Sau khi đoạn tuyệt với chú nghĩa duy tâm Heghen, Phơbách đã phê phán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết họcHeghen, ông quan niệm con người là sản phẩm của tự nhiên, có
Trang 1QUAN ĐIẾM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhaunhư sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Nghiên cứu về con người làmột vấn đề không mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tuỳ thuộc vàođặc điểm của mỗi ngành khoa học Con người cũng luôn là chủ đề trung tâm củalịch sử triết học từ cổ đại đến trung đại
Từ thời xa xưa cho đến thời đại ngày nay con người được xem là vị trítrung tâm và có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của xă hội Conngười được xem là chủ thể của lịch sử xã hội, con người làm ra lịch sử xă hội
Vì vậy con người phải được tôn trọng, được sổng tự do hạnh phúc và được pháttriển toàn diện Song ngày nay con người vẫn đang trong tình trạng bất công, đòihỏi xã hội phải quan tâm đến sự phát triển của con người
Con người cũng là mục tiêu cơ bản của sự phát triển xã hội Đẻ đảm bàocho xã hội phát triển vấn đề xây dựng con người giữ một vai trò hết sức quantrọng và luôn thường trực Đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhậpkinh tế quốc tế hiện nay, vai trò của con người ngày càng được khẳng định rõnét
Ở Việt Nam vấn đề con người cũng luôn là một vẩn đề thời đại và đangđược nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề xâydựng con người mới trong thời đại mới
Trang 2đề tài khoa học của xà hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm đượccác nhà nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, yhọc, triết học, xã hội học v.v Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến conngười và không ngừng nghiên cứu về nó Mồi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ýnghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người.
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫntrong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng.Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiêncứu khác nhau và do đó đă đưa ra những tư tưởng hướng giải quyết khác nhau
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học đều tự hỏi: Thực chấtcon người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâuthuẫn trong chính con người Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi conngười là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chấtcon người là bản chất vù trụ Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, làchúa tể của muôn loài, chỉ đứng sau thần linh Con nguời được chia làm haiphần là phần xác và phần hồn Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phầnhồn là do thượng đế sinh ra, quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linhhồn con người tồn tại mãi mãi Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằngphần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả, vàquá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện Càng ngày các nhà triếthọc tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục lý luận trướcđó
Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con ngườitrên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển Chủ nghĩa duyvật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ Họcchủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một mặt coi cái tôi và cảmgiác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, mặt khả cho ràng cái tôikhông có khả năng vượt quá cảm giác của mình nên về bản chất là nhò bé yếu
ớt, phụ thuộc đấng tới cao Các nhà triết học thuộc một mặt đề cao vai trò sángtạo của lý tính người, mặt khác coi con người, mặt khác coi con người là sảnphẩm của tự nhiên và hoàn cảnh
Các nhà triết học cổ điển Đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triển quanđiểm triêt học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm Đặc biệt Heghenquan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do
Trang 3đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần song Heghen cũng làngười đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần
mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân Đồngthời Heghen cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật
cơ bản của quá trình đó Sau khi đoạn tuyệt với chú nghĩa duy tâm Heghen, Phơbách đã phê phán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết họcHeghen, ông quan niệm con người là sản phẩm của tự nhiên, có bản năng tựnhiên, là con người sinh học trực quan, phụ thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sửdụng thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh mối liên hệ không thể chiacắt của tư duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người, songkhi giải thích con người trong mói liên hệ cộng đồng thì Phơ bách lại rơi vào lậptrường của chủ nghĩa duy tâm
Tóm lại, các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những các thức lý luậnxem xét người một cách trừu tượng Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phầnhồn thành con người trừu tượng Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trực quan thìtuyệt đổi hoá phần xác thành con người trừu tượng tuy nhiên họ vẫn còn nhiềuhạn chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người
Sau này chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế đó,đồng thời phát triển những quan niệm về con người đã có trong các học thuyếttriết học trước đây để đi tới quan niệm về con người thiện thực, con người thựctiễn cải tạo tự nhiên và xã hội với tư cách là con người hiện thực Con người vừa
là sản phẩm của tự nhiên và xã hội đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên
1.2 Những quan điểm cơ bản của Triết học Mác – Lênin về con người
a) Con người vừa là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Theo quan điểm duy vật lịch sử sự tồn tại và phát triển của con người luônluôn chịu sự chi phối tác động bởi 3 loại qui luật sau: các qui luật sinh học, cácqui luật tâm lý ý thức, các qui luật XH Trong tác phẩm những luận cương vềPhơbách, C.Mác đưa ra luận cương VI khẳng định về bản chất con người năm
1845 Nói tới bản chất con người phải dựa trên một nền tảng sinh học xác định,
đó là cơ thể sống, con người hiện thực Bản chất con người không phải là cái bấtbiến mà nó luôn được phát triển theo sự tiến bộ của lịch sử vì vậy mồi thời đạilịch sử khác nhau sẽ có những kiểu mẫu người khác nhau Sự đóng góp mới củatriết học Mác về vấn đề con người là xem xét con người mang tính lịch sử cụthể; khẳng định bản chất con người là do các quan hệ xã hội quyết định Conngười là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật Dovậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con người Để tồntại với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uổng Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng co người trước hết phải ăn, mặc ở rồimới làm chính trị
Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tính sinh học của con người thì khôngthể giải thích được bản chất của con người Mác và Ăngghen nhiều lần khẳng
Trang 4định lại quan điểm của những nhà triết học đi trước rằng con người là một bộphận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, nhưng khác với họ, Mác vàĂnghen xem xét mặt tự nhiên của con người, như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích Không còn hoàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá Mácviết: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cánhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoàcủa những mối quan hệ xã hội” con người là sự kết họp giữa mặt tự nhiên vàmặt xã hội nên Mác nhiều lần đă so sánh con người với con vật, so sánh conngười với những con vật có ban năng gần gióng với con người Và để tìm ra
sự khác biệt đó Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chi có con ngườilàm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theo quy luật của
tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sảnxuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuấtđược xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tó sinh học
và yếu tố xă hội
Tiền đề vật chất đầu tiến quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.Cùng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tínhsinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiênquy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là “thân thể
vô cơ của con người” con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quátrình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tốduy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa conngười với thế giới loài vật là phương diện xã hội cua nó Trong lịch sử đã cónhững quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người làđộng vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hoặc conngười động vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chĩ vì nhấnmạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêulên được nguồn gốc của bản chất xã hội ây
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề conngười một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, màtrước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất “Có thể phân biệt con ngườivới súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bàng bất cứ cái gì cũng được.Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con ngườibắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổchức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt củamình, như thế con người đà gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất củamình
Trang 5Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cảibiến giới tự nhiên: “Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì táisản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xă hội của conngười Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vậtchất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ
và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hìnhthành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhântrong cộng đồng xã hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triểncủa con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau,nhưng thổng nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sựphù họp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị,tiến hóa quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luậttâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người nhưhình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hộiquy định quan hệ xã hội giữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoànchỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mốiquan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học
và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu táisản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hường thụ các giá trịtinh thần
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loàivật Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang giá trị văn minh conngười, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhucầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội
b) Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.
Sự tổng hòa các quan hệ XH là trong cuộc sống hiện thực thông qua cácquan hệ XH cụ thể như quan hệ với gia đình với anh em, bè bạn, tập thể, giaicấp, cộng đồng XH, các quan hệ này tác động vào bản thân mồi con người theonhững chiều hướng khác nhau, ở những mức độ khác nhau từ đó mà định hìnhphát triển nhân cách mỗi con người
Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ
xã hội” Mác hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm
Trang 6sinh học của con người, ông chỉ đối lập luận điểm coi con người đơn thuần nhưmột phần của giới tự nhiên còn bở qua, không nói gì đến mặt xã hội của conngười Khi xác định bản chất của con người trước hết Mác nêu bật cái chung, cáikhông thể thiếu và có tính chất quyết định làm cho con người trở thành một conngười Sau, thì khi nói đến “Sự định hướng hợp lý về mặt sinh học” Lênin cũngchỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thường xuyên tác động và ảnh hưởng to lớn đối vớibản chất và sự phát triển của con người Chính Lênin cũng đã không tán thànhquan điểm cho ràng mọi người đều ngang nhau về mặt sinh học Ông viết “thựchiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng con người thì đó là một điều nguxuẩn Nói tới bình đẳng thì đó luôn luôn là sự bình đẳng xă hội, bình đẳng vềđịa vị chỉ không phải là sự bình đẳng về thể lực và trí lực của cá nhân”.
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, co ngườivượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tựnhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mổiquan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữangười với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác vàmọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lênluận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phơ bách: “Bản chất con ngườikhông phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát lymọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định,sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trongđiều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra nhữnggiá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ.Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thờiđại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con ngườimới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa
là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tựnhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện nhữngnhu cầu sinh vật ở con người cũng đà mang tính xă hội Quan niệm bản chất conngười là tổng hoà những quan hệ xă hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúngđắn, tránh khởi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người
c) Con người là chủ thể và là sản phẩm lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài củagiới hữu sinh
Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch
sử - xã hội C.Mác đà khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng
Trang 7con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấyquên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáodục cũng cần phải được giáo dục” Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên,Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sửnguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng tháihiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trongchừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra màchúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con ngườicàng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lạicàng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”.
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triểncủa lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên.Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phúthêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử củamình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người Hoạt động lao độngsản xuất vừa là điều kiệncho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộmặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông quahoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phùhọp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Không có hoạt động của conngười thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại củatoàn bộ lịch sử xã hội loài người
Khẳng định bản chất xã hội của con người và vị thế chủ thể sáng tạo lịch
sử của con người, C Mác còn đi đến quan niệm rằng, trình độ giải phóng xã hộiluôn được thể hiện ra ở sự tự do của xã hội; giải phóng cá nhân tạo ra động lựccho sự giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điềukiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân; con người tự giải phóng mình và qua
đó, giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội Rằng, con người được giải phóng
và được tự do phát triển toàn diện - đó là một trong những đặc trưng cơ bản củachế độ xã hội mới, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà giai cấp vô sản - giai cấpcông nhân hiện đại và các chính đảng của nó có sứ mệnh phải xây dựng
Với cách đặt vấn đề như vậy, C Mác đã coi giải phóng con người, pháttriển con người toàn diện, “phát triển sự phong phú của bản chất con người” là
“mục đích tự thân” của sự phát triển và tiến bộ xã hội Giải phóng con người,phát triển con người toàn diện cùng với phát triển lực lượng sản xuất, phát triển
“nền sản xuất xã hội” vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống ngày một tốt đẹphơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và cho cả cộng đồng xã hội là
“phương hướng duy nhất” để không chỉ “làm tăng thêm nền sản xuất xã hội”,
mà còn để “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” và hơn nữa, còn là
Trang 8“một trong những biện pháp mạnh nhất” để cải biến xã hội hiện tồn, đưa cả cộngđồng nhân loại đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thế trong mỗi giaiđoạn phát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất con người, trong mốiquan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thayđổi cho phù họp Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà
là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Mặc dù là “tổnghoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với
tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chất con người cũng vận độngbiến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử
sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khóp) với sự vận động và biến đổicủa bản chất con người
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phảilàm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính
là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynhhướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩađịnh hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cáchtích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạtđộng thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chấttrí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt độngvật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trongbất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
d) Triết học Mác – Lênin là triết học vì con người
Ngay từ năm 1835, trong những suy tư của một chàng trai trong việc lựachọn nghề nghiệp, C.Mác đă viết: “kim chỉ nam chủ yếu phải định hướng chochúng ta trong việc lựa chọn nghề nghiệp là phúc lợi của loài người, là sự hoànthiện của chúng ta; kinh nghiệm ca ngợi những ai đem lại hạnh phúc cho một sốlượng người nhiều nhất là người hạnh phúc nhất; bản thân tôn giáo dạy chúng tarằng cái lý tưởng mà mọi người hướng tới đã hi sinh bản thân mình cho nhânloại, vậy ai dám bác bỏ những lời dạy bảo đó?”
Khi viết tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thểhiện tư tưởng cơ bản và chủ đạo của tuyên ngôn là “vĩnh viễn giải phóng quan
hệ xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức” Song, “xã hội không thể nào giải phóngcho mình được, nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt”
Như vậy cốt lối của Mác - Lênin nói chung, của triết học về con ngườitrong triết học Mác - Lênin nói riêng là vấn đề giải phóng con người, từ giảiphóng con người cụ thể tiến đến giải phóng nhân loại Toàn bộ các nội dung trảlời của câu hỏi như: Con người là gì? Nguồn gốc của con người? Bản chất conngười? đều nhằm mục đích hiểu đối tượng giải phóng để xác định đúng đắnnhững vấn đề liên quan đến vấn đề giải phóng
Trang 9Triết học Mác - Lênin không phải là triết học đầu tiên đề cập đến vấn đềgiải phóng con người Lịch sử đã ghi nhận nhiều học thuyết, nhiều quan điểm vềgiải phóng con người, song do điều kiện lịch sử, do sự ràng buộc về giai cấp, docách hiểu về con người, nguồn gốc và bản chất của con người khác nhau nên xácđịnh giải phóng con người là giải phóng đối tượng nào? Giải phóng bằng cáchnào? Giải phóng như thế nào cũng rất khác nhau.
Các học thuyết triết học duy tâm và quan niệm tôn giáo, quan niệm giảiphóng con người là giải thoát về mặt tâm linh để con người có thể đạt được cuộcsống cực lạc vĩnh cửu ở kiếp sau trong một thế giới khác ngoài thế giới tự nhiên.Với quan niệm như vậy thì không thể đem lại sự giải phóng con người một cáchhiện thực, mà chỉ giải phóng hư ảo - “thuốc phiện của nhân dân” Các nhà duyvật trước Mác hoặc không thấy được tính xã hội của con người, không thấy cácquan hệ xã hội của con người, hoặc nhận thức về con người trừu tượng nên vẫnxem những biểu hiện của bản chất con người trong cuộc sống hiện thực như bảntính tự nhiên vốn có, bất biến của con người Không hiểu đúng bản chất của conngười thì không thể xác định đúng những nội dung trong quá trình giải phóng vàtất yếu không thể thực hiện được quá trình giải phóng
Lịch sử cũng ghi nhận giai cấp tư sản phương Tây đã thực hiện các cuộcgiai phóng con người do bản chất của chủ nghĩa tư bản do mục đích của phươngthức sản xuất của tư bản chủ nghĩa nên đồng thời với việc giải phóng con ngườikhởi những ràng buộc của xã hội chủ phong kiến, giai cấp tư sản đã trói chặt conngười bàng rằng buộc khác nghiệt ngã hon: rằng buộc kinh tế, phân hoá xã hộithành hai đối cực là nhà tư bản bóc lột và người lao động bị bóc lột Đến nayngay cả khi đời sống của người lao động đă được cải thiện nhưng sự đối cực đấyvẫn không mất đi mà chỉ tăng lên dưới nhiều hình thức biểuhiện khác
Triết học Mác - Lẽnin xác định “bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ởchỗ là nó trả thế giới con người, những quan hệ của bản thân con người về vớicon người”, là giải phóng người lao động thoát khỏi lao động bị tha hoá
Trong các tác phẩm của mình C.Mác đă chỉ rồ những biểu hiện của laođộng bị tha hoá, nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá, trên cơ sở đó, C.Mác cũng đăxác định phương hướng và các lực lượng có thể thực hiện sự nghiệp giải phóngcon người thoát khỏi sự tha hoá và tiến tới một xã hội mà “sự phát triển tự docủa mồi người là điều kiện để phát triển tự do của tất cả mọi người”
Theo C.Mác: Lao động bị tha hoá là lao động làm người lao động đánhmất mình trong “hoạt động người” nhưng lại tìm thấy mình trong “hoạt độngvật” Lao động là hoạt động người nhưng ở lao động tha hoá nó đã là “một cái gì
đó bên ngoài” người lao động Người lao động thực hiện hoạt động lao độngkhông phải là thoả mãn nhu cầu lao động mà chỉ vì sự sinh tồn của thể xác Đó
là lao động cường bức Điều này tất yếu dẫn đến việc người lao động cảm thấymình hành động tự do trong khi thực hiện chức năng động vật như ăn uống, sinh
đẻ con cái; còn trong những chức năng của con người thì người lao động cảmthấy mình chỉ là con vật Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con
Trang 10người, còn cái có tính người lại biến thành cái vốn có của xúc vật “Tính bị thahoá của lao động biểu hiện rõ rệt ở chỗ một khi không còn sự cưỡng bức laođộng về thể xác hoặc về mặt khác thì người ta trốn tránh lao động như trốn tránhdịch hạch vậy”.Lao động bị tha hoá là lao động làm đảo lộn các quan hệ củangười lao động.
Trong lao động, người lao động thực hiện với tư liệu sản xuất là thực hiệnquan hệ với đồ vật Song vì hoàn toàn phụ thuộc vào tư liệu sản xuất nên khôngphải con người sử dụng tư liệu sản xuất mà tư liệu sản xuất sử dụng con người
Mặt khác, chỉ vì phải có sản phẩm để nhận thù lao mà người lao độngphải lao động nên con người đã bị sản phẩm của chính mình nô dịch; người laođộng tạo ra sản phẩm nhưng sản phẩm không phải của người lao động mà củangười chủ nên nó trở nên xa lạ với người tạo ra nó
Như vậy, quan hệ giữa con người với đồ vật (trực tiếp là quan hệ giữa tưliệu sản xuất với sản phẩm của quá trình sản xuất) đã trở thành quan hệ giữa conngười và người thống trị xa lạ
Cùng với quá trình trên là người lao động phải thực hiện quan hệ vớingười chủ Đây là quan hệ giữa người với người Song, người lao động quan hệvới người chủ qua số sản phẩm của người chủ thu được và số tiền thù lao màngười lao động được trả Cho nên, về bản chất quan hệ giữa người với người đãtrở nên quan hệ giữa người với đồ vật Lao động bị tha hoá là lao động làm chongười lao động bị phát triển què quặt
Đây là hệ qủa của sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sửdụng thành tựu của nó chỉ vì lợi nhuận Với mục đích sản xuất vì lợi nhuận nênkhoa học, công nghệ càng phát triển mạnh thì máy móc thay thế con người laođộng ngày càng nhiều, chuyên môn hoá lao động càng sâu, số người bị máy mócthay thế càng lớn, những lao động còn lại bước vào qua trình lao động thuần tuýthực hiện thao tác mà dây chuyền lao động sản xuất đã quy định Vì vậy, nềnsản xuất máy móc vì lợi nhuận đã “ném một bộ phận công nhân về với lao độnggiã man và biến bộ phận công nhân thành những cái máy”
C Mác cho rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tha hoá là chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế
độ tư bản về chể độ sản xuất đã tập trung những tư liệu sản xuất cơ bản của chủnghĩa xã hội vào tay một số nhà tư bản, một số tập đoàn tư bản làm tuyệt đại đa
số người lao động trở thành vô sản Nhu cầu sinh tồn đã buộc những con ngườikhông có tư liệu sản xuất tự nguyện một cách cưỡng bức đến với các nhà tư sản
và họ làm thêm cho nhà tư bản Và do quá trình người bóc lột người, quá trìnhlao động bị tha hoá đã diễn ra
Đối với phương thức và lực lượng giải phóng con người, triết học Mác Lênin đã khẳng định:
Trang 11-Giải phóng con người là xóa bỏ người bóc lột người, xóa bỏ tha hoá đểcon người trở về với chính mình Song “con người bẩm sinh đã có tính xã hội thì
do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xãhội” Việc giải phóng xã hộ loài người phải được thực hiện trong xã hội loàingười
Nguyên nhân sản sinh ra tha hoá là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên
“xoá bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng định sinh họccủa con người là sự xoá bỏ một cách tích cực sự tha hoá” Điều đó cũng cónghĩa là lực lượng thực hiện chính là những người tước đoạt tư liệu sản xuất -những người vô sản Sức mạnh giải phóng dân tộc của họ không phải là sứcmạnh của những cá nhân đơn độc mà như C.Mác đã chỉ rõ, chỉ khi nào họ nhậnthức được và tổ chức được “những lực lượng của bản thân” thành những lựclượng xã hội - cũng chính là thành lực lượng chính trị - thì giải phóng con ngườimới được thực hiện Giải phóng xã hội, sở hữu tư nhân, khỏi sự nô dịch trởthành hình thức chính trị của sự giải phóng giai cấp vô sản, song ở đây khôngchỉ giải phóng cho họ vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng của toànthể nhân loại
Lênin đã nhận định: Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nólàm sánh rõ vai trò của lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, là người thực hiện sứmệnh giải phóng con người
II VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Quan điểm của Đảng về nhân tố con người
Do nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề con người đặcbiệt là vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay Đảng ta đã và đang xây dựng và phát triển đất nước toàn diện vềnhiều mặt đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiều chiếnlược con người: Cần đào tạo con người một cách có chiều sâu lấy tư tương vàchủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cũng như trên thế giới ở nước ta chiến lượccon người nó có một ý nghĩa hết sức quan trọng và để phát triển đúng hướngchiến lược đó cần có một chính sách phát triển con người, không để con người
đi lệch tư tưởng
Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa loài ngườitới một kỷ nguyên mới, mở ra nhiều khả năng để tìm ra những con đường tối ưu
đi tới tương lai con đường khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con ngườitrong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Trong đời sống xã hộithực tiễn cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về conngười tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII đề ranghị quyết và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàndiện với tư cách là "Động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời làmục tiêu của chủ nghĩa xã hội" Đó là "con người phát triển cao về trí tuệ, cường
Trang 12tráng về thể chất phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức" Nghị quyết đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định "Nâng cao dân trí,bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tốquyết định thắng lợi cuả công cuộc đổi mới đất nước" Thực tiễn đã chứng tỏ xãhội ta hiện nay tình trạng mất hài hoà về mặt bản thể của mỗi cá nhân là chủyếu, là tất cả bản thể cá nhân phát triển toàn diện và hài hoà về đạo đức, trí tuệ,thể lực là mục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội nhưng mục tiêu
cơ bản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyếtđịnh lịch sử xã hội và lịch sử của chính mình
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ hướng đi đúng cho con đường đi lên
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh,chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã làm nên thắng lợi cách mạng giảiphòng dân tộc (1945), thống nhất đất nước (1975) thực hiện ý chí độc lập tự docon người việt Nam điều mà bao nhiêu học thuyết trước Mác không thể áp dụngđược, chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm thay đổi, trở thành hệ tư tưởng chínhthống của toàn xã hội, thay đổi nhanh chóng đời sống tinh thần đại đa số nhândân Việt Nam Thực tiễn hoạt động cách mạng xã hội chủ nghĩa vừa nhanhchóng nâng cao trình độ nhận thức toàn diện Bằng hệ thống giáo dục với cáchình thức đào tạo đa dạng, với các hình thức khoa học thấm nhuần tinh thần cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành kế tiếp nhau những lớp người laođộng mới ngày càng có tư tưởng, trình độ chung, chuyên môn cao ngày naychúng ta đã có một đội ngũ cán bộ văn hoá khoa học công nghệ với trình độ lýluận và quản lý tốt đồng đều trong cả nước
Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ đạtnhững thành tựu vượt bậc, thì sự phát triển con người không chỉ là sản phẩm của
hệ tư tưởng Mác xít vì ngay khi chủ nghĩa Mác mà các trị của các tư tưởng cáctôn giáo, các hệ tư tưởng và văn hoá bản địa đã có sức sống riêng của nó Chủnghĩa Mác - Lênin thâm nhập, nó như một hệ tư tưởng khoa học vượt hẳn lên cáinền văn hoá bản địa, nhưng nó cũng chịu sự chi phối tác động đan xen của cácyếu tố sai - đúng, yếu - mạnh, mới - cũ, v.v Các yếu tố tích cực đã thúc đẩy,còn các yếu tố tiêu cực thì kìm hãm sự phát triển con người
Do đó, Đảng ta cũng đã có những đổi mới rõ rệt, sự phát triển hànghoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo sự phântầng xã hội, việc mở rộng dân chủ đối thoại trong sinh hoạt chính trị của đấtnước, việc mở cửa và phát triển giao lưu quốc tế về các mặt kinh tế, văn hoá vàchính trị, trên thế giớ Sự biến đổi nhanh chóng của tình hình chính trị quốc tế,
sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ… Điều đó đòihỏi chúng ta phải biết vận dụng chủ nghĩa Mác một cách khoa học, hợp lý vàsáng tạo để đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội mới nếu muốn tồn tại vàvươn lên một tầm cao mới
Trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng