Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạngpháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, mục đích nghiêncứu của Luận án l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp Để doanh nghiệp có thể hình thành và hoạt động không thểkhông có vốn Vốn được hình thành ngay từ khi thành lập doanh nghiệp và
là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Theo truyền thống, tài sảndùng để góp vốn thường là các tài sản hữu hình như tiền, nhà xưởng, máymóc… Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngàycàng cao thì bản thân con người càng ý thức được giá trị to lớn của các tàisản vô hình nói chung và tài sản trí tuệ nói riêng Mặc dù là một loại tài sản
vô hình, nhưng tài sản trí tuệ có khả năng tạo ra những giá trị vật chất tolớn, mang lại sức mạnh và thế cạnh tranh vững chắc cho chủ sở hữu Nhữngtài sản vô hình hiện nay ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạonên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp đang đặc biệthết sức chú trọng đến việc tạo ra các tài sản trí tuệ, cũng như đưa khai thácthương mại quyền SHTT thông qua việc góp vốn thành lập công ty bằngloại tài sản này
Việc đưa quyền SHTT vào góp vốn đã diễn ra rất lâu và trở thànhmột điều phổ biến ở các quốc gia phát triển Trong khi đó, ở Việt Nam, gópvốn thành lập công ty bằng quyền SHTT dù đã được ghi nhận trong phápluật doanh nghiệp từ những năm 1990, nhưng trong suốt một thời gian dài,
số lượng doanh nghiệp nhận góp vốn bằng loại tài sản này trên thực tế rấtkhiêm tốn, trong đó, chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vàoViệt Nam Tuy nhiên, trong vòng 10 năm trở lại đây cho thấy, hoạt độnggóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam đã có nhiều thayđổi và chuyển biến tích cực Trên thực tế, việc sử dụng quyền SHTT để gópvốn thành lập công ty đang ngày càng diễn ra sôi động Song có một điềukhông thể phủ nhận đó là, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ởViệt Nam cũng đang gặp không ít bất cập như: khó khăn trong việc xácđịnh tính hợp pháp của hoạt động góp vốn; khó khăn trong định giá quyềnSHTT Bên cạnh đó, nhiều trường hợp các cá nhân, tổ chức, các doanhnghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã hết sức lúng túng
Trang 2khi góp vốn cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc góp vốn thànhlập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ Trong một thời gian dài, các nhàquản lý, các cơ quan nhà nước cũng đã phải loay hoay để tìm cách giảiquyết cho việc góp vốn bằng các nhãn hiệu “Sông Đà” hay nhãn hiệu
“Vinashin” Việc giải quyết đã có lúc rơi vào bế tắc khi thiếu vắng cơ sởpháp lý về góp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản này
Trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay, nhu cầu góp vốnbằng quyền SHTT ở Việt Nam đang ngày càng tăng Tuy nhiên, góp vốnthành lập công ty bằng quyền SHTT luôn tiềm ẩn các rủi ro pháp lý đối với
cả bên góp vốn và bên nhận góp vốn Vì vậy, với những đặc tính riêng biệtcủa quyền SHTT so với những loại tài sản góp vốn khác thì những quy định
về góp vốn mang tính chất điều chỉnh chung đối với mọi loại tài sản khôngthực sự phù hợp Do đó, với một hành lang pháp lý không đầy dủ, rõ ràng
và không mang tính chuyên biệt thì các chủ thể sẽ gặp phải không ít khókhăn trong việc góp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản này cũng như sẽđối diện với không ít các rủi ro Ở Việt Nam, góp vốn thành lập công tybằng quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm ở cảkhía cạnh kinh tế và pháp lý, tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu vềvấn đề này còn khá khiêm tốn Vẫn còn không ít vấn đề lý luận và thực tiễn
về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cần được làm rõ hơn, giảiquyết sâu hơn, đầy đủ hơn để làm cơ sở cho hoạt động góp vốn thành lậpcông ty bằng loại tài sản này cũng như giúp các cơ quan quản lý nhà nướcgiải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tế từ hoạt động này
Từ các phân tích ở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để
nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạngpháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, mục đích nghiêncứu của Luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnSHTT ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 3Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận án có các nhiệm vụ
cụ thể sau: Thứ nhất, thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan
đến đề tài và xác định rõ cơ sở lý thuyết nghiên cứu, qua đó xác định những
vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án; Thứ hai, phân tích và làm rõ các
vấn đề lý luận và lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền
SHTT; Thứ ba, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực
hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam
hiện nay; chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; Thứ tư, xây dựng các
định hướng; đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở ViệtNam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về góp vốnthành lập công ty bằng quyền SHTT; thực trạng pháp luật Việt Nam về gópvốn thành lập công ty bằng quyền SHTT và thực tiễn thực hiện pháp luật vềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam; pháp luật củamột số quốc gia về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn
thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở ViệtNam
Về không gian: Luận án nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn
thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở ViệtNam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với một số quốc gia trên thế giới
Về thời gian: Luận án nghiên cứu đề tài trong khoảng thời gian từ
năm 2005 đến nay (từ khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu, luận án đã sử dụngphương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới,
Trang 4xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có phát triển và bảo hộ hợp pháp về tài sản trí tuệ.
Ngoài ra, để thực hiện nghiên cứu luận án, tác giả luận án còn sửdụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và có độ tin cậy dưới đây:(i) Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích; (ii) Phương pháp so sánhluật học; (iii) Phương pháp hệ thống hóa; (iv) Phương pháp tiếp cận hệthống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội nhân văn
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đâyliên quan đến vấn đề góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, luận án
đã có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Thứ nhất, Luận án góp phần hình thành, làm rõ cơ sở lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT và pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT Luận án xây dựng khái niệm cũng như chỉ ra
được bản chất của việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; làm
rõ các vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnSHTT bao gồm khái niệm, nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công tybằng quyền SHTT
Thứ hai, Luận án đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam Luận án đã phân tích một cách đầy đủ và toàn diện về thực trạng quy
định pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT trêncác phương diện: hình thức, chủ thể, đối tượng, hợp đồng thành lập công ty vàthỏa thuận góp vốn, định giá quyền SHTT góp vốn và thực hiện góp vốn Đặcbiệt, Luận án đã phân tích và đánh giá những điểm mới của Luật Doanh nghiệp
2020 có tác động đến vấn đề góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT Bêncạnh đó, Luận án đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực hiệnpháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT
Thứ ba, luận án đưa ra các định hướng tổng thể và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam Luận án
cập nhật, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lậpcông ty bằng quyền SHTT trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở
Trang 5đó, Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnSHTT.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng cố và
hoàn thiện cơ sở lý luận về hoạt động góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT cũng như hoàn thiện lý luận pháp luật về góp vốn thành lậpcông ty bằng quyền SHTT
Về mặt thực tiễn, Luận án là tài liệu tham khảo cho hoạt động xây
dựng và thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnSHTT của các cơ quan Nhà nước, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp Bên cạnh
đó, luận án cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy,học tập về vấn đề này trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 2: Lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu
trí tuệ và pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 : Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sởhữu trí tuệ ở Việt Nam
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1.1 Nghiên cứu về khái niệm góp vốn và góp vốn thành lập công ty
Góp vốn và góp vốn thành lập công ty và góp vốn bằng các hình thứckhác nhau đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều mức độkhác nhau trong các công trình nghiên cứu khoa học Hầu hết các công trìnhnghiên cứu đều nhìn nhận góp vốn và góp vốn thành lập công ty dưới haikhía cạnh kinh tế và pháp lý 3, 14, 16, 19, 22, 28
Về khái niệm góp vốn thành lập công ty, tác giả Phạm Tuấn Anh chorằng, Góp vốn thành lập công ty là việc tạo lập ra công ty thông qua việcchuyển giao tài sản, tri thức hoặc công sức của người góp vốn để hình thànhvốn của công ty 3, tr.15 Còn theo tác giả Đoàn Thu Hồng 22, tr.9, “xéttheo phương diện kinh tế, góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu lànhững đóng góp mà tổng cộng những phần đóng góp ấy trở thành dấu hiệuđại diện cho số vốn của doanh nghiệp Thực chất đó là của “hồi môn” màmỗi thành viên dành cho doanh nghiệp lúc mới thành lập” Xét theo phươngdiện pháp lý, hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc một
tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng một tàisản vào doanh nghiệp để được hưởng các quyền lợi từ doanh nghiệp sẽđược thành lập Đó có thể là quyền hưởng lợi tức hoặc quyền điều hànhhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.2 Nghiên cứu về khái niệm, đặc trưng, vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Chủ yếu các công trình nghiên cứu tiếp cận từ các khái niệm góp vốnthành lập công ty và khái niệm quyền SHTT 13, 28, 29, 33 Rất íttác giả đưa ra trực tiếp khái niệm về góp vốn thành lập công ty bằng quyền
Trang 7SHTT như tác giả Đoàn Thu Hồng 22, Đoàn Thị Dung 16, NguyễnQuang Duy17.
Về đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT: Bêncạnh đó, một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số đặc trưng của gópvốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm đặc trưng về chủthể góp vốn; trình tự, thủ tục góp vốn; thời hạn góp vốn; đối tượng góp vốn;định giá quyền SHTT góp vốn; hình thức góp vốn 16, 22
Về vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ: Vai
trò của tài sản trí tuệ đối với doanh nghiệp đã được rất nhiều các nhà nghiêncứu đề cập đến [44], 69, 70, 84, 98… Tuy nhiên, việc góp vốn và nhậngóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có vai trò, ý nghĩa như thế nàođối với bên góp vốn và bên nhận góp vốn thì hiện nay gần như chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu và lý giải một cách sâu sắc về vấn đề này
1.1.1.3 Nghiên cứu về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và các hình thức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác
Nghiên cứu về các hình thức thương mại của quyền SHTT có thể kểđến một số các công trình của các tác giả Andrew J.Sheman 1, GordonV.Smith và Russel L Parr 93, Tổ chức SHTT Thế giới WIPO 44, Hệthống trợ giúp về quyền SHTT Châu Âu (The European IPR Helpdesk)
63, 64, tác giả Nguyễn Bá Bình 6, tác giả Lê Nết 29, tác giả PhanQuốc Nguyên 32 Về cơ bản, các công trình nghiên cứu trong nước và ởnước ngoài đã có sự so sánh, đánh giá về ưu và nhược điểm của các hìnhthức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1.4 Nghiên cứu nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Trong phạm vi nghiên cứu của luân án, nội dung pháp luật về gópvốn thành lập công ty bằng quyền SHTT chủ yếu tập trung ở một số khíacạnh cơ bản như hình thức góp vốn, chủ thể góp vốn, đối tượng góp vốn,hợp đồng góp vốn, định giá quyền SHTT góp vốn, thực hiện góp vốn
Có rất nhiều các công trình trong nước và nước ngoài nghiên cứucác nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT,trong đó có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như Carlos M
Trang 8Correa 59, tác giả Kamil Idris 69, tác giả Richard H Kjeldgaard vàDavid R Marsh 71, tác giả Keith E Maskus 84, tác giả Lê Nết 29, tácgiả Nguyễn Ngọc Xuân Thảo 41, tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê Thị KimGiang 48, tác giả Kiều Thị Thanh 40, Farok J Contractor 58,European IPR Helpdesk 65, John Tuner 68, David H.Luthy 82, VõLinh Giang 18, Đoàn Văn Trường 46], Herry N Butler 56, MichaelKlausner 85, Ngô Huy Cương 12 Có thể thấy, các công trình nghiêncứu của các tác giả thường tập trung vào một vài khía cạnh của nội dungpháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
1.1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Về hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ:
Mặc dù, trong các công trình nghiên cứu trực tiếp về góp vốn thànhlập công ty bằng quyền SHTT không nói rõ và cũng phân tích, đánh giá vềcác hình thức góp vốn, tuy nhiên, qua việc nghiên cứu có thể nhận thấy cóhai phương thức góp vốn cơ bản được các tác giả đề cập đến đó là góp vốntheo hình thức chuyển nhượng quyền SHTT và góp vốn theo hình thứcchuyển quyền sử dụng quyền SHTT 14, 16, 22, 25, 42
Về chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT
Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu trực tiếp nội dung về gópvốn thành lập công ty bằng quyền SHTT vẫn còn chưa thống nhất về nộidung liên quan đến chủ thể có góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữutrí tuệ Có tác giả cho rằng, chỉ có chủ sở hữu quyền SHTT mới có quyền
sử dụng quyền SHTT để góp vốn 22 Bên canh đó, có tác giả lại cho rằng,không chỉ có chủ sở hữu quyền SHTT mới có quyền sử dụng quyền SHTT
để góp vốn thành lập công ty mà một số các chủ thể khác như chủ thể nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chủ thể
có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp và chủ thể nhậnchuyển quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ 16, tr.45
8
Trang 9Về đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn
Về đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT hiện nayvẫn còn có một số quan điểm chưa thực sự thống nhất Có tác giả cho rằng,quyền SHTT góp vốn chỉ có thể là các quyền tài sản, còn các quyền nhânthân thì không thể góp vốn 22 Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng,không chỉ có quyền tài sản mà ngay cả quyền nhân thân gắn với tài sản(quyền công bố tác phẩm) cũng có thể sử dụng để góp vốn thành lập công
ty 16 Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều thống nhất với quan điểm, quyềnSHTT chỉ có thể góp vốn khi quyền đó có thể chuyển giao 16, 22, 14,
36 Vì vậy, quyền SHTT không được chuyển giao hoặc hạn chế chuyểngiao thì không thể góp vốn hoặc việc góp vốn phải đảm bảo điều kiện củaviệc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
Về định giá quyền SHTT góp vốn thành lập công ty
Có nhiều phương pháp định giá quyền SHTT được các nhà nghiêncứu đưa ra, có thể kể đến các công trình của các cá nhân, tổ chức bao gồm
Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) 44, tác giả David H.Luthy 82, tác giảKelvin King 70 Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan về định giá nhưquyền định giá và trách nhiệm pháp lý khi định giá sai quyền SHTT đãđược đề cập đến trong công trình nghiên cứu của một số tác giả như tác giả
Võ Linh Giang 18, tác giả Nguyễn Quang Duy 17, tác giả Hoàng LanPhương 34, tác giả Dương Thị Thu Nga 30
Về thực hiện góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT
Hầu hết các công trình nghiên cứu về góp vốn ít nhiều đều có đề cậpđến trình tự, thủ tục trong đó có đề cập đến vấn đề thực hiện góp vốn thànhlập công ty nói chung và góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT nóiriêng 3, 14, 16, 22, 28
Về hợp đồng thành lập công ty và thỏa thuận góp vốn bằng quyền SHTT
Hợp đồng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT được đề cậpđến trong một số các công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau 12,
13 14, 16, 22, 25, [56] Về cơ bản, các công trình nghiên cứu đã
9
Trang 10chỉ ra những nội dung cần có của hợp đồng thành lập công ty và thỏa thuậngóp vốn bằng quyền SHTT bao gồm các thông tin cơ bản của tài sản gópvốn, thời hạn góp vốn, giá trị tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, quyền vànghĩa vụ của các bên,
1.1.2.2 Nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam
Theo tác giả Phạm Đức Quảng 36, Luật doanh nghiệp và Luật Sởhữu trí tuệ đã thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ Tuynhiên, thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các công văn do
cơ quan thuế ban hành lại không thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị quyền
sở hữu trí tuệ Nói về thực tiễn góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, tác giả
Tạ Thị Thanh Thủy 42 nhận định rằng thực tế giám sát cho thấy nhiềuthương hiệu nổi tiếng đã được định đoạt tương đối dễ dàng nhưng khôngtheo một quy tắc nào cả và thường là do quyết định của cấp có thẩm quyềnphê duyệt giá trị doanh nghiệp Theo tác giả Đoàn Thu Hồng 22, ở ViệtNam hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu vàquyền sử dụng nhãn hiệu đang được diễn ra phổ biến và sôi động hơn cả.Còn hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu đối vớicác đối tượng là các giải pháp kỹ thuật hay các quy trình chưa được phổbiến Tác giả Hoàng Lan Phương 35 đã nhấn mạnh các vấn đề mà doanhnghiệp cần lưu ý khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Trong đó tác giảđặc biệt lưu ý đến khả năng doanh nghiệp có thể mất nhãn hiệu khi góp vốnbằng nhãn hiệu và vấn đề doanh nghiệp sẽ gặp phải nếu muốn giảm vốnđiều lệ
1.1.3 Các công trình nghiên cứu các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn thànhlập công ty bằng quyền SHTT phù hợp đòi hỏi phải xác định được các địnhhướng tổng thể phù hợp với các thể chế, chính sách, cũng như sự phát triểncủa kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong các công trìnhnghiên cứu gần như chưa đề cập đến vấn đề này Chủ yếu, trong hầu hết các
Trang 11công trình nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay đều trực tiếp đưa ra các giảipháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữutrí tuệ Vấn đề hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT được đưa ra trong các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung
ở một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, về đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; Thứ hai, về định giá quyền SHTT sử dụng để góp vốn; Thứ
ba, về thực hiện góp vốn bằng quyền SHTT.
1.1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố có liênquan đến đề tài “Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theopháp luật Việt Nam hiện nay”, tác giả có một số đánh giá như sau:
Thứ nhất, đã có một số lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan
đến đề tài ở nhiều phương diện và nội dung tiếp cận khác nhau
Thứ hai, một số vấn đề đã được các công trình nghiên cứu một cách
đầy đủ và toàn diện, đạt được sự thống nhất cao và đề tài có thể tiếp thu màkhông cần trở lại để phân tích, làm sáng tỏ thêm
Thứ ba, dù có một số lượng khổng lồ các công trình nghiên cứu có
liên quan, tuy nhiên, cho đến hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứunào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về góp vốnthành lập công ty bằng quyền SHTT trên cả phương diện lý luận, thực tiễn
1.1.5 Những vấn đề luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu
Trong phạm vi của luận án, tác giả tiếp tục nghiên cứu và tập trunglàm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT theo quy định của pháp luật, bao gồm:
(i) Nghiên cứu các vấn đề lý luận về góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT bao gồm xây dựng khái niệm góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT phù hợp với bản chất và đặc trưng của tài sản góp vốn; nhậndiện bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTthông qua việc so sánh góp vốn bằng các loại tài sản khác và các hoạt độngthương mại hóa quyền SHTT
(ii) Làm rõ nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT bao gồm các hình thức góp vốn; chủ thể góp vốn; đối tượng
Trang 12góp vốn; hợp đồng thành lập công ty và thỏa thuận góp vốn; định giá quyềnSHTT góp vốn; thực hiện góp vốn.
(iii) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễnthực hiện pháp luật Vệt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnSHTT; chỉ ra các ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân
(iv) Đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải phápnâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằngquyền SHTT trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện phápluật
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 ý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài luận án, tác giả sử dụng các lý thuyết
nghiên cứu sau đây: lý thuyết về tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp; lý thuyết về góp vốn trong kinh doanh; lý thuyết về quyền sở hữu trí tuệ; lý thuyết về quyền tự do kinh doanh.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT
là gì? Vì sao phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động góp vốnthành lập công ty bằng quyền SHTT? Nội dung pháp luật về góp vốn thànhlập công ty bằng quyền SHTT như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Nhận thức lý luận về bản chất và vai trò của
góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay vẫn chưathực sự đầy đủ và thống nhất Cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối vớihoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, theo đó nội dungpháp luật phải chứa đựng các nội dung cần thiết để đảm bảo quyền tự dokinh doanh, quyền khai thác thương mại đối với tài sản trí tuệ của chủ thểquyền SHTT cũng như hạn chế các rủi ro trong việc khai thác thương mạiloại tài sản này
Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về góp vốn
thành lập công ty bằng quyền SHTT như thế nào? Thực tiễn thực hiện phápluật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT gặp những thuận lợi vàkhó khăn gì?