Cơ sở hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc: Quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và p
Trang 1ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
Đề Tài: Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết quốc tế, tuyên truyền đại
đoàn kết dân tộc với đại đoàn kết tôn giáo
Tiểu luận cuối kỳ (Môn Học: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH) Giáo viên hướng dẫn: THS: Trương Thị Mỹ Châu
Nhóm thực hiện: Nhóm 9 Học Kỳ I – Năm học: 2021-2022
TP.HCM, tháng 10 năm 2021
Trang 2HỌ TÊN SINH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
4 Phan Trần Gia Bảo 20151115 100% Lớp 21 CLC
Điểm:
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN:
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
GV ký tên
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1 4
1.1 Cơ sở hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc: 4
1.1.1.Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam. 4
1.1.2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin 4
1.1.3.Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới 5
1.2 Nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 6
1.2.1.Đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng 6
1.2.2.Đại đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh của cách mạng Việt Nam 7
1.3 Ý nghĩa luận điểm: 8
Chương 2 11
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÔN GIÁO HIỆN NAY 11
2.1.1.Tin đồ 11
2.1.2 Chức sắc tôn giáo 11
2.1.3 Các tổ chức giáo hội 11
2.1.4 Âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá nước ta 12
2.1.5 Kết quả thực hiện công tác tôn giáo, 13
2.1.6 Tình hình tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định 14
2.2.Chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay 14
2.2.1.Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh 14
2.2.2.Ý nghĩa 16
2.2.3.Về Quan điểm chỉ đạo 16
2.2.4.Về nhiệm vụ của công tác tôn giáo: 18
2.3.Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay : 20
Trang 4Chương 1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1 Cơ sở hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc:
Quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng
và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện
cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng
1.1.1.Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam
Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ” Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1.2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc
bị áp bức con đường tự giải phóng Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết
Trang 5là liên minh giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Rằng nếu không có sự đồng tình và ửng hộ của
đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1.3.Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới
Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngòai của Hồ Chí Minh
a-Thực tiễn cách mạng Việt Nam
Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, từ đó, các phong trào yêu nước , chống pháp liên tục nổ ra, rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại
Hồ Chí Minh đã nhận ra được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Người quyết tâm từ Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước
Trang 6sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức…”
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giành dân chủ cho nhân dân Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng Tháng Mười theo cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới Đặc biệt là bài học về sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông binh đông đảo để giành
và giữ chính quyền cách mạng
1.2 Nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Trong quan điểm của Bác Hồ, đại đoàn kết dân tộc được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến thực tiễn
Đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi theo Bác, đoàn kết
là lực lượng vô địch để khắc phục mọi khó khăn, giành lấy thắng lợi
Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết
và phát huy sức mạnh toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập
1.2.1.Đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng
Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Kế thừa truyền thống quý báu đó, trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
Về vai trò của đại đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng Đoàn kết làm nên sức mạnh và là cội nguồn của mọi thành công: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi."
Để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ,
Trang 7cách mạng muốn thành công và “thành công đến nơi," phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ 19 bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước không đoàn kết được thành một khối thống nhất Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết
Bác viết: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng
ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta."
Không dừng lại ở việc xác định đại đoàn kết là mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định nhiệm vụ của toàn Đảng là giữ gìn sự đoàn kết Trong Di chúc, Bác dặn lại rằng "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và của dân ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình."
Như vậy, trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn
1.2.2.Đại đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh của cách mạng Việt Nam
Để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, bổ sung và phát huy vai trò của họ, làm cho họ trở thành một động lực cách mạng quan trọng; đồng thời khẳng định liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân
Người chỉ rõ “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây."
Thực tế cho thấy, liên minh công-nông-trí (trí thức) không những là yêu cầu khách quan về chính trị, làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển bền vững kinh tế, vǎn hóa, xã hội của đất nước
Đây cũng chính là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trải qua các thời kỳ cách
Trang 8mạng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không ngừng lớn mạnh và có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Với chức năng tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và các thành phần trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hiệu triệu, quy tụ nhân dân thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, chung sức, chung lòng làm nên những thắng lợi vĩ đại, viết nên những trang sử hào hùng của cả dân tộc, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành chủ nhân của đất nước; mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công Mặt trận Thống nhất Việt Minh-Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi Chúng ta có thể tin chắc rằng: với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh."
Thực hiện xuyên suốt và nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc, trong chín thập kỷ qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, rồi cùng nhau xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.3 Ý nghĩa luận điểm:
-Đoàn kết dân tộc:
Theo Hồ Chí Minh: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng xã hội mới Việc xây dựng lực lượng trong nước có vai trò quyết định "để tự ta giải phóng cho ta" Theo Người, muốn có lực lượng phải đoàn kết vì "đoàn kết là lực lượng vô địch" Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối thống nhất Đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế sẽ tạo
ra sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù
Người viết: "Nhờ đại đoàn kết toàn dân tộc mà trong bao thế kỷ nhân dân Việt Nam đã bảo vệ được độc lập, tự do của mình Nhờ đại đoàn kết mà nhân dân
ta đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách mạng Tháng Tám thành công và
đã kháng chiến thắng lợi Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nước Việt Nam chúng ta
Trang 9nhất định sẽ thống nhất" Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược Đó là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt quá trình cách mạng Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng, có thể tập hợp được nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù và xây dựng xã hội mới Người thường xuyên căn dặn những người cách mạng Việt Nam: Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng
Vì vậy, muốn cách mạng thành công, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh phải được quán triệt trong mọi chủ trương của Đảng, mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước Đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh không chỉ
là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc Như vậy, đại đoàn kết dân tộc chính là sự đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, biến những đòi hỏi khách quan, tự phát của nhân dân thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân
Đại đoàn kết được xây dựng dựa trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc và những lợi ích chính đáng cuat nhân dân lao động Thực tiễn lịch sử đã xác nhận, xuy đến cùng, mối quan hệ giữa các tầng lớp nhân dân trở nên bền chặt hay không do chính vấn đề lợi ích quy định Ngược lại nếu không thỏa mãn những vấn đề tối thiểu về lợi ích thì mọi khẩu hiệu về đoàn kết chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng Tuy nhiên, mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp luôn là vấn
đề hết sức phức tạp, chồng chéo, luôn chứa đựng những yếu tố thống nhất, mâu thuẫn và không ngừng vận động biến đổi cùng với đời sông thực tiễn
-Đại đoàn kết Quốc tế
Tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong cả tư duy
lý luận và hoạt động thực tiễn; không chỉ trong nội bộ Đảng, trong bộ máy chính quyền, trong phạm vi một dân tộc, mà còn được thể hiện trên bình diện rộng lớn hơn, đó là đoàn kết quốc tế Gần 60 năm hoạt động cách mạng, trong đó 30 năm hoạt động ở nước ngoài, liên tục tham gia phong trào cách mạng và đóng góp cho
sự nghiệp chung của cách mạng thế giới, thông điệp về tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một cách rõ ràng và vững chắc
Quan điểm về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xuyên suốt và nhất quán, bởi Người sớm nhận ra, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản muốn đi đến thắng lợi thì phải huy động và tập hợp được sức mạnh đoàn kết quốc tế Trong hành trình tìm đường cứu nước, lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở giải phóng dân tộc mình,
mà còn vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân loại cần lao Những
Trang 10lời di huấn của Người về tình đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với con người Và đoàn kết quốc tế cũng để nhằm mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Quan điểm về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xuyên suốt và nhất quán, bởi Người sớm nhận ra, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản muốn đi đến thắng lợi thì phải huy động và tập hợp được sức mạnh đoàn kết quốc tế Trong hành trình tìm đường cứu nước, lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở giải phóng dân tộc mình, mà còn vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc và nhân loại cần lao khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc Thực tiễn lịch sử cho thấy, dân tộc Việt Nam chiến thắng được những kẻ thù hùng mạnh cũng bởi nhờ toàn dân luôn đoàn kết một lòng; đồng thời, đã nhận được sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ quý báu cả về tinh thần và vật chất của các nước anh em, của bạn bè yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới Vì thế,
Người đã bày tỏ mong muốn đến ngày thắng lợi “Sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm
và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta” Đó là biểu hiện truyền thống đoàn kết, thủy chung của dân tộc Việt Nam mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ khăng khít với phong trào cách mạng thế giới Từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, họp ở thành phố Tua (Tours) với tư cách là đại biểu Đông Dương, Người đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành một thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Từ đây, Người đã đặt nền móng cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp, tạo sự gắn bó chặt chẽ hơn giữa phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới
Trang 11Chương 2
Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay 2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÔN GIÁO HIỆN NAY
2.1.1.Tin đồ
Theo báo cáo của Ban Tôn giáo Chính phủ, tổng số tín đồ 6 tôn giáo là : 18.358.345 trong đó: Phật giáo 9.038.064, Công giáo: 5.324.492, Tin Lành: tổng hội miền Bắc: 6.333, Tổng Liên hội miền Nam: 414,915, Đạo Hồi 64.991; Cao Đài: 2.276 978; Hoà Hảo: 1.232.572
Trong những năm qua, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trong
đó có đồng bào các tôn giáo được cải thiện, cổ mặt được nâng lên, nhiế cơ sở thờ
tự được tu bổ, xây mới khang trang đẹp đẽ
Do những thành tựu của công cuộc đổi mới và đo đời sống tín ngưỡng tôn giáo được cải thiện, đồng bào tôn giáo tăng thêm niềm tin vào Đảng và Nhà nước Đồng bảo tuân thủ pháp luật, chấp hành các chính sách, đòi hỏi chống tham nhũng phải có hiệu quả hơn, đòi hỏi cả chức sắc và người thi hành công vụ làm đúng theo pháp luật, không đồng tình với những hành động lợi dụng tôn giáo để gây rối, nhiều trường hợp đồng bào đã đấu tranh chống lại những hoạt động của bọn xấu gây mất ổn định xã hội,
2.1.2 Chức sắc tôn giáo
Chức sắc giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới tin đồn Họ ở trong hệ thống tổ chức khá chặt chẽ của các giáo hội Nhiều người da được đào tạo khá cơ bản về giáo lý, có trình độ văn hoá, có điều kiện và phương tiện hoạt động
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, bộ phận chức sắc yêu nước, tiến bộ gần gũi với Đảng, chính quyền và Mặt trận ngày càng nhiều lên Đại đa số các chức sắc yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hưởng tốt đời, đẹp đạo, mong muốn được hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp,
2.1.3 Các tổ chức giáo hội
Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Thành lập từ năm 1981, là tổ chức thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo trên cả nước với 15.051 ngôi chùa, 3 Học viện Phật giáo, 1 Viện nghiên cứu Phật học, 30 trường trung cấp Phật học trong đó có 4 lớp
Trang 12Cao đẳng Phật học Tổ chức của Giáo hội gồm 2 cấp Trung ương và cơ sở (chùa)
Các giáo hội Tin lành:
- Hội Thánh Tin lành miền Bắc: Tổng hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)
ra đời năm 1955 là một tổ chức tôn giáo yêu nước, có điều lệ tiến bộ, có thành tích đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ và trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất
- Hội Thánh Tin lành miền Nam: Ngày 30-11-1998 Thường bị Bộ Chính trị cổ Thông báo số 184-TB/TW (sau đây gọi tắt là Thông báo số 184) cho ý kiến về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới Các giáo hội Cao Đài: Ngày 14-11-1992 Ban Bí Thư Cổ Thông báo số 34-TB/TW cho ý kiến về chủ trương công tác đối với đạo Cao Đài, yếu tố quan điểm: Thực hiện; các chính sách tôn giáo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với Đạo Cao Đài như đối với các tôn giáo khác
Phật giáo Hoà Hảo: Phật giáo Hoà Hảo ra đời dưới chế độ thực dân Pháp,năm 1999 thực hiện thông báo số 165-TB/TW ngày 4-9-1998 của Thường
vụ Bộ Chính trị, các địa phương có đạo Phật giáo Hòa Hảo đã tổ chức Đại hội đại biểu phát triển, Hoả Hảo bầu ra Ban đại diện gồm 11 thành viên, hoạt động theo
“Quy chế Phật giáo Hoà Hảo”
Cộng đồng Hồi giáo đồng bào Chăm cổ đạo Hồi gồm hai nhánh Hồi, gồm hai nhánh Hội Bani và Hồi Islam và 20 cháu Bản chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình thuận, An Giang và thành phố Hồ Chí Minh
2.1.4 Âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá nước ta
Lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là âm mưu cố hữu không bao giờ từ bỏ của chủ nghĩa
đế quốc, Chính sách đối với tôn giáo của chủ nghĩa đế quốc là lợi dụng, chia rẽ
và thông trị
Âm mưu của chúng là chia rẽ giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa tôn giáo với không tôn giáo, đặc biệt giữa đồng bào tôn giáo với Đảng, Nhà nước và cách mạng
Trang 13Chủng đã dùng các thủ đoạn kích động, lửa m và ô ép, khoét sâu mâu thuẫn
về tư tưởng, kích động mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân để lừa gạt, lôi kéo, giành giật đồng bảo về phía chúng và đầy dần ra đối đầu với chính quyền, với Đảng,
Để lợi dụng vấn đề tôn giáo trong bối cảnh thế giới hiện nay, mỹ đã triệt để lợi dụng các xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá, đề ra khẩu hiệu nhân quyền cao hơn chủ quyền, quyền cá nhân cao hơn quyền cộng đồng Mỹ lại nhân danh các công ước quốc tế và lợi dụng các cơ chế toàn cầu để pháp lý hoá các pháp luật, các quy định đơn phương từ phía Mỹ nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo và các quốc gia Mỹ triệt để khai thác các phương tiện thông tin hiện đại trong điều kiện xã hội thông tin để lừa mi, lung lạc, sử dụng tay sai đội lốt chức sắc giáo sĩ để hoạt động chính trị phản động, lợi dụng các mối quan hệ hải ngoại và quốc tế để nuôi dưỡng, tác động, chỉ đạo các tổ chức tôn giáo nghe theo chủng hoạt động diễn biến hoà bình” Thực tế tình hình trong những năm qua, cho thấy cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để thực hiện
“diễn biến hoà bình” tại nước ta đã diễn ra rất gay go, quyết liệt
Từ năm 1999 đến nay, các thế lực thù địch quyết tâm phối hợp lực lượng, kết hợp vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc nhằm thực hiện “diễn biến hoà bình”, tập trung vào năm 2000 và các năm tiếp theo Chúng mọc nội xây dựng tổ chức lên tôn giáo chống Đảng, chống Nhà nước, tìm mọi cách để ra mắt tổ chức chống đối ngày trong nước Chúng kích động những người tin theo tôn giáo trong dân tộc đa số cũng như thiểu số, tìm cách cho ra đời các “giáo hội độc lập”, các “tôn giáo ly khai” theo kiểu “Tin hành Đềga”, nhan; chỉ đạo trực tiếp từ nước ngoài, được các lực lượng phản động nước ngoài công khai cổ vũ, ủng hộ và chi viện
Các thế lực thù địch luôn luôn tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để kích dodong quần chúng lạc hậu vi phạm pháp luật, làm rối loạn trật tự xã hội, gây bạo loạn nhằm tạo cở để nước ngoài can thiệp
2.1.5 Kết quả thực hiện công tác tôn giáo,
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thị, chính sách về tôn giáo Năm 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo Ngày 2-7-1998,Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 về công tác tôn giáo trong tình hình mới Ngày 19-4-1999, chính phủ ban hành nghị định số 26 về các hoạt động tôn giáo
Gần đây nhất là Nghị quyết Trung ương 7 chỉ rõ: Thực hiện Nghị quyết của Đảng, công tác vận động đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc hưởng ứng tham gia phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ