hạn chế của công cuộc mở cách, mở cửa của Trung Quốc Từ đó, dự báo xuthế phát triển trong tương lai, đề xuất chủ trương, đối sách phù hợp, tận dụng tối
đa những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế, tác động tiêu cực có thể ảnhhưởng đến quá trình phát triển và công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước tatrong mọi tình huống
Do đó, tôi chọn chủ đề: “Từ tư duy, chính sách đối ngoại của Trung
Quốc, Đảng ta giải quyết tốt mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay” làm nội dung viết tiểu luận của mình, với mong
muốn giúp cho mọi người có nhận thức sâu sắc hơn về quá trình hình thành,phát triển tư duy, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, sự tác động ảnh hưởngđến nền kinh tế Việt Nam và thấy được quá trình hình thành, phát triển tư duyđối ngoại của Đảng ta, thành công trong giải quyết mối quan hệ Việt Nam -Trung Quốc, vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời gian qua
Trang 2I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ DUY, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC
1 Cơ sở lý luận chính sách đối ngoại của Trung Quốc
Nghiên cứu cơ sở lý luận chính sách đối ngoại của Trung Quốc không thể
bỏ qua việc nghiên cứu những lý luận kinh điển của các học giả cổ đại TrungQuốc mà vẫn ít nhiều ảnh hưởng đến tư duy đối ngoại Trung Quốc hiện nay.Mặc dù các triết lý này ít đề cập đến quan hệ của Trung Quốc với thế giới bênngoài mà phần nhiều giải thích nền chính trị phong kiến nội bộ của Trung Quốcthời bấy giờ nhưng nếu xét đến diện tích khổng lồ và tình trạng phân tán củaTrung Quốc lúc đó, có thể thấy Trung Quốc gần như một hệ thống quan hệ quốc
tế thu nhỏ gồm các bang quốc tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau Nói như LucianPye, “Trung Quốc là một nền văn minh dưới lốt của một quốc gia” Vì vậy,những lý luận triết học nội bộ của các học giả thời kỳ này có thể được hiểu và
mở rộng thành lý luận về thế giới của Trung Quốc
Cũng giống như Hy Lạp cổ đại thời đó, đây cũng là thời kỳ của các triếtgia khi mà “hàng trăm trường phái” nở rộ Triết học thời kỳ này để lại hai di sản
tư tưởng quan trọng về khái niệm, thiết kế và vận hành trật tự xã hội trong thếgiới của người Trung Quốc Đặc biệt, quan niệm về bản chất con người bộc lộ tưtưởng đối lập của hai trường phái nổi trội nhất: Nho giáo (Confucianism) vàPháp gia (Legalism) Trong khi các nhà nho giáo, đặc biệt là Khổng Tử và Mạnh
Tử xem bản chất con người là tốt đẹp hoặc ít nhất cũng có thể được cải thiệnqua giáo dục thì các nhà pháp gia như Hàn Phi Tử cho rằng con người có bảnchất tự nhiên là xấu xa và nếu như không bị kiềm chế thì luôn luôn dẫn tới xungđột Vì thế, đối với những người theo Nho giáo, dùng đức để trị quốc (đức trị) sẽmang lại hoà bình và hạn chế chiến tranh xung đột bởi vì nó khai thác phần tốtđẹp nhất của con người Trái lại, các nhà pháp trị lại cho rằng chỉ bằng cách đưa
ra những chính sách cứng rắn và kiểm soát chặt chẽ dưới hình thức chính thểchuyên quyền hoặc thậm chí là độc đoán mới có thể ngăn chặn được xung đột.Trong khi các nhà pháp gia sử dụng hệ thống luật chặt chẽ để làm công cụ kiểmsoát thì các nhà nho giáo ủng hộ trị quốc bằng những gương sáng về đạo đức Haitrường phái này vì thế đưa ra những lý giải trái ngược nhau về nguyên nhân chiếntranh, mục đích và chức năng của chính quyền, các thể chế và hệ thống mà có thểphục vụ tốt nhất cho sự cùng tồn tại hoà hợp giữa các nhóm xã hội và cộng đồngchính trị cũng như trật tự xã hội và đạo đức trong và giữa các quốc gia
Trong khi đó, học thuyết Khổng giáo ít nhiều mang tính tự do, lý tưởng.Bao trùm toàn bộ Trung Quốc thời cổ đại là niềm tin rằng thế giới là hoà bình
và hoà hợp, cho rằng có một sự hoà hợp tự nhiên giữa các thế lực của trời vàđất và đưa ra hình ảnh toàn bộ thế giới như một cộng đồng Tuy nhiên, tưtưởng này cho rằng để đạt được sự hoà hợp trong một thế giới đại đồng như thếthì con người phải tuân thủ trật tự đúng mực trong năm mối quan hệ quantrọng: phu phụ (vợ-chồng), phụ tử (cha-con), huynh-đệ (anh em), bằng hữu(bạn bè) và quân-thần (vua-tôi) Tất cả các quan hệ chính trị đều phải tuân theonhững chuẩn mực này ở các cấp độ tại gia đình, trong quốc gia và trên thế giới(tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng Trung
Trang 3Quốc chia sẻ rất nhiều lập luận, lý tưởng, các bài viết với các học thuyết kháctrên thế giới ở khái niệm này: đối với thuyết tự do của Mỹ là “hoà bình dânchủ”, đối với trường phái Anh là “xã hội quốc tế” và đối với lý thuyết củaTrung Quốc là “đại đồng” (sự hoà hợp vĩ đại của thế giới) Đây là một trongnhững cơ sở quan trọng để chủ tịch Hồ Cẩm Đào xây dựng các khái niệm “xãhội hài hoà” và “thế giới hài hoà” gần đây.
Cho đến thập kỷ 60, nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Trung Quốcđược chia thành ba trường phái: truyền thống/lịch sử; Mao-ít/Mác-xít, và hiệnthực/duy lý Từ cuối những năm 60 cho đến hết thập kỷ 70 các trường phái tamgiác chiến lược và chính trị nội bộ chiếm ưu thế do những phát triển tương ứngtrong chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc
Những tư tưởng Mác-xít góp phần quan trọng trong việc định hình cáchhiểu của Mao nói riêng và Trung Quốc nói chung về trật tự thế giới và cấu trúccủa hệ thống thế giới trong thời gian đầu CHND Trung Hoa thành lập Tuynhiên, chúng đã được phát triển và độc lập hơn khi Trung Quốc tách khỏi Liên
Xô, nếu không nói là công khai cạnh tranh ảnh hưởng và lý luận với nước này.Điển hình là học thuyết “khối trung gian” bao gồm tất cả các nước Á, Phi, Âu bịkẹt giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô đã được sửa thành học thuyết “hai khốitrung gian” đầu thập kỷ 60 Mao xếp các nước Á, Phi, Âu thành một khối trunglập và các nước tư bản và châu Âu như một vùng trung lập khác trong thế giới haicực Hai thuyết này về sau được phát triển thành học thuyết ba thế giới được Maochính thức đưa ra năm 1974, theo đó thế giới thứ nhất bao gồm 2 siêu cường Mỹ-
Xô, thế giới thứ hai bao gồm Châu Âu, Nhật, Úc và Canada trong khi thế giới thứ
ba bao gồm các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, các nước kém phát triển nhất vàcác nước thuộc địa cũ Trong mô hình này Trung Quốc được xếp là một nướcXHCN và một phần của thế giới thứ ba, chống lại bá quyền của Liên Xô và Mỹ
Có thể thấy, dù có những khác biệt trong cách tiếp cận giữa trường pháitruyền thống hay trường phái Mácxít - Mao, cả hai đều chia sẽ lập luận rằngnhân tố cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc là chính bản thânTrung Quốc dù là một nước truyền thống hay nước cộng sản Nói cách khác,Trung Quốc là một trường hợp hoàn toàn khác biệt và phải được hiểu theo cáchđặc thù riêng của nó
Mặc dù vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao TrạchĐông làm nền tảng cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách đối ngoại củamình, Trung Quốc cũng tiếp thu và chấp nhận ảnh hưởng của một số lý luận mớitrên thế giới Nửa đầu thập kỷ 90 là thời gian Trung Quốc im lặng tìm hiểu vàđánh giá tình hình Học thuyết “giấu mình chờ thời, quyết không đi đầu” củaĐặng Tiểu Bình được đưa ra trong thời gian này bao gồm 3 điểm chính: xem xéttình hình kỹ lưỡng, củng cố vị thế của Trung Quốc và bình tĩnh đối phó với cácthách thức thể hiện sự thận trọng của Trung Quốc trong giai đoạn giao thời này
Tuy nhiên, từ nửa cuối những năm 90 khi Trung Quốc đã nắm bắt đặcđiểm, xu thế và hoà nhập vào thế giới mới, nhiều lý luận mới đã được phát triển
để làm cơ sở cho việc triển khai chính sách đối ngoại của nước này Tiêu biểu làhọc thuyết “hoà bình và phát triển” của Đặng Tiểu Bình cho rằng mặc dù xung
Trang 4đột và chiến tranh cục bộ vẫn còn, đặc điểm chính của thế giới sau chiến tranhlạnh vẫn là mặt hợp tác - hoà bình và phát triển Đây được xem là nền tảng mớicho việc phát triển các khái niệm lý thuyết của Trung Quốc về cấu trúc thế giớimới bao gồm “khái niệm an ninh mới” (1996), “trỗi dậy hoà bình” (2003) và “xãhội hài hoà” (2005).
Tại cuộc họp các Bộ trưởng ARF tháng 7/1996, Trung Quốc đã lần đầutiên kêu gọi các nước từ bỏ “tư duy Chiến tranh lạnh” và đưa ra “Khái niệm Anninh mới” sau này sẽ trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong chínhsách đối ngoại của Trung Quốc Nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoạigiao Tiền Kỳ Tham kêu gọi, “các nước trong khu vực nên cùng nhau xây dựngmột khái niệm an ninh mới, tập trung vào tăng cường lòng tin thông qua đốithoại và thúc đẩy an ninh thông qua hợp tác” “Khái niệm An ninh mới” doTrung Quốc đề xướng là sự phát triển của năm nguyên tắc chung sống hoà bình,lấy việc xây dựng “tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, bình đẳng, hợp tác” làm hạtnhân, chủ trương thông qua đối thoại tăng thêm tín nhiệm lẫn nhau, thông quahợp tác xúc tiến an ninh chung1 Khái niệm mới này thể hiện những nhận địnhcủa Trung Quốc về môi trường an ninh phức tạp sau Chiến tranh lạnh, và chủtrương sách lược của Trung Quốc để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc trong bốicảnh mới Nhận thức được mối lo ngại của Mỹ và các nước láng giềng khu vựcđối với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Trung Quốc đề xướng “tin cậylẫn nhau”, “lấy thành thực làm gốc, lấy tin cậy làm đầu, vứt bỏ tư duy chiếntranh lạnh và chính trị cường quyền, vượt qua sự dị đồng về hình thái ý thức vàchế độ xã hội, không nghi ngờ lẫn nhau, không coi nhau là kẻ thù, thường xuyêntiến hành đối thoại về chính sách phòng ngự an ninh của mỗi nước và thông báocho nhau về những động thái quan trọng của mình, tích cực xây dựng cơ chếhợp tác an ninh và đối thoại khu vực, gia tăng tin cậy lẫn nhau” Chủ trương nàyphù hợp với phương châm “náu mình chờ thời, không đi đầu” của Đặng TiểuBình, ít đề cập tới khác biệt về chế độ chính trị-xã hội, về ý thức hệ, tránh vachạm tới mức tối đa, nhằm giảm thiểu những phiền phức đối với an ninh TrungQuốc, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cải cách mở cửa và hiện đại hoá củaTrung Quốc trong khi thế và lực của Trung Quốc còn có những hạn chế Đồngthời, Trung Quốc nhấn mạnh tới lợi ích chung và điểm đồng giữa Trung Quốcvới các nước, hướng tới khía cạnh “cùng có lợi” khi các nước ưu tiên mục tiêuphát triển, “các nước nên thuận theo xu thế khách quan phát triển toàn cầu hoá,đồng thời với việc bảo vệ lợi ích của mình, tôn trọng lợi ích của mình và của đốiphương, xây dựng an ninh toàn cầu trên cơ sở lợi ích chung, thực hiện an ninhchung” Trung Quốc còn nhấn mạnh tới nguyên tắc “bình đẳng”, theo đó “bất kỳnước lớn, nhỏ, mạnh, yếu nào đều là một thành viên bình đẳng trong cộng đồngquốc tế nên cùng tôn trọng, đối xử bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau” Điều này xuất phát từ những lo ngại của Trung Quốc đối vớichiến lược kiềm chế và diễn biến hoà bình của Mỹ, vì chỉ có Mỹ là siêu cường
1 Giang Tây Nguyên và Hạ Lập Bình, Trỗi dậy Hoà bình, (NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc, 2004), Bản dịch của Dương Danh Dy, Hà
nội, tháng 7-2005, trang 35.
Trang 5duy nhất có khả năng đe doạ an ninh của Trung Quốc, và đóng vai trò cực kỳquan trọng trong tiến trình hiện đại hoá và vươn lên vị thế cường quốc thế giớicủa Trung Quốc Cam kết cùng thúc đẩy dân chủ hoá quan hệ quốc tế cho thấyTrung Quốc muốn vô hiệu hoá con bài “dân chủ, nhân quyền” mà Mỹ vàphương Tây sử dụng sau Chiến tranh lạnh và sau sự kiện Thiên An Môn, và tỏ
rõ Trung Quốc sẽ tuân thủ những luật chơi trong cục diện hiện thời Một điểmmới trong khái niệm về an ninh mới của Trung Quốc đó là khía cạnh hợp tác,Trung Quốc chủ trương “các nước nên tiến hành hợp tác sâu rộng trong các vấn
đề an ninh cùng quan tâm, nhằm đối phó một cách hiệu quả những thách thứccủa an ninh toàn cầu, xoá bỏ nguy cơ tiềm tàng, dùng phương thức hoà bình giảiquyết xung đột, ngăn chặn xảy ra chiến tranh, xung đột, thực hiện an ninh toàndiện và bền vững”2 Chủ trương này thể hiện ngoại giao Trung Quốc đã biếtkhuếch trương tầm quan trọng của Trung Quốc trong các vấn đề quan trọng củakhu vực, nhấn mạnh tới vai trò của nhân tố Trung Quốc trong việc tìm giải phápcho các vấn đề trên, ngầm nhắc cho Mỹ và các nước trong khu vực về ảnhhưởng của sức mạnh mềm Trung Quốc
Mặc khác, khái niệm trỗi dậy hoà bình là phản ứng chiến lược của TrungQuốc để đáp lại cái gọi là “thuyết mối đe doạ Trung Quốc”, được xem là lậpluận nhằm biện minh cho việc kiềm chế và can thiệp vào công việc nội bộ củaTrung Quốc (Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương) của các nước phương Tây Nóicách khác, việc Trung Quốc trỗi dậy không phải là mối đe dọa mà là một cơ hộicho hoà bình thế giới Ngay lập tức, khái niệm này được đưa vào chính sách đốingoại của Trung Quốc và được các nhà lãnh đạo cao nhất của nước này sử dụngtrên các diễn đàn quốc tế để mô tả chính sách đối ngoại của Trung Quốc và sựcan dự của nước này vào các vấn đề quốc tế cũng như khẳng định tầm quantrọng của hợp tác và an ninh khu vực trong việc thực hiện các kế hoạch hiện đạihoá trong nước của Trung Quốc
Ý tưởng “xã hội hài hoà” lần đầu tiên được nhắc đến tại Đại hội 16 củaĐảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002, tuy nhiên những cuộc tranh luận về nộidung của ý tưởng này vẫn tiếp tục cho đến năm 2005 khi Trung Quốc đưa ra kếhoạch 5 năm lần thứ 11 tập trung vào việc phát triển bền vững và các biện phápnhằm giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội do quá trình hiện đại hoá đặt ra.Nội dung chính của khái niệm này dựa trên phát biểu của chủ tịch Hồ Cẩm Đào
về xã hội hài hoà XHCN bao gồm các khía cạnh “dân chủ, cai trị bằng luật pháp,bình đẳng, công lý và sự hoà hợp giữa xã hội con người và thiên nhiên”3 Kháiniệm này được gắn với khái niệm mở rộng “thế giới hài hoà” mà Hồ Cẩm Đào
đề cập tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Liên hợp quốc vào tháng 9/2005vốn được xem là phiên bản cải tiến của “5 nguyên tắc chung sống hoà bình” vàbài phát biểu về “một thế giới tốt hơn” của Giang Trạch Dân tại Liên Hợp Quốcnăm 1995 trong đó nhấn mạnh Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc có
2 Hiền Lương và Đỗ Thủy, “Những điều chỉnh trong chiến lược an ninh Đông Á của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh”, Nghiên cứu quốc
tế, (3/2006).
3 Trích bài phát biểu của Hồ Cẩm Đào, Tân Hoa Xã, 20/05/2005.
Trang 6trách nhiệm (fuzheren de daguo) cùng với các nước khác trên thế giới xây dựngmột thế giới nơi mà các cuộc xung đột và tranh chấp quốc tế sẽ được giải quyếtbằng các biện pháp hoà bình và kêu gọi sự đối thoại và hợp tác giữa các nền vănhoá, văn minh khác nhau để cùng mang lại ổn định và thịnh vượng cho toànnhân loại Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin tưởng rằng xây dựng một xã hội hàihoà Trung Quốc sẽ đóng góp lớn cho việc mang lại một thế giới hài hoà.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng trong khi vẫn khẳng định kiên trì chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho chính sách đốingoại của mình, các nhà lý luận Trung Quốc vẫn đang tiếp thu những tinh hoa lýluận quốc tế (bao gồm cả các học thuyết phương Tây) trong việc tìm tòi một môhình lý thuyết quan hệ quốc tế mang màu sắc Trung Quốc Do đó, một trườngphái Trung Quốc về quan hệ quốc tế một ngày nào đó nếu có hình thành thìcũng sẽ chia sẻ rất nhiều điểm chung với các lý thuyết QHQT hiện nay
2 Tư duy đối ngoại mới của Trung Quốc hiện nay
a Chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Đại hội XIX
Sau Đại hội XIX, Ban lãnh đạo Trung Quốc đẩy mạnh triển khai chínhsách đối ngoại, với việc đặt ưu tiên hàng đầu là “ngoại giao nước lớn” và “ngoạigiao láng giềng” Công tác đối ngoại được Trung Quốc triển khai đồng bộ, toàndiện và bài bản; kết hợp linh hoạt ngoại giao thượng đỉnh, ngoại giao sân nhàvới triển khai các sáng kiến nhằm giành vai trò chủ đạo trong việc dẫn dắt xuhướng toàn cầu hóa, củng cố vai trò lãnh đạo khu vực và tham gia sâu rộng hơnvào việc định hình trật tự thế giới mới Cụ thể là:
Thứ nhất, kiện toàn bộ máy và cơ chế ban hành quyết sách đối ngoại
Trung Quốc đã nâng cấp Tiểu tổ lãnh đạo Công tác đối ngoại Trung ươngthành Ủy ban Công tác đối ngoại Trung ương do Tập Cận Bình trực tiếp chỉ đạo;tăng cường vai trò, vị trí các lãnh đạo chuyên trách công tác đối ngoại (DươngKhiết Trì được bầu vào Bộ Chính trị và giữ chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Ủyban Công tác đối ngoại Trung ương; Vương Nghị được bầu giữ chức Ủy viênQuốc vụ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao); ngân sách đối ngoại được phân bổ ở mứccao nhất trong nhiều năm gần đây, đạt 9,45 tỷ USD (tăng 15,5% so với năm2017) Bên cạnh đó, Trung Quốc tích cực thúc đẩy “2 xây dựng” (gồm: xâydựng “quan hệ quốc tế kiểu mới” và xây dựng “cộng đồng chung vận mệnhnhân loại”), với 4 trọng tâm là: duy trì quan hệ ổn định với các nước lớn; đẩymạnh quan hệ với các nước láng giềng và các nước đang phát triển; thúc đẩysáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) và tăng cường thể hiện vai trò “nướclớn có trách nhiệm” của Trung Quốc trong giải quyết các vấn đề quốc tế
Thứ hai, thực hiện “Ngoại giao nước lớn” trong quan hệ với các cường quốc và khu vực
Với Mỹ, Trung Quốc một mặt chủ động thúc đẩy xu thế đối thoại, hợp táctoàn diện qua việc tổ chức thành công chuyến thăm cấp nhà nước của Tổngthống D Trump (11-2017), liên tục cử 2 Ủy viên Bộ Chính trị (Lưu Hạc vàDương Khiết Trì) thăm Mỹ (3-2018), nhất là thúc đẩy Mỹ không tiến hành cuộcchiến thương mại và tiếp tục tăng thuế hàng hóa của Trung Quốc, bằng việcđồng ý mua thêm hàng hóa và dịch vụ của Mỹ Tuy nhiên, Trung Quốc cương
Trang 7quyết phản đối các hoạt động của Mỹ liên quan đến vấn đề Đài Loan, BiểnĐông; đưa ra các tuyên bố, biện pháp đáp trả tương xứng với các quyết định gâyhấn thương mại của Tổng thống D Trump Ngày 15-6-2018, Mỹ quyết định ápthuế 25% đối với 1.333 mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 50 tỷ USD,trong đó sẽ áp dụng từ ngày 6-7-2018 đối với 818 mặt hàng trị giá 34 tỷ USD;ngày 16-6, Trung Quốc tuyên bố áp thuế 25% đối với 659 mặt hàng của Mỹ trịgiá 50 tỷ USD, trong đó sẽ áp dụng từ ngày 6-7-2018 đối với 545 mặt hàng trịgiá 34 tỷ USD Trung Quốc cũng gia tăng vai trò về giải quyết hạt nhân trên bánđảo Triều Tiên, ảnh hưởng tại các thiết chế đa phương và khu vực “sân sau” của
Mỹ - Mỹ Latinh nhằm từng bước xác lập địa vị “bình đẳng” với Mỹ
Với Nga, việc Trung Quốc cử Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phụng Hòa
và Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị thăm Nga ngay sau Kỳ họp Lưỡng hội
2018 nhấn mạnh tính chất đặc biệt trong mối quan hệ giữa hai nước, nhằm hìnhthành một mặt trận thống nhất để xử lý các vấn đề quốc tế, nhất là đối trọng vớiMỹ(3) Do vậy, quan hệ chính trị, kinh tế với Nga được tăng cường, hợp tácquân sự song phương đạt tiến triển thực chất hơn khi Trung Quốc tiếp nhận lôhàng đầu tiên trong tổ hợp tên lửa S-400 của Nga
Với EU, Trung Quốc tiếp tục tận dụng thời cơ quan hệ Mỹ - EU có dấuhiệu rạn nứt để đẩy mạnh quan hệ với các nước chủ chốt trong EU, nhất là thắtchặt hơn quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư Kim ngạch thương mại TrungQuốc - EU năm 2017 đạt 616,9 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm 2016; 6 thángđầu năm 2018 đạt 305 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017 TrungQuốc cũng tích cực phối hợp với EU tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc
- EU lần thứ 20 (từ ngày 16 đến 17-7-2018), trong đó đã cơ bản thúc đẩy EUthông qua nội dung tuyên bố chung với nhiều điểm đồng thuận trong một số lĩnhvực Trung Quốc có nhu cầu cao Thí dụ như: kết nối BRI với chiến lược pháttriển của EU, cải cách WTO, chống chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, kêu gọi bảo vệ
và thực hiện các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc về các vấn đềhạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, hòa bình Trung Đông, Syria, Iran, Lybia,Afghanistan.
Thứ ba, thực hiện “Ngoại giao láng giềng” đạt nhiều kết quả, tạo bước đệm
để thực hiện giai đoạn đầu của ý tưởng “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”.
Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh hợp tác về mọi mặt với ASEAN, củng cốhợp tác tiểu vùng, thông qua các hoạt động ngoại giao nguyên thủ; nhận được sựủng hộ của Lào và Campuchia về đề xuất “cộng đồng chung vận mệnh TrungQuốc - ASEAN” Bên cạnh việc nâng cấp cơ chế hợp tác Lan Thương - MêCông (giữa Trung Quốc với Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan vàMyanmar), Trung Quốc công khai ý định thúc đẩy cơ chế 4 + 1 (giữa TrungQuốc với 4 nước Đông ASEAN - Indonesia, Brunei, Malaysia và Philippines)khiến ASEAN có nguy cơ bị tách li thành 2 nhóm: “ASEAN biển đảo” và
“ASEAN lục địa” Trung Quốc còn gây sức ép thành công để Hàn Quốc chủđộng cải thiện quan hệ song phương, nhất là đạt nhận thức chung về việc xử lýnhững bất đồng liên quan hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối của
Mỹ tại Hàn Quốc Mặt khác, Trung Quốc khiến Triều Tiên chủ động thể hiện
Trang 8thiện chí trong thúc đẩy quan hệ, nhất là tham vấn Trung Quốc trước khi tiếnhành các cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều, Triều - Mỹ; thông báo kết quả cáccuộc gặp này và phối hợp thực hiện các bước tiếp theo Chủ tịch Triều Tiên KimJong-un tiến hành 3 chuyến thăm đến Trung Quốc trong tháng 3-2018, 5-2018
và 6-2018 Bốn là, một mặt làm ấm lại quan hệ chính trị, tăng cường hợp tác, kếtnối kinh tế - thương mại với Nhật Bản, Ấn Độ, song vẫn gây áp lực thường trựcvới Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, tăng cường ảnh hưởng không gian chiến lượccủa Ấn Độ
Thứ tư, thúc đẩy xây dựng mạng lưới kết nối trong khuôn khổ BRI.
Trung Quốc cụ thể hóa công tác thực thi BRI thông qua việc tổ chức “Hộinghị công tác thúc đẩy xây dựng BRI” (16-1-2018); ban hành một loạt văn kiệnquan trọng về các nhiệm vụ, lĩnh vực, quốc gia trọng điểm triển khai BRI TrungQuốc tiếp tục nhận được sự ủng hộ tích cực của các nước ASEAN, Trung Á, TrungĐông Âu, châu Mỹ Latinh và châu Phi về hợp tác triển khai BRI Trong đó, tại Hộinghị Hợp tác Thượng Hải (SCO) lần thứ 18 (6-2018), nguyên thủ 8 nước thànhviên SCO đã nhất trí xác định xây dựng “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” trởthành mục tiêu chung của SCO Trong các chuyến thăm Lào, Campuchia của lãnhđạo Trung Quốc, phía Lào và Campuchia đều bày tỏ ủng hộ xây dựng “cộng đồngchung vận mệnh Trung Quốc - ASEAN” Tổng đầu tư của Trung Quốc tại cácnước dọc tuyến BRI trong năm 2017 đạt 14,36 tỷ USD, trong đó đã ký thêm 7.217hợp đồng mới với tổng trị giá 144,3 tỷ USD; quý I năm 2018 đạt 3,61 tỷ USD, tăng22,4% so với cùng kỳ năm 2017.
Thứ năm, tạo ấn tượng bước đầu về vai trò “nước lớn có trách nhiệm”.
Trung Quốc chủ động đề xuất các “phương án Trung Quốc” và làm trunggian hòa giải đối với một số vấn đề, điểm nóng quốc tế, nhất là giữa các nướcxung quanh Trung Quốc, như vấn đề hạt nhân/tên lửa Triều Tiên, người Hồigiáo Rohingya (Myanamar), tiến trình hòa bình Trung Đông và căng thẳng giữamột số nước Trung Á Đáng chú ý, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc điềuchỉnh chiến thuật từ chủ động gây hấn sang ngấm ngầm củng cố, phát triển cơ
sở hạ tầng, quân sự hóa và triển khai lực lượng trên các thực thể chiếm đóng.Chiến thuật này vừa giúp Trung Quốc bảo đảm mục tiêu xác lập hiện trạng mới
ở Biển Đông, vừa tránh kích động phản ứng của các nước liên quan; đồng thờitranh thủ bối cảnh khu vực đang có lợi cho Trung Quốc về vấn đề Biển Đông;Philippines, Malaysia điều chỉnh chính sách có lợi cho Trung Quốc, nhất làPhilippines đồng ý đàm phán song phương với Trung Quốc trong vấn đề BiểnĐông Trung Quốc tạo dựng hình ảnh về “nước lớn có trách nhiệm” và tạo môitrường thuận lợi đẩy mạnh triển khai BRI Trung Quốc cũng thể hiện sự “tíchcực”, “thiện chí” trong thúc đẩy tiến trình đàm phán xây dựng COC; đồng thờiđẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tạo ngộ nhận về sự “ổn định” ở BiểnĐông và làm mờ phán quyết của Toà Trọng tài
Tuy nhiên, triển khai chính sách đối ngoại của Trung Quốc xuất hiệnnhiều yếu tố bất định:
Một là, Mỹ xác định Trung Quốc là quốc gia hàng đầu thách thức vị thế
của Mỹ trên thế giới Gần đây, Chính quyền Mỹ tiếp tục đe dọa áp đặt khung
Trang 9thuế mới đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, gây áp lực hơn đối vớiTrung Quốc khi phối hợp với Nhật Bản, Ấn Độ, Australia thúc đẩy thực thiFOIP; khuyến khích, ủng hộ vai trò Nhật Bản và Australia trong các tập hợpkinh tế đa phương; gia tăng hiện diện quân sự và hỗ trợ các nước đồng minh vàđối tác củng cố tiềm lực quốc phòng; triển khai các chiến dịch bảo đảm tự dohàng hải ở Biển Đông để bao vây, kiềm tỏa Trung Quốc.
Hai là, sáng kiến BRI vẫn gặp phải sự lo ngại từ một số nước châu Âu;
một số dự án tại nhiều nước bị đình trệ do vấp phải sự phản đối của các đảngphái đối lập và người dân sở tại Cụ thể: Thủ tướng Anh Theresa May (1-2018)
từ chối ký Biên bản ghi nhớ về BRI; 27/28 Đại sứ EU tại Bắc Kinh, trừHungary (4-2018) đã ký vào tài liệu tố cáo BRI cản trở tự do thương mại và tạolợi thế cho các công ty của Trung Quốc; Ấn Độ (6-2018) không ký nội dungủng hộ BRI trong Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác ThượngHải 2018 Nhiều dự án đầu tư của Trung Quốc ở khu vực hoặc đội vốn quálớn, tiến độ chậm (đường sắt Hà Đông - Cát Linh của Việt Nam), hoặc bị đánhgiá có tác động tiêu cực đến môi trường (dự án thủy điện Myitson và mỏ đồngLetpadaung ở Myanmar) Theo đánh giá của Ban Phối hợp đầu tư Indonesia thìchỉ có 7% các dự án được lên kế hoạch của Trung Quốc từ 2004 - 2014 đượctriển khai trên thực tế
Ba là, việc tăng cường sức mạnh mềm và ảnh hưởng của Trung Quốc trên
trường quốc tế gặp không ít khó khăn do sự nghi ngờ của nhiều nước đối với ý
đồ của Trung Quốc tại các thể chế đa phương và cách hành xử thô bạo, bất chấpluật pháp quốc tế của Trung Quốc trong thực thi các yêu sách chủ quyền lãnhthổ Ngoài các hội nghị do ASEAN chủ trì, vấn đề Biển Đông là một trongnhững chủ đề được nhiều nước lớn ngoài khu vực quan tâm bàn thảo, trong đóHội nghị thượng đỉnh các nước công nghiệp phát triển - G7 những năm gần đâyđều chỉ trích các hoạt động “quân sự hóa” Biển Đông của Trung Quốc Vấn đềBiển Đông lần đầu tiên được đề cập trong Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc -
EU lần thứ 20 (7-2018) với nội dung “EU hoan nghênh Trung Quốc và các nướcASEAN tiến hành thương lượng nhằm đạt được COC có hiệu lực, kêu gọi cácbên liên quan triển khai đối thoại, giải quyết tranh chấp hòa bình, không áp dụngcác hành vi khiến tình hình căng thẳng”
3 Sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao và phương thức phát triển kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay
Sau Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc, Trung Quốc đã điều chỉnh chiến lượcngoại giao, nâng ngoại giao láng giềng lên thành ưu tiên số một, hình thành nền
“ngoại giao nước lớn đặc sắc Trung Quốc”, thiết lập quan hệ nước lớn kiểu mới,thúc đẩy tiến trình thiết lập “trục riêng” tại Châu Á Trung Quốc ngày càng thểhiện vai trò nước lớn; từ bỏ phương châm “giấu mình chờ thời” do Đặng TiểuBình đề ra; từng bước chuyển từ “thế thủ” sang “thế công” về đối ngoại, tích cựchơn trong các công việc quốc tế, chủ động hơn trong việc tranh giành và mở rộngảnh hưởng về kinh tế, ngoại giao trên phạm vi toàn cầu và khu vực; gắn chínhsách “ngoại giao láng giềng” với “ngoại giao nước lớn”, “ngoại giao năng lượng”
và “chiến lược biển”… Điều đáng chú ý là, sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao
Trang 10gắn với kinh tế của Trung Quốc mặc dù được thực hiện bằng “phương thức mềm
và linh hoạt”, nhưng cũng có tác động làm thay đổi tương quan lực lượng trênphạm vi thế giới và khu vực, đặt các định chế kinh tế quốc tế và khu vực trướcnhững thách thức mới, buộc phải sửa đổi hay bổ sung
Thực chất những điều chỉnh chiến lược ngoại giao nêu trên phần nào cũngxuất phát từ thực trạng phương thức (mô hình) phát triển kinh tế trong nước Đó
là, trong quá trình cải cách mở cửa, Trung Quốc đã chủ yếu dựa vào ưu thếnguồn lao động giá rẻ, tài nguyên, năng lượng và đầu tư của chính phủ đưa nướcnày trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới Mô hình này đến giai đoạn hiệnnay không còn phù hợp nữa, dần mất đi sức cạnh tranh, gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng, hiệu quả thấp, sản xuất dư thừa, và vì vậy Trung Quốc đã đẩymạnh chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế Sau Đại hội XVIII ĐCS TrungQuốc, lãnh đạo Trung Quốc đã nêu ra khái niệm “trạng thái bình thường mới”trong chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, với một số đặc điểm chủ yếunhư: điều chỉnh tốc độ tăng trưởng kinh tế từ mức độ cao chuyển sang mức độ
từ trung bình đến cao; thúc đẩy nâng cấp cơ cấu kinh tế; thay đổi động lực từdựa vào xuất khẩu, đầu tư là chủ yếu sang chủ yếu dựa vào sáng tạo, tiêu dùnglôi kéo kinh tế phát triển
Trọng tâm của chuyển đổi phương thức kinh tế trong nước gắn vớiđiều chỉnh chiến lược ngoại giao thể hiện trên một số điểm như: đẩy mạnhtriển khai Chiến lược “Một vành đai, một con đường” (OBOR); thành lậpNgân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB); tiếp tục thúc đẩy quốc tếhóa đồng Nhân dân tệ (NDT); thử nghiệm xây dựng khu thương mại tự do ởThượng Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông, Thiên Tân; đẩy nhanh việc mở cửacác vùng biên, thực hiện chính sách và phương thức đặc thù trong hợp táckinh tế, đi lại, thanh toán biên mậu, kết nối hạ tầng với các nước láng giềng;nâng cấp khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN; đưa ra sáng kiến mới
về hợp tác sông Lan Thương - Mê Kông; thúc đẩy xây dựng khu thương mại
tự do Châu Á - Thái Bình Dương; thúc đẩy đàm phán Hiệp định đối tác kinh
tế toàn diện khu vực (RCEP)
Trong đó, nổi bật nhất là việc Trung Quốc đẩy mạnh thực hiện Chiến lượcOBOR Thực hiện Chiến lược này cũng là phản ứng của Trung Quốc trướcchính sách “xoay trục Châu Á” của Mỹ để cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khuvực và trên thế giới Chiến lược OBOR kết hợp với AIIB, quốc tế hóa đồngNDT là trọng tâm và có ảnh hưởng tới định chế tài chính tiền tệ quốc tế hiện có
và quan hệ kinh tế của Trung Quốc với nhiều nước trên thế giới Trong vòng 3năm lại đây, ngoại giao OBOR kết hợp với mục đích kinh tế của Trung Quốc đãtrở thành hướng quan trọng nhằm thúc đẩy doanh nghiệp Trung Quốc đi rangoài, giải quyết năng lực sản xuất dư thừa, mà trọng tâm là doanh nghiệp nhànước (DNNN) liên quan đến ngành xây dựng cơ sở hạ tầng; từ đó góp phần giúpnền kinh tế Trung Quốc tránh được nguy cơ hạ cánh cứng Theo “báo cáo tiếntriển 3 năm xây dựng OBOR” của Trung Quốc công bố, từ 9/2013 đến 8/2016,Tập Cận Bình đã đi thăm 37 quốc gia (gồm 18 quốc gia Châu Á, 9 quốc giaChâu Âu, 3 quốc gia Châu Phi, 4 quốc gia Châu Mỹ Latinh, 3 quốc gia Châu
Trang 11Đại Dương) Tất cả điều này cho thấy, sự thành bại của Chiến lược OBOR trướchết là về mặt kinh tế đối ngoại của Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng đến uy tín, vịthế của thế hệ lãnh đạo thứ năm ĐCS Trung Quốc ở trong và ngoài nước.
II ĐẢNG TA GIẢI QUYẾT ĐÚNG ĐẮN MỐI QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - TRUNG QUỐC VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO HIỆN NAY
1 Quá trình phát triển tư duy đối ngoại của Việt Nam
Những năm 80 thế kỷ XX, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn,thách thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: về kinh tế, sản xuất đìnhtrệ, ngân sách thiếu hụt, lạm phát cao; về chính trị chịu tác động lớn từ khủnghoảng chính trị trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, bị cô lập chính trị donhững hiểu lầm trong vấn đề Campuchia; về đối ngoại gặp nhiều khó khăn do
Mỹ và phương Tây cấu kết nhau hình thành trận tuyến chống lại chúng ta, cũngnhư nhũng quan hệ căng thẳng giữa nước ta và Trung Quốc trong vấn đề biêngiới, biển đảo
Bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên đặt ra những thách thức lớn đốivới sự phát triển và mục tiêu chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, đồng thời cũng tạo
cơ sở cho việc hình thành tư duy đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản ViệtNam trước tình hình mới Đại hội VI của Đảng đã đặt nền móng cho quá trìnhđổi mới tư duy nói chung và trong lĩnh vực đối ngoại nói riêng, tạo nên bướcngoặt quan trọng trong tư duy “mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, … mởrộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”4 Tiếp
đó, Trung ương khóa VI đã làm rõ nét hơn tư duy đối ngoại theo định hướng đaphương của Việt Nam khi lần đầu tiên đưa cụm từ “đa dạng hóa quan hệ” trên
cơ sở “thêm bạn bớt thù” vào Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị ngày 20/5/1988
“về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” Điều này cho thấy,Nghị quyết 13 là văn kiện đầu tiên của Đảng mang ý nghĩa nền tảng cho chủtrương “đa dạng hóa, đa phương hóa”; đồng thời thể hiện một bước chuyểnmạnh mẽ trong tư duy và mục tiêu đối ngoại của Việt Nam Quan điểm “thêmbạn, bớt thù” là phù hợp với phương thức tập hợp lực lượng mới giai đoạn sauChiến tranh lạnh Từ quan điểm này, phương châm đối ngoại “thêm bạn, bớtthù” được hình thành nhằm tiếp tục mở rộng hơn nữa quan hệ đối ngoại với cácnước, các tổ chức quốc tế ngoài phe xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đề cao lợi íchquốc gia dân tộc của Việt Nam Từ chủ trương và phương châm đối ngoại này,
từ năm 1986 đến năm 1990, Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt động ngoạigiao đa phương tại một số diễn đàn đa phương trên thế giới, trong đó có Liênhợp quốc với việc tham gia sâu hơn vào các cơ quan của tổ chức này; tham giaphong trào “Không liên kết” nhằm từng bước cải thiện mối quan hệ, tranh thủ sựủng hộ và viện trợ của các nước
Như vậy, trong 5 năm (1986 - 1990), Đảng ta đã có sự thay đổi vượt bậctrong nhận thức về thế giới và các mối quan hệ của các quốc gia trong cộngđồng quốc tế Quan điểm “đa dạng hóa, đa phương hóa” các mối quan hệ quốc
4 ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,2001, tr.561.
Trang 12tế đặt cơ sở cho việc hình thành chủ trương “đa dạng hóa quan hệ quốc tế” trênquy mô khu vực và thế giới, tạo nên bước chuyển mới trong các hoạt động ngoạigiao của Nhà nước ta Có thể xem đây là bước đi quan trọng định hình chínhsách ngoại giao đa phương, tạo tiền đề cho việc triển khai công tác đối ngoại đaphương sau này của Việt Nam.
Tháng 6/1991, Đại hội VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới cónhững biến động lớn Bên cạnh mưu đồ “thế giới một cực” của Mỹ, khoảngtrống quyền lực sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ tạo ra những cơ hộicho một số nước nhăm nhe thế chỗ; bên cạnh đó, cơ hội cho yếu tố đa cực cũngdần trở thành xu thế nổi trội trong quá trình tập hợp lực lượng của các nướcthông qua hoạt động ngày càng mạnh hơn của các tổ chức khu vực và cácphong trào cách mạng thế giới Việc các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp
đổ cũng khiến cho chỗ dựa vững chắc của chúng ta không còn nữa
Quan điểm, chủ trương “thêm bạn, bớt thù” trong quá trình thực thi đãlàm xuất hiện những tình huống mới, trong đó khái niệm “bạn”, “thù” cần đượchiểu rộng hơn Đại hội VII khẳng định: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả cácnước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”5 và
từ chủ trương đó, hình thành nên chính sách đối ngoại theo hướng “đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ đối ngoại” Nhận thức mới trong tư duy lý luận về nộihàm khái niệm “bạn” và “thù” được thể hiện cụ thể trong việc thực thi chínhsách đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ vớitất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực, các phong trào chính trị thếgiới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong nhiệm kỳ Đại hội VII, quá trình đổi mới tư duy về đối ngoại đaphương của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rất rõ tại Hội nghịTrung ương 3 khóa VII (năm 1992) Hội nghị đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt
là khai thông mối quan hệ với các cơ chế đa phương trên thế giới như Quỹtiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB); mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết làkhu vực châu Á - Thái Bình Dương mà trước tiên là ASEAN Nghị quyếtHội nghị Trung ương 3 khóa VII đã đánh dấu bước tiến mới trong tư duy vềngoại giao đa phương của Đảng, đó là mở rộng quan hệ kinh tế với nhiềunước, nhiều tổ chức khu vực và thế giới, không phân biệt chế độ chính trịcũng như trình độ phát triển
Từ những thành công trong thực tiễn triển khai chủ trương “Việt Nammuốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” tại Đại hội VII, cụ thể
là việc khai thông quan hệ với các thiết chế kinh tế - tài chính thế giới; các tổchức quốc tế, khu vực; đặc biệt là một số nước lớn có vai trò quan trọng trongcác mối quan hệ quốc tế như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản…Đại hội VIII củaĐảng đã có những định hướng rất cụ thể về đối ngoại đa phương, trong đó,tiếptục chú trọng việc thiết lập quan hệ với các thiết chế đa phương trên thế giới ởnhững cấp độ khác nhau như: Cộng đồng Pháp ngữ, Tổ chức Thương mại thế
5 ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,2001, tr.49.