1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT CHỈNH HÌNH NHI TẠI BỆNH VIỆN ĐKTT TIỀN GIANG

11 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 68,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuổi trung bình là 10,12 ±3,59 (315tuổi), 89,9% là phẫu thuật sạch; nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là cephalosporin (69%), trong đó sử dụng nhiều là cefotaxim; 78% kháng sinh được dùng đường tiêm; thời gian sử dụng kháng sinh trung bình sau mổ là 3.88 ngày; 70% sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ; 69,6% dùng kháng sinh đơn trị liệu; 30,4% dùng kháng sinh phối hợp, trong đó 95,2% phối hợp 2 loại kháng sinh

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT CHỈNH HÌNH NHI TẠI BỆNH VIỆN ĐKTT TIỀN GIANG

Bùi Thị Cẩm Thúy, Lê Quang Vàng

Bệnh viện Đa khoa Trung Tâm Tiền Giang

*Email: camthuybui@gmail.com

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm nhóm nghiên cứu và khảo sát tình hình sử dụng

kháng sinh trong phẫu thuật chỉnh hình nhi.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang.

Kết quả: Tuổi trung bình là 10,12 ±3,59 (3-15tuổi), 89,9% là phẫu thuật sạch;

nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là cephalosporin (69%), trong đó sử dụng nhiều là cefotaxim; 78% kháng sinh được dùng đường tiêm; thời gian sử dụng kháng sinh trung bình sau mổ là 3.88 ngày; 70% sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ; 69,6% dùng kháng sinh đơn trị liệu; 30,4% dùng kháng sinh phối hợp, trong đó 95,2% phối hợp 2 loại kháng sinh.

Kết luận: 89,9% là phẫu thuật sạch, hầu hết kháng sinh sử dụng là

cephalosporin (69.0%), đường tĩnh mạch (78%), đơn trị liệu (69,6%)

Từ khóa: Kháng sinh, phẫu thuật sạch, kháng sinh dự phòng, nhi khoa.

SURVEYING OF ANTIBIOTIC USE IN PAEDIATRIC ORTHO-OPERATION

AT TIEN GIANG CENTRAL GENERAL HOSPITAL

Bùi Thị Cẩm Thúy, Lê Quang Vàng

Tien Giang Center General Hospital

*Email: camthuybui@gmail.com ABSTRACT

Objectives: Evaluating the characteristics of the research group and surveying

of antibiotic use in paediatric ortho-operation at Tien Giang center general hospital.

Methods: descriptive cross-sectional study.

Results: : The mean age is 10.12 ±3,59, clean operation is 89.9% The most

frequently prescribed-antibiotic is cephalosporins (69%), in which cefotaxime used the most, 78% of antibiotics were used by intravenous, the mean time of antibiotic treatment is 3.88 days; the rate of pre-operation antibiotic treatment is 70%; initial antibiotic with monotherapy is 69.6%, combined antibiotics is 30.4 %.

Trang 2

Conclusions: C lean operation is 89.9%, the most used-antibiotics is cephalosporins, by intravenous and monotherapy treatment.

Key words: Antibiotic, clean operation,pre-operation antibiotic, paediatric.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều trị kháng sinh sau mổ được xem là bắt buộc nhằm dự phòng và tránh nhiễm trùng vết mổ Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh như thế nào để được an toàn, hợp lý, tránh “đề kháng kháng sinh” thật sự là một thách thức lớn đối với các bác sĩ ngoại khoa

Trong phẫu thuật chỉnh hình nhi, nhiễm khuẩn vết mổ là một biến chứng nặng, làm kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân, có thể để lại di chứng viêm xương mãn thậm chí gây nguy hiểm tính mạng Do đó, để có thể sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn và hiệu quả trên các bệnh nhi được chỉ định phẫu thuật,

chúng tôi đã thực hiện đề tài “khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật chỉnh hình nhi tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang” nhằm mục tiêu:

- Đánh giá đặc điểm bệnh nhi được chỉ định phẫu thuật tại khoa Chấn Thương bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang

- Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật chỉnh hình nhi

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng: Tất cả bệnh án của bệnh nhi có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương tại

bệnh viện ĐKTT Tiền Giang từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021

- Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh án của bệnh nhi có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương tại bệnh viện ĐKTT Tiền Giang từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021

- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh án của bệnh nhi không đủ hồ sơ, bệnh án của bệnh nhân trên 15 tuổi

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: tại bệnh viện ĐKTT Tiền Giang từ tháng 01/2021

- 06/2021

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, thông qua hồi cứu hồ sơ bệnh án ra viện 2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu: Thông tin về bệnh nhân và thông tin về sử dụng

kháng sinh được thu thập từ bệnh án của bệnh nhân đạt tiêu chuẩn và điền vào phiếu thu thập thông tin bệnh nhân

Trang 3

2.4 Nội dung nghiên cứu:

2.4.1.Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu:

- Tuổi, giới

- Phân loại phẫu thuật (Altemeier, 1984)

2.4.2 Phân tích đặc điểm sử dụng kháng sinh:

- Danh mục kháng sinh sử dụng

- Tỉ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ

- Thời gian sử dụng kháng sinh sau mổ

- Tỷ lệ kháng sinh dùng đường tiêm

- Phối hợp kháng sinh: Số lượng kháng sinh được phối hợp, danh mục các cặp kháng sinh phối hợp thường gặp

2.5 Xử lý và phân tích số liệu: phần mềm SPSS 20.0.

3 KẾT QUẢ:

3.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu:

Tuổi trung bình của nhóm 10,12 ±3,59 (3-15tuổi)

Bảng 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi và giới

0,03*

Từ 6-10 tuổi 12 (17,4) 11 (15,9) 23 (33,3)

Trên 10 tuổi 28 (40,6) 7 (10,1) 35 (50,7)

Nhận xét: Nhóm tuổi trên 10 tuổi thường gặp nhất; tỉ lệ bệnh nhân nam (65,2%) cao

hơn nữ, tỉ lệ nam: nữ bằng 1,88:1

Bảng 3.2 Nguyên nhân gãy xương:

Nhận xét: Nguyên nhân thường gặp là tai nạn sinh hoạt, có 50 trường hợp (72,5%).

Bảng 3.3 Phân loại phẫu thuật:

Trang 4

Phân loại phẫu thuật Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)

Nhận xét: 89.9% là phẫu thuật sạch

3.2 Phân tích đặc điểm sử dụng kháng sinh:

3.2.1 Danh mục kháng sinh sử dụng:

Bảng 3.4 Danh mục kháng sinh sử dụng:

lượt BN dùng

Tỉ

lệ (%)

Beta –

lactam

Penicillin Aubactam 1.2g

(Amoxicillin 1g và acid clavulanic 200mg)

,0

Auclanityl 625mg (Amoxicillin 500mg và acid clavulanic 200mg)

,0

Cephalospo

,0

,0 Sulrapix 1g

(Cefoperazone và Sulbactam)

0

Zidimbiotic 1g

,0

0

0

0

0,0

Trang 5

Nhận xét: Có 3 nhóm kháng sinh với tổng số 11 loại kháng sinh được sử dụng Kết

quả khảo sát 69 bệnh nhân với 100 lượt kháng sinh được sử dụng cho thấy nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là nhóm Beta-lactam với 91 lượt kê (91,0%); kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là cefotaxim (cefotaxone 1g, taxibiotic 1g, taximed 1g) với 51 lượt dùng (51,0%)

3.2.2 Tỉ lệ kháng sinh dùng đường tiêm:

Hình 3.1 Tỉ lệ kháng sinh dùng đường tiêm

22; 22.22%

77; 77.78%

Nhận xét: Có 100 lượt kháng sinh sử dụng tương ứng với 100 đường dùng, trong

đó 78% kháng sinh được dùng đường tiêm

3.2.3 Thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ:

Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình sau mổ là 3.88±2,08 (1-10 ngày)

Bảng 3.5 Thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ:

Trang 6

Nhận xét: thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ nhiều nhất là 5 ngày, có

15 trường hợp (21.7%)

3.2.4 Tỉ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ:

Hình 3.2 Tỉ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ

30.43%

69.57%

Không sử dụng kháng sinh dự phòng

Có sử dụng kháng sinh dự phòng

Nhận xét:70% trường hợp có sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ

3.2.5 Phối hợp kháng sinh đường tiêm:

Bảng 3.6 Số lượng kháng sinh dùng phối hợp:

Nhận xét: 30,4% phối hợp kháng sinh đường tiêm.

Bảng 3.7 Danh mục các cặp kháng sinh đường tiêm phối hợp

Trang 7

Taxibiotic- Gentamycin 4 19,0

Amoxicillin- Acid clavulanic –

Gentamycin

Nhận xét: Trong tổng số 21 trường hợp dùng kháng sinh phối hợp, có 20 trường hợp (95,2%) phối hợp 2 loại kháng sinh và 1 trường hợp (4,8%) phối hợp 3 loại kháng sinh Cặp kháng sinh được dùng phối hợp nhiều nhất là cặp Amoxicillin- Acid

clavulanic (42,8%).

4 BÀN LUẬN:

4.1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu:

Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 10,12 ±3,59 , tuổi nhỏ nhất là 5 tuổi và lớn nhất là 15 tuổi Nhóm tuổi trên 10 tuổi thường gặp nhất, có 35 trường hơp (50,7%).

Trong tổng số 69 mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 45 bệnh nhân nam chiếm 65,2% và 24 bệnh nhân nữ chiếm 34,8% Tỉ lệ nam:nữ = 1,88:1 Mối tương

quan giữa nhóm tuổi và giới: Trong nghiên cứu của chúng tôi, gãy đầu dưới xương

quay ở nam và nữ theo nhóm tuổi, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,03

>0,05, phép kiểm χ2) Ở nhóm tuổi dưới 10 tuổi tuổi, giữa nam và nữ không khác biệt nhiều nhưng nhóm tuổi trên 10 tuổi, tỉ lệ bệnh nhân nam cao hơn bệnh nhân

nữ

Tương tự nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, nhóm tuổi trên 10 tuổi thường gặp nhất và tỉ lệ bệnh nhân nam luôn cao gần gấp đôi bệnh nhân nữ [7], [6] Theo nhận định của chúng tôi, các bé trai ở nhóm tuổi trên 10 tuổi thường rất năng động

và tham gia các hoạt động thể dục thể thao cũng như tham gia giao thông nhiều hơn tần suất chấn thương ở nhóm này cũng cao hơn ở các nhóm tuổi khác.

Nguyên nhân chấn thương: nghiên cứu chúng tôi có 50 trường hợp (72,5%) do tai nạn sinh hoạt, chỉ có 27,5% là do tai nạn giao thông Điều này phù hợp với nghiên cứu

Trang 8

của các tác giả nước ngoài với tỉ lệ tai nạn sinh hoạt luôn cao hơn tai nạn giao thông [7], [6].

Nghiên cứu của chúng tôi có 89,9% là phẫu thuật sạch và 10,1 % là phẫu thuật nhiễm Theo phân loại phẫu thuật theo Altemeier (1984) có 4 loại: trong đó loại I là phẫu thuật không có nhiễm khuẫn, không phẫu thuật mở vào đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, sinh dục; loại II là phẫu thuật mở vào đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, sinh dục và không bị ô nhiễm bất thường; loại III là phẫu thuật các vết thuơng hở, gãy xương hở hoặc dẫn lưu hở hoặc có mở vào đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, sinh dục

bị nhiễm khuẩn; loại IV là phẫu thuật vết thương bị nhiễm khuẩn, có dị vật, hóa mủ

dó đó nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổ thấp Do hầu hết phẫu thuật là sạch nên nguy cơ nhiễm trùng sau mổ là rất ít Tuy nhiên nguy cơ nhiễm trùng sau mổ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: phương pháp mổ (mổ kín hay mổ hở), kỹ thuật mổ, kỹ thuật vô trùng trước-trong và sau mổ, môi trường phòng mổ, do đó, hầu hết đều điều trị kháng sinh sau mổ [4] Theo nghiên cứu của Bhattacharyya Nishith, tỉ lệ nhiễm khuẩn sau mổ ở trẻ em là 2,5%, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nhóm I là 1,0%, nhóm II là 2,9%, nhóm III là 7,9% và nhóm IV là 6,3% [3] Do đó, cần phải đánh giá và phân loại phẫu thuật trước mổ nhằm có chiến lược điều trị kháng sinh sau mổ thích hợp

4.2 Kết quả nghiên cứu:

Danh mục kháng sinh sử dụng: Qua khảo sát 69 bệnh nhi được mổ kết hợp

xương, chúng tôi nhận thấy có 3 nhóm kháng sinh được sử dụng, trong đó nhiều nhất

là nhóm Beta-lactam (90%) kế đến là nhóm Aminoglycosid (8,0%) và nhóm Lincosamid (1,0%) Tổng cộng có 11 loại kháng sinh khác nhau được sử dụng: nhiều nhất là kháng sinh cefotaxim (51,0%) gồm 3 loại biệt dược là cefotaxone 1g, taxibiotic 1g, taximed 1g; kế đến là kháng sinh Aubactam 1,2g ((Amoxicillin 1g và acid clavulanic 200mg) chiếm 10%; Zidimbiotic 1g (Ceftazidime 1g) chiếm 4%; Sulrapix 1g (Cefoperazone và Sulbactam) chiếm 3%

Chúng tôi nhận thấy, 69% kháng sinh được dùng là nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3 (58% dùng tiêm và 11% dùng đường uống) có ưu thế trên vi khuẩn gram âm nhiều hơn gram dương và chỉ 21% là nhóm Penicillin (10% dùng đường tiêm và 11% dùng đường uống) có ưu thế trên vi khuẩn gram dương nhiều hơn Trong khi hầu hết các phẫu thuật chỉnh hình nhi là phẫu thuật sạch (89,9% theo phân loại phẫu thuật

Trang 9

Altemeier), tác nhân nhiễm khuẩn thường gặp nhiều nhất là vi khuẩn gram dương như: Staphylococcus, Streptococcus và một số ít vi khuẩn gram âm như Pseudomonas, E.coli Điều đó chứng tỏ việc dùng kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3 sau

mổ nên cân nhắc, việc dùng kháng sinh dự phòng không đúng sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, cũng là nguyên nhân gây đề kháng kháng sinh do sử dụng kháng sinh không đúng mục đích điều trị [5]

Theo chúng tôi, việc điều trị kháng sinh sau mổ chỉnh hình nhi nên cân nhắc chọn lựa các kháng sinh cephalosphorin thế hế thứ nhất 1 như cephalothin (liều 1-2g) hoặc cephalosphorin thế hệ thứ 2 như cefuroxim (liều 1,5g) có ưu thế trên vi khuẩn gram dương [1] Ngoài ra kháng sinh Aubactam 1.2g (Amoxicillin 1g và acid clavulanic 200mg), trong đó Amoxicillin có hoạt tính với phần lớn các vi khuẩn gram

âm và gram dương như: liên cầu, tụ cầu không tạo penicillinase, H influenzae, Diplococcus pneumoniae, N.gonorrheae, E.coli, và proteus mirabilis cũng là một lựa chọn hợp lý trong việc sử dụng kháng sinh sau mổ chỉnh hình nhi

Tỉ lệ kháng sinh dùng đường tiêm: Nghiên cứu chúng tôi có 100 lượt kháng

sinh sử dụng tương ứng với 100 đường dùng, trong đó 78% kháng sinh được dùng đường tiêm Việc điều trị kháng sinh bằng đường tiêm sau mổ là hợp lý giúp kháng sinh được dung nạp tốt hơn và đảm bảo đủ nồng đồ kháng sinh cần thiết để dự phòng

và điều trị nhiễm khuẩn vết mổ Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ và chỉ chuyển đổi kháng sinh đường uống khi đã đảm bảo liều kháng sinh cần thiết

Thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ: Thời gian sử dụng kháng

sinh trung bình sau mổ là 3,88±2,08, thấp nhất là 01 ngày và nhiều nhất là 10 ngày; trong đó có 15 trường hợp (21.7%) sử dụng kháng sinh đường tiêm sau mổ 05 ngày Theo nguyên tắc sử dụng kháng sinh, nếu đã sử dụng kháng sinh dự phòng thì chỉ cần 1 liều trước mổ 30 phút- 1 giờ và 1 liều sau mổ là đủ Trong nghiên cứu chúng tôi có 90,9% là phẫu thuật sạch và có 70% trường hợp dùng kháng sinh dự phòng trước mổ, do đó thời gian dùng kháng sinh đường tiêm sau mổ trùng bình 3,88 ngày là tương đối dài Tuy nhiên qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, các trường hợp dùng kháng sinh kéo dài thường

do bệnh nhân không có sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ hoặc bị nhiễm trùng vết

mổ hoặc những trường hợp mổ vào ngày cuối tuần nên thời gian điều trị kéo dài hơn [2]

Trang 10

Tỉ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ: Mặc dù nghiên cứu chúng tôi

có 90,9% là phẫu thuật sạch, tức nguy cơ nhiễm trùng sau mổ thấp, tuy nhiên chỉ có

70% trường hợp sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ Việc dùng kháng sinh dự

phòng trước mổ giúp giảm thiểu tối đa tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ, giảm thời gian dùng kháng sinh, góp phần giảm chi phi điều trị [8] Quan trọng hơn nữa đối với các bệnh nhi, việc giảm thời gian dùng kháng sinh giúp tạo tâm lý thoải mái hơn cho các bệnh nhi Phần lớn nhiễm trùng sau mổ là do vi khuẩn gram dương, do đó cần phải chọn lựa kháng sinh dự phòng có ưu thế trên vi khuẩn gram dương như các cephalosphorin thế

hệ thứ 1 và thứ 2

Phối hợp kháng sinh đường tiêm: Nghiên cứu chúng tôi có 58 trường hợp

(69,6%) dùng kháng sinh đơn trị liệu và 21 trường hợp (30,4%) dùng kháng sinh dạng phối hợp Trong 21 trường hợp dùng kháng sinh dạng phối hợp có 20 trường hợp (95,2%) phối hợp 2 loại kháng sinh (12 trường hợp dưới dạng biệt dược và 8 trường hợp phối hợp nhóm Beta-lactam với nhóm Aminoglycosid) và 1 trường hợp (4,8%) phối hợp 3 loại kháng sinh Cặp kháng sinh được dùng phối hợp nhiều nhất dưới dạng biệt dược Aubactam 1,2g (Amoxicillin- Acid clavulanic), có 10 trường hợp (47,0%) Kháng sinh nhóm Aminiglycosid có tác động lên cả vi khuẩn gram (-)

và vi khuẩn gram (+), do đó việc dùng phối hợp với nhóm Beta-lactam sẽ làm tăng tác dụng hiệp đồng của kháng sinh.

5.KẾT LUẬN

Qua khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh sau mổ kết hợp xương của 69 bệnh nhi tại khoa chấn thương chỉnh hình, bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang, chúng tôi thu được một số kết quả như sau: tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 10,12 ±3,59, 89,9% là phẫu thuật sạch, 69% kháng sinh nhóm cephalosporin được sử dụng sau mổ, 78% kháng sinh được dùng đường tiêm với thời gian sử dụng kháng sinh trung bình sau mổ là 3.88 ngày, trong đó 69,6% dùng kháng sinh đơn trị liệu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 PGS TS Nguyễn Đạt Anh, (2016), Hướng dẫn điều trị kháng sinh theo

kinh nghiệm NXB Y học Hà Nội

2 Bộ Y Tế, (2016), Quyết định 772 Hướng dẫn thực hiện sử dụng kháng

sinh trong bệnh viện

Ngày đăng: 06/03/2022, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bhattacharyya Nishith,Kosloske Ann M, (1990), Postoperative wound infection in pediatric surgical patients: a study of 676 infants andchildren. Journal of pediatric surgery, 25, 125-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of pediatric surgery
Tác giả: Bhattacharyya Nishith,Kosloske Ann M
Năm: 1990
4. Gouvea M. Novaes Cde O., Pereira D. M., Iglesias A. C. , (2015)), Adherence to guidelines for surgical antibiotic prophylaxis: a review.Braz J Infect Dis, 19(5), pp. 517-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Braz J Infect Dis
Tác giả: Gouvea M. Novaes Cde O., Pereira D. M., Iglesias A. C
Năm: 2015
5. Humphreys G Fleck F, (2016), United Nations meeting on antimicrobial resistance. World Health Organization. Bulletin of the World Health Organization, 94(9), 638 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Health Organization. Bulletin of the World Health Organization
Tác giả: Humphreys G Fleck F
Năm: 2016
6. Landin Lennart A, (1997), Epidemiology of children's fractures. Journal of pediatric orthopedics. Part B, 6, 79-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journalof pediatric orthopedics. Part B
Tác giả: Landin Lennart A
Năm: 1997
7. Rennie Louise, Court-Brown Charles M, Mok Jacqueline YQ, et al, (2007), The epidemiology of fractures in children. Injury, 38, 913-922 . 8. Health Organization World, (2016), Global Guidelines for thePrevention of Surgical Site Infection Sách, tạp chí
Tiêu đề: Injury
Tác giả: Rennie Louise, Court-Brown Charles M, Mok Jacqueline YQ, et al, (2007), The epidemiology of fractures in children. Injury, 38, 913-922 . 8. Health Organization World
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w