Nhưng do những hạn chế về thế giới quan và phương phápluận trong việc nghiên cứu tâm lý người nên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXtâm lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng trên con đường x
Trang 1MỞ ĐẦU
Năm 1879, Tâm lý học ra đời ở Đức với tư cách là một khoa học độc lậpgắn liền với vai trò của W.Wundt khi ông tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lýđầu tiên trên thế giới Nhưng do những hạn chế về thế giới quan và phương phápluận trong việc nghiên cứu tâm lý người nên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXtâm lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng trên con đường xây dựng tâm lý họctrở thành một khoa học thực sự khách quan phục vụ cho cuộc sống của conngười Trong hoàn cảnh đó, một loạt các trường phái tâm lý học khách quan rađời như: Tâm lý học Gestalt; Tâm lý học hành vi; Phân tâm học… với nguyệnvọng chung là đưa tâm lý học thế giới thoát khỏi cuộc khủng hoảng đó Tuynhiên, các trường phái tâm lý học đó đều không dựa trên một cơ sở lý luận vàphương pháp luận đúng đắn nên không có cách nhìn biện chứng về con người,
về hoạt động của con người và về ý thức con người, từ đó dẫn đến quan niệmkhông đúng về đối tượng và sử dụng các phương pháp nghiên cứu theo tư duysiêu hình, cơ học Do đó, các trường phái này cũng không đảm nhiệm được sứmệnh đưa tâm lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng, trở thành một khoa học thực
sự khách quan, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Từ hoàncảnh lịch sử đó, nhu cầu xây dựng lại tâm lý học từ cơ sở nền tảng của nó là mộtđòi hỏi tất yếu Chính từ tình hình đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của Tâm lýhọc Mác xít - nền tâm lý học dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củatriết học Mác Trong đó học thuyết Mác về con người, về hoạt động của conngười và về ý thức được coi là ba tiền đề tư tưởng quan trọng nhất để xây dựngnền tâm lý học Mác xít Việc nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề này có giá trị to lớn
cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ tính khách quan, khoa học, chiềuhướng phát triển của tâm lý học Mác xít; là cơ sở vận dụng, xây dựng và pháttriển nền tâm lý học Việt Nam nói chung, nền tâm lý học quân sự nói riêng
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn chủ đề tiểu luận: “Những tiền
đề tư tưởng của Triết học Mác - nền tảng xây dựng Tâm lý học mác xít Vận dụng trong xây dựng và phát triển nền tâm lý học ở Việt Nam hiện nay”.
Trang 2lý học này cũng đã đi vào bế tắc Từ đó xuất hiện nhiều dòng phái tâm lý họcchống lại tâm lý học nội quan của Wundt và đề xuất những con đường phát triểnmới cho tâm lý học Tiêu biểu phải kể đến các trường phái tâm lý học kháchquan như: tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, phân tâm học Những thànhtựu mà các trường phái tâm lý học này đạt được đã để lại dấu ấn to lớn tronglịch sử phát triển của khoa học tâm lý.
1 Tâm lý học hành vi
Tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mĩ từ một bài báo có tính
chất cương lĩnh do J.Watson (1878-1958) viết với tiêu đề “Tâm lý học từ những quan điểm của nhà hành vi” Tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến
việc mô tả giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành
vi của tồn tại người Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi Hành vi đượcxem như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trườngbên ngoài Quan sát cũng như giải thích hành vi đều phải tuân theo công thức S -
R (Stimulant: Kích thích; Reaction: Phản ứng) Điều đó có nghĩa là bất kỳ mộthành vi nào của người và động vật đều có thể quan sát, nghiên cứu, phân tíchmột cách khách quan Có thể nhận thấy, công thức S - R của tâm lý học hành vi
cổ điển do J.Watson đưa ra rõ ràng có một khiếm khuyết bởi có thể cùng mộtkích thích S như nhau nhưng lại có thể thu về các R khác nhau ở các con ngườihoặc ở cùng một con người trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau Điều
Trang 3này liên quan đến yếu tố thuộc về chủ thể phản ứng Vì vậy, dẫn đến sự phânhóa của dòng phái tâm lý học này Những nhà tâm lý học chủ trương đưa vàocông thức cổ điển S - R một biến số trung gian gọi là những nhà hành vi mới màtiêu biểu là C.Hall (1884-1952), E.Tolman (1886-1959), E.Garơđi (1886-1959).Nổi bật trong các tác giả của thuyết hành vi mới là E.Tolman E.Tolman và cáccộng sự của ông đã đưa vào giữa S và R yếu tố trung gian liên quan đến điềukiện môi trường Khi kích thích S tác động đến cơ thể thì điều kiện môi trường
ra sao Đồng thời, tại thời điểm kích thích S phát huy tác dụng thì trạng thái, nhucầu cơ thể diễn ra như thế nào? Tuy nhiên, việc bổ sung này của E.Tolman vànhững cộng sự của ông đã không thay đổi và khắc phục được thiếu sót căn bảncủa tâm lý học hành vi là loại bỏ ý thức, xem hành vi với tư cách là tổng cácphản ứng của cơ thể trước các kích thích bên ngoài là đối tượng nghiên cứu củatâm lý học Trong những người kế tục những quan điểm tư tưởng của thuyếthành vi do J.Watson đề xướng từ những năm 1913 một cách trung thành nhất,phải kể đến B.F.Skinner Skinner công khai chủ trương tuân thủ nghiêm ngặt cácnguyên lý của thuyết hành vi cổ điển đồng thời gia công, phát triển thêm tạo nênchủ nghĩa hành vi bảo thủ, đặc biệt phải kể đến các luận điểm về hành vi xã hội
và tạo tác của ông
Như vậy, luận điểm cơ bản của thuyết hành vi coi con người chỉ là cơ thểriêng lẻ chỉ có khả năng phản ứng Vì vậy, cơ thể này hoàn toàn phụ thuộc vàocác kích thích tác động vào cơ thể Mục đích của con người chỉ còn lại là làmsao sống còn được, mà muốn vậy thì chỉ cần thụ động thích nghi với môi trườngxung quanh Vấn đề hình thành và phát triển hành vi trong lý thuyết này chỉ còn
là vấn đề tạo ra một hệ thống kích thích để tạo ra các phản ứng theo ý muốn củamột ai đó Đó là một hình thái hành vi thấp kém Điều đó chứng tỏ rằng trong lýthuyết này không còn phạm trù hành vi nữa chỉ còn lại phạm trù phản ứng Conngười trong thuyết hành vi là con người không có ý thức, chỉ như một cái máy.Đây là quan điểm tự nhiên chủ nghĩa, quan điểm thực dụng, phi lịch sử về conngười Vì vậy, toàn bộ sự phấn đấu của J Watson và những người kế nghiệp ông
Trang 4đã không hoàn thành sứ mệnh lịch sử, không làm được cuộc cách mạng vứt bỏxiềng gông của tâm lý học truyền thống Nhiều lắm là họ mới chỉ làm được mộtcuộc khởi nghĩa mở đầu cuộc đấu tranh mãnh liệt vì một nền tâm lý học kháchquan Đó là sự đóng góp to lớn của các nhà nhà vi Mỹ vào sự nghiệp xây dựngtâm lý học.
2 Tâm lý học Gestalt
Tâm lý học Gestalt ra đời vào năm 1913, thời kỳ khủng hoảng của tâm lýhọc thế giới, do các nhà tâm lý học cấu trúc người Đức là M Wertheimer (1880-1943), V.Kohler ( 1887-1967), K Koffka (1886-1941) lập ra Đây là một trườngphái chuyên nghiên cứu về tri giác, ít nhiều nghiên cứu về tư duy con ngườinhằm chống lại tâm lý học nội quan, đồng thời chống lại cả tâm lý học liêntưởng, tham vọng xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo kiểu mẫu củavật lý học Tâm lý học Gestalt phát triển chủ yếu trong những năm 20 của thế kỷ
XX, hiện nay nó không còn tồn tại là một trường phái độc lập, có quan điểm,phương pháp luận và hệ phương pháp nghiên cứu riêng Tuy vậy tâm lý họcGestalt đã có những đóng góp tích cực, có vị trí nhất định trong việc phát hiện
và xây dựng nền tâm lý học khách quan Các qui luật mà các nhà Gestalt tìm rahiện nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Sựxuất hiện của tâm lý học Gestalt đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của khoa họctâm lý học: phải trở thành một khoa học khách quan thực sự Trường pháiGestalt cũng để lại nhiều hiện tượng khoa học và một số qui luật cho đến nayvẫn được nhắc tới và được vận dụng trong thực tiễn cuộc sống, nhất là trong lĩnhvực hội hoạ, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh, thời trang
3 Phân tâm học
Phân tâm học là một dòng phái tâm lý học đi sâu vào nghiên cứu hiệntượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lýngười, là đối tượng thực sự của tâm lý học Người sáng lập ra Phân tâm học lànhà tâm lý học, bác sỹ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái S.Freud(1856-1939) Học thuyết phân tâm của Freud được xây dựng trên khái niệm vô
Trang 5thức Freud quan niệm, tất cả các hiện tượng tâm thần người về bản chất là hiệntượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý con người.Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quancủa những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luậtkhác hẳn với ý thức Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục có một vị tríđặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống tâm lý con người Đam mê tính dụctạo ra nguồn năng lực cực kỳ mạnh mẽ gọi là libiđô, đó là cội nguồn của mọi cộinguồn tinh thần, là nguyên nhân của mọi bệnh tâm thần cũng như các khả nănglao động sáng tạo ở con người Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sốngtâm lý người được S.Freud làm rõ trong các công trình nghiên cứu về bệnhHystêri, về giấc mơ và về lý thuyết tính dục cũng như về nhiều vấn đề kháctrong các nghiên cứu cụ thể của ông Trên cơ sở của chữa trị bệnh Hystêri, phântích lý giải các giấc mơ Freud đã đi đến xác định bộ máy tâm thần con ngườibao gồm: cái nó, cái tôi và cái siêu tôi Trên cơ sở đó, ông xây dựng lý thuyếttổng quát về các chứng nhiễu tâm và đề xuất phương pháp trị liệu bệnh tâm thầnbằng “tự do liên tưởng” nhằm “giải toả tâm lý” Có thể thấy rằng, do quá nhấnmạnh đến mặt vô thức trong con người, Freud đã không thấy được mặt bản chất
ý thức của con người, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của các hiệntượng tâm lý người Luận điểm, động lực của mọi hoạt động tâm lý người là cái
vô thức gắn liền với các đam mê tính dục là một luận điểm không đúng Quanniệm về con người và nhân cách con người trong phân tâm học Freud cũng bộc
lộ những khía cạnh không đúng đắn Con người trong học thuyết phân tâm làcon người cơ thể, con người sinh vật bị phân ly ra nhiều mảng, con người vớinhững mong muốn chủ yếu là thoả mãn các đam mê tính dục, con người đối lậpvới xã hội
Do những quan niệm sai lầm như ở trên, một số học giả kế tục Freud đã
cố gắng tìm cách khắc phục các hạn chế của phân tâm học, mong muốn xâydựng một phân tâm học mới Đó là một trào lưu triết học và tâm lý học tư sảnhiện đại xuất hiện vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX do các đồ đệ của Freud
Trang 6thực hiện như Jung (1897-1961) - người có công phát triển học thuyết Freud,người tuyên truyền phổ biến Freud; Adler (1870-1937); K.Horney và người nổibật trong số này là Erich Fromm (1900-1980) nhằm khắc phục một số hạn chếcủa phân tâm học của Freud Họ định đem những yếu tố xã hội cộng một cáchmáy móc với các yếu tố bản năng để lý giải thế giới tinh thần, tâm lý của conngười Nhưng trong phép cộng máy móc ấy, các yếu tố bản năng vẫn giữ vai tròchủ đạo Do đó, họ không vượt qua được giới hạn, bế tắc của tâm lý học Freud.Như vậy, mặc dù còn có những hạn chế nhất định song sự xuất hiện của phântâm học một cách khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển Những thành tựu
mà Freud mang đến cho khoa học loài người nói chung, tâm lý học nói riêng làmột khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà chođến nay trên lĩnh vực này chưa có ai vượt qua được Freud
Có thể nói, các trường phái tâm lý học khách quan đã có đóng góp không
nhỏ trong việc tìm kiếm con đường phát triển mới cho tâm lý học Những nộidung cơ bản trong tâm lý học khách quan đã trở thành phương hướng chỉ đạocho sự phát triển của khoa học tâm lý và có ảnh hưởng nhất định tới các ngànhkhoa học khác khi nghiên cứu về con người Những thành tựu mà các trườngphái này đạt được có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của khoa họctâm lý Tuy nhiên, do điều kiện xã hội lịch sử, do thiếu những cơ sở lý luận vàphương pháp luận đúng đắn, các dòng phái tâm lý học này còn có những hạnchế nhất định, không thực hiện được cuộc cách mạng để đưa tâm lý học trởthành một khoa học thực sự khách quan, đúng như GS, VS Phạm Minh Hạc đã
viết trong tác phẩm “Hành vi và hoạt động”: “Tâm lý học phân tâm mới bước lên đường xây dựng tâm lý học khách quan, nhưng với các quan điểm cơ bản về con người và tâm lý người còn chưa thoát khỏi phạm vi của thuyết sinh vật hóa con người và tâm lý người, chưa thấy được bản chất xã hội - lịch sử của con người và tâm lý người Cho nên tâm lý học phân tâm, cũng như tâm lý học hành
vi và tâm lý học Gestalt đều không đạt tới đích thực sự nghiên cứu thế giới tâm
lý trong cuộc sống thực của con người” Các trường phái tâm lý học khách quan
Trang 7đã coi con người như một cơ thể cá thể, chỉ có khả năng phản ứng thụ động vàhoàn toàn phụ thuộc vào kích thích tác động, họ phủ nhận vai trò của ý thức conngười, quá nhấn mạnh cái vô thức mà không thấy được vai trò của cái xã hộilịch sử Quan niệm về con người của tâm lý học hành vi và phân tâm học làphản khoa học, họ phủ nhận vai trò của ý thức, hạ con người xuống ngang hàngđộng vật… những hạn chế, thiếu sót trên đây đã làm cho các trường phái tâm lýhọc khách quan không thể đi xa hơn nữa mà nhanh chóng đi đến tan rã Chính vìvậy đã dẫn đến cuộc khủng hoảng lần thứ hai trong tâm lý học thế giới hay còngọi là cuộc khủng hoảng của tâm học tư sản hiện đại mà thực chất là sự bế tắctrong việc xác định phương hướng cho sự phát triển tâm lý học cụ thể là là bếtắc trong việc xác định cơ sở phương pháp luận, phương pháp tiếp cận để nghiêncứu tâm lý và quan niệm về bản chất tâm lý cũng như đối tượng nghiên cứu củatâm lý học Chính trong hoàn cảnh đó, tâm lý học Xô Viết hay còn gọi là nềntâm lý học Mác-xít ra đời mà người đặt nền móng cho sự ra đời của nó này làLép Xêminôvich Vưgốtxki Tâm lý học mác xít ra đời dựa trên cơ sở vững chắc
là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, về hoạt động và về ý thức củacon người
II NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC - NỀN TẢNG XÂY DỰNG TÂM LÝ HỌC MÁCXÍT
1 Tính tất yếu ra đời của nền tâm lý học mác-xít.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tâm lý học rơi vào tình trạng bế tắc,không đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Từ hoàn cảnh lịch
sử đó, nhu cầu xây dựng một nền tâm lý học thực sự khách quan khoa học làmột đòi hỏi tất yếu Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) thời kỳ này nhưK.N.Coocnhilôp, L.X Vưgôtxki, P.P Bơlônxki…nhận thấy các dòng phái tâm lýhọc trước đó có nhiều khiếm khuyết và đã cố gắng cải tổ nền Tâm lý học Liên
xô trên cơ sở triết học Mác - xít Năm 1920, trong tác phẩm “Cải cách khoahọc”, P.P.Blônxki đã viết: Tâm lý học phải hướng theo chủ nghĩa Mác Tiếp thuchiều hướng suy nghĩ đó, năm 1923, trong Báo cáo “Chủ nghĩa Mác và Tâm lý
Trang 8học” đọc tại hội nghị toàn quốc về Tâm lý học thần kinh, K.N.Coocnhilôp đưa
ra tuyên bố: Tâm lý học phải đoạn tuyệt với triết học nhị nguyên, phải đoạntuyệt với Tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa, phải từ bỏ khoa học tư biện, siêuhình Muốn trở thành một khoa học thực sự khách quan, tâm lý học phải là tâm
lý học Mác - xít Tư tưởng đó đã trở thành ngọn cờ tập hợp những nhà tâm lýhọc Liên Xô tập trung nghiên cứu xây dựng một nền Tâm lý học kiểu mới - nềntâm lý học Mác - xít
Sự ra đời của tâm lý học Mác xít là một tất yếu khách quan của lịch sử,gắn liền với tên tuổi của nhà tâm lý học người Nga L.X Vưgốtxki Năm 1925,
ông đã viết bài báo “Ý thức như một vấn đề của tâm lý học hành vi” trong đó,
ông đã phân tích sự khủng hoảng của tâm lý học và đưa ra khuyến cáo nhằm xâydựng một nền tâm lý học kiểu mới: tâm lý học theo chủ nghĩa Mác Đây đượccoi là cương lĩnh mở đầu xây dựng nền tâm lý học Mác xít Theo Vưgốtxki, tất
cả các dòng phái tâm lý học cũ, các dòng phái tâm lý học khách quan đều khôngthể dùng làm khởi điểm xây dựng nền tâm lý học kiểu mới nhằm giải quyết cuộckhủng hoảng trong tâm lý học Muốn xây dựng một nền tâm lý học kiểu mớithực sự khách quan khoa học thì phải bắt tay xây dựng lại từ những cơ sở nềntảng của nó Bằng các lập luận sắc sảo thuyết phục Vưgốtski đã đưa ra các nhậnxét, đánh giá và đề xuất cách tháo gỡ tình trạng khủng hoảng trong tâm lý họchiện thời, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nền tâm lý học thực sự
khách quan khoa học, trong đó: Nền tâm lý học mới phải nghiên cứu cả hành vi lẫn ý thức Nhưng cả hành vi lẫn ý thức đều là vấn đề vô cùng phức tạp Ý thức
và hành vi đều cùng tồn tại một cách khách quan có thực, đều có vai trò quan
trọng trong cuộc sống của con người Muốn hiểu được ý thức thì phải hiểu hành
vi và ngược lại khi xét đến hành vi, không thể không xét đến ý thức Với phạm
trù hành vi, không được hiểu như tâm lý học hành vi đã hiểu trong đó quan niệmhành vi là tổ hợp của các phản xạ, là phản ứng máy móc nhằm giúp cơ thể thíchnghi với môi trường Hành vi theo ông đó là “cuộc sống”, là “lao động”, là “thựctiễn” Hành vi chính là hoạt động thực tiễn của con người Cần phải nghiên cứu
Trang 9hành vi ở chỗ làm rõ cơ chế, thành phần và cấu trúc của nó Phạm trù phản xạ
là cần thiết nhưng không thể lấy phản xạ là khái niệm cơ bản của tâm lý học.Với con người, ông quan niệm không thể nghiên cứu hoàn toàn bằng chìakhoá phản xạ có điều kiện Tâm lý học không được loại bỏ ý thức trongnghiên cứu tâm lý mà cần phải vật chất hoá nó, không được coi ý thức là mộtloại hiện tượng thứ yếu Muốn nghiên cứu ý thức thì phải nghiên cứu cấu trúccủa hành vi “Ý thức là một vấn đề của cấu trúc hành vi” Hành vi của conngười khác hành vi của con vật ở chỗ trong hành vi của con người có sự kếthừa các kinh nghiệm: kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinhnghiệm đã được tăng cường Thông qua bài báo đã nêu trên và qua nhiềucông trình nghiên cứu khác Vưgốtxki xác định phương pháp nghiên cứu tâm
lý: Nghiên cứu tâm lý người bằng phương pháp hoạt động Tâm lý con người
được tồn tại thể hiện trong hoạt động
Đến năm 1934, X.L Rubinstêin (1889 -1960) viết tác phẩm “Những vấn
đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác” Tác phẩm này có ý nghĩa quan
trọng về mặt phương pháp luận và tạo tiền đề xây dựng nền tâm lý học mới đápứng nhu cầu lý luận và thực tiễn phát triển của nền Tâm lý học Liên Xô lúc đó.Ông viết: “Trong toàn tập của C.Mác không thấy có bài nào bàn về tâm lý học.Nhưng trong nhiều tác phẩm khác nhau của Ông, dường như là đồng thời trí tuệthiên tài ấy đã nêu ra một loạt những nhận định về các vấn đề tâm lý học khácnhau”(1) Trên cơ sở phân tích sâu sắc những ý kiến của C.Mác về các vấn đề tâm
lý học, các nhà tâm lý học Xô Viết nhận thấy nhiệm vụ hàng đầu trong khi cải tổtâm lý học là nhiệm vụ xây dựng cơ sở triết học mới cho khoa học tâm lý theolập trường Mác - xít Triết học Mác chính là cơ sở lý luận và phương pháp luận
để xây dựng một nền tâm lý học mới khách quan khoa học Trong đó nhữngquan điểm, tư tưởng của Học thuyết Mác về con người, về hoạt động của conngười, về ý thức con người được coi là ba tiền đề tư tưởng nền tảng quan trọngnhất để xây dựng nền tâm lý học Mác - xít
Trang 102 Học thuyết mác-xít về con người, hoạt động con người và ý thức con người.
a) Học thuyết mác-xít về bản chất con người là cơ sở nền tảng để tìm hiểu tâm lý con người.
Trước khi triết học Mác - Lênin ra đời, các trường phái triết học và tâm
lý học phi Mác xít đều quan niệm con người một cách chung chung, trìu tượng,phiến diện và siêu hình Có quan niệm cho rằng: con người là động vật bậc cao,quan niệm này đúng nhưng chưa đủ vì quan niệm này quá nhấn mạnh yếu tốsinh vật trong con người, mà xem nhẹ yếu tố xã hội của con người Có quanniệm khác cho rằng: con người gồm (phần con + phần người), quan niệm nàykhông đúng vì họ phân chia con người thành hai phần quá cứng nhắc và máymóc Một số quan điểm khác lại cho rằng: con người là những sinh vật xã hộihoặc con người là sinh vật bản năng…Các quan điểm trên đây tuy có nhữngkhía cạnh đúng nhưng đều có những hạn chế nhất định
Với quan điểm duy tâm, Platon và Hêghen quan niệm con người trongtâm linh, tâm hồn Theo Ông tâm hồn là cái có trước không phụ thuộc vào vậtchất nào cả, cơ thể chỉ là sự tồn tại của một dạng vật chất vô nghĩa, thụ động.Hồn nhập vào cơ thể và điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể Đó là những tưtưởng duy tâm về tâm lý người Khác với các Ông, PhơBach đứng trên lậptrường duy vật quan niệm về con người một cách chung chung, trừu tượng, conngười nhân bản sinh vật Khi nghiên cứu về tâm lý người, Freud đã đứng trênlập trường triết học của G.W.Leibnitz về trạng thái vô thức của các đơn tử và lậptrường triết học duy tâm của A.Schopenhauer, nên Ông quan niệm con ngườinhư động vật, mang tính bản năng cá thể, Ông không thấy được vai trò của ýthức trong con người Watson nhà tâm lý học hành vi, đứng trên lập trường củatriết học thực dụng của Pierce và triết học thực chứng của Auguste, để nghiêncứu tâm lý người, nên Ông đã đồng nhất hành vi của con người với hành vi củađộng vật, coi hành vi con người chỉ là chuỗi cử động đơn thuần của cơ thể…Tất
cả các quan niệm trên đây về con người đều chưa đúng, chưa đầy đủ Sở dĩ như
Trang 11vậy là do cơ sở lý luận mà trực tiếp là cơ sở triết học để các trường phái đó lấylàm tiền đề để xây dựng trường phái tâm lý học của mình không đúng, không đảmbảo tính khách quan, khoa học Các trường phái triết học và tâm lý học phi mácxít đều quan niệm về con người một cách trừu tượng, phiến diện và siêu hình
Chỉ đến khi triết học Mác ra đời mới cho chúng ta những hiểu biết sâusắc, chính xác và toàn diện về con người Học thuyết Mác xít về con người được
thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội Con người tồn tại trong xã hội, tồn tại trong lịch sử, con người
là sản phẩm của sự phát triển xã hội - lịch sử Các Mác viết: “Con người trực
tiếp là thực thể tự nhiên”(1), “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người…Con người sống dựa vào tự nhiên Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của conngười, để khỏi chết, con người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyênvới thân thể đó Sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần của con người liên hệkhăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệkhăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên
Con người vừa là thực thể tự nhiên, đồng thời lại là thực thể xã hội Conngười từ khi mới sinh ra, sự tồn tại của con người gắn với sự tồn tại của cả loàingười, sự tồn tại của xã hội, của lịch sử Sự phát triển của xã hội, những điềukiện thuận lợi của lịch sử đã đem đến những điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển của con người Trên ý nghĩa đó, chúng ta khẳng định con người là sảnphẩm của sự phát triển xã hội - lịch sử
Quan niệm con người được hiểu là những con người cụ thể, có thực Conngười là con người hoạt động gắn liền với những điều kiện sinh hoạt vật chất cụthể Đây là điều khác biệt căn bản giữa triết học duy vật lịch sử mác xít với các tràolưu triết học khác Các Mác viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi khôngphải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều Đó là những tiền đề hiệnthực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó là những cá nhânhiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ”
1 C.Mác, Bản thảo kinh tế - triết học năm1844, Nxb Sự thật, Hà nội, 1962, Tr 200.
Trang 12Học thuyết Mác xít về con người khẳng định con người gắn với tính tích cực hoạt động cải tạo hiện thực Con người khác động vật ở chỗ, động vật trực
tiếp đồng nhất nó với tự nhiên Động vật lệ thuộc vào tự nhiên, lệ thuộc vào hoàncảnh mà nó có mặt trong đó, động vật với tự nhiên là một và không có năng lực tự
tách mình ra khỏi tự nhiên để nhận thức tự nhiên Còn con người với tự nhiên là không đồng nhất Con người có năng lực tự tách mình ra khỏi tự nhiên để nhận
thức tự nhiên Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người là chủ thể tích cực cảitạo tự nhiên và quá trình đó cũng là quá trình con người cải tạo chính bản thânmình Các Mác đã viết: “Hoàn cảnh được biến đổi bởi chính con người”(1) “Conngười tác động vào tự nhiên bên ngoài và thay đổi tự nhiên, đồng thời cũng thayđổi bản tính của chính mình và phát triển những năng khiếu tiềm tàng trong bảnthân mình”(2) Còn khi phân tích về khía cạnh này, Ph.Ăngghen, trong Biện chứngcủa tự nhiên, viết: “Loài động vật chỉ lợi dụng tự nhiên bên ngoài và chỉ gây ranhững biến đổi trong tự nhiên đơn thuần bằng sự có mặt của chúng; còn conngười thì do đã tạo ra những biến đổi trong tự nhiên, và bắt tự nhiên phải phục vụcho những mục đích của mình và thống trị tự nhiên(3)
b) Học thuyết mác-xít về hoạt động của con người đã đặt nền móng khoa học cho tâm lý học.
Tất cả các trường phái triết học trước Mác, cả triết học duy tâm và triếthọc duy vật đều mắc sai lầm ở chỗ “Sự vật hiện thực, cảm tính được xét chỉ dướihình thức khách thể hay dưới hình thức trực quan, chứ không phải với tính cách
là hoạt động cảm tính của con người, là thực tiễn” Luận điểm này của Mác đãphê phán các trường phái triết học trước đó không nhận thấy môi trường sốngxung quanh con người là do họ tạo ra, do chính lao động có mục đích của conngười tạo thành
Kế thừa có chọn lọc thành tựu của triết học trong lịch sử mà trực tiếp làtriết học của Hêghen, C.Mác đã xây dựng học thuyết duy vật biện chứng về hoạt
1 Các Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập 2, Nxb ST, H 1971, Tr 491
Trang 13động của con người Học thuyết này được tóm tắt vào một trong các luận cươngcủa C.Mác về Phơbách (1804 -1872) C.Mác phê phán toàn bộ triết học trước
đó, kể cả Phơbách, nhà triết học lớn nhất thời ấy là chỉ thấy sự vật như mộtkhách thể, như cái có thể quan sát được mà không thấy chính trong sự vật cóhoạt động thực tiễn của con người Các vật thể, hay nói rộng ra cả thế giới đốitượng là sản phẩm của lao động của cả loài người, đó chính là hoạt động của conngười ở thể tĩnh Tức là vật thể, thế giới đối tượng chứa đựng năng lực của conngười bao gồm suy nghĩ về công dụng, tri thức về vật liệu, về quá trình côngnghệ… Và ở đó có cả khiếu thẩm mỹ nữa Nói cách khác, việc làm ra sản phẩm
là quá trình con người vật chất hoá (đối tượng hoá) các suy nghĩ, tri thức, quan
niệm của mình Về vấn đề này C.Mác viết: “Sự vĩ đại của “hiện tượng học” củaHêghen và của kết quả cuối cùng của nó - phép biện chứng của tính phủ định coinhư nguyên lý đang vận động và đang sản sinh là ở chỗ Hêghen xem xét sự tựsản sinh của con người như là một quá trình, xem xét sự đối tượng hoá như là sựđối lập hoá và sự tước bỏ sự tự tha hoá ấy, do đó Ông ta nắm lấy bản chất củalao động và lý giải con người đã được đối tượng hoá, con người chân chính, do
đó có tính chất hiện thực, như là kết quả của lao động của bản thân con người”(1) Luận điểm này của C.Mác có ý nghĩa to lớn cho tâm lý học ở chỗ cầnphải nhìn thấy sự vật, hiện tượng xung quanh con người chính là kết quả hoạtđộng thực tiễn của con người, chứa đựng lực lượng bản chất người Đối vớiC.Mác, toàn bộ hoạt động của con người là sự đối tượng hoá của bản thân conngười, hay nói cách khác, là quá trình bộc lộ ra khách quan của những lực lượngbản chất của con người Trong tác phẩm Tư bản, khi phân tích lao động C.Mác
đã nói giản đơn rằng, trong lao động “chủ thể di chuyển vào khách thể” Như
vậy hoạt động của con người không phải là phản ứng của cơ thể đối với kíchthích bên ngoài như tâm lý học hành vi quan niệm, cũng không phải là một việclàm theo lối thao tác bên ngoài của chủ thể đối với khách thể, mà nó là sự dichuyển của chủ thể vào khách thể Bản thân quan niệm về hoạt động như là sự