Trong vô số bài nghiên cứu về phong cách lãnh đạo thì Lý Quang Diệu nổi lên như một hình mẫu tiêu biểu về phong cách lãnh đạo độc đoán trong thời đại mới, nhờ ông mà Singapore chuyển mìn
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Cơ sở lý luận về phong cách lãnh đạo 2
1 Một số khái niệm liên quan 2
1.1 Lãnh đạo và phong cách lãnh đạo 2
1.1.1 Lãnh đạo 2
1.1.2 Các học thuyết về lãnh đạo 2
1.1.3 Phong cách lãnh đạo 5
1.2 Phong cách lãnh đạo độc đoán 6
1.2.1 Đặc trưng 6
1.2.2 Ưu điểm và hạn chế 6
1.2.3 Trường hợp áp dụng 7
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành phong cách lãnh đạo 7
3 Những nhà lãnh đạo tiêu biểu có phong cách lãnh đạo độc đoán 8
II Giới thiệu về Lý Quang Diệu 11
1 Khái quát về tiểu sử, vai trò của Lý Quang Diệu đối với thành tựu của Singapore 11
2 Các yếu tố giúp hình thành nên phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu 13
3 Đánh giá về phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Lý Quang Diệu 15
III Phân tích phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu 16
1 Những đặc trưng trong phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu 16
1.1 Biểu hiện của phong cách lãnh đạo độc đoán ở Lý Quang Diệu 18
Trang 31.2 Nét riêng trong phong cách lãnh đạo độc đoán của Lý Quang Diệu 21
1.2.1 Sự thẳng thắn 22
1.2.2 Nhà lãnh đạo vì dân 23
1.2.3 Tiêu chuẩn đạo đức cao 24
1.3 So sánh với nhà lãnh đạo khác có cùng phong cách độc đoán 25
2 Phân tích ưu nhược điểm trong phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu 28
2.1 Ưu điểm 28
2.1.1 Kiên trì, nỗ lực, quyết tâm cao độ 28
2.1.2 Quý trọng nhân tài, tư tưởng giáo dục tiến bộ 29
2.1.3 Đề cao tính tự giác, tự tin, lạc quan 30
2.2 Nhược điểm 31
2.2.1 Chưa thực sự coi trọng dân chủ và bình đẳng 31
2.2.2 Kiểm soát quá chặt chẽ 32
2.2.3 Thực dụng, quá cứng rắn 33
IV Giải pháp cho những khuyết điểm trong phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu và bài học rút ra 33
1 Giải pháp 33
2 Bài học kinh nghiệm 35
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 4BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHÓM
1 Hoàng Như Huyền Trưởng nhóm
Phân công rõ ràng, luôn có trách nhiệm, hoàn thành việc đúng hạn, nhiệt tình, giữ được tinh thần làm việc nhóm
9
2 Trương Đức Anh Thành viên
Hoàn thành việc đúng thời hạn, có trách nhiệm, hỗ trợ trưởng nhóm và
có góp ý chỉnh sửa bài, chủ động trong công việc nhóm, phụ trách chính phần video
9
3 Nguyễn Hải Long Thành viên
Hoàn thành việc đúng thời hạn, có trách nhiệm, phụ trách chính phần slides
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Từ trước đến nay lãnh đạo luôn đóng vai trò rất quan trọng trong khoa học về tổ chức - nhân sự, nhà lãnh đạo là người gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Trên thế giới hiện nay có 3 phong cách chủ yếu được các nhà lãnh đạo áp dụng trong việc gây ảnh hưởng lên người khác là độc đoán, dân chủ và tự do Trong vô số bài nghiên cứu về phong cách lãnh đạo thì Lý Quang Diệu nổi lên như một hình mẫu tiêu biểu về phong cách lãnh đạo độc đoán trong thời đại mới, nhờ ông mà Singapore chuyển mình từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, không có tài nguyên trở thành một quốc gia phát triển với thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thế giới Vậy phong cách lãnh đạo độc đoán của Lý Quang Diệu có biểu hiện cụ thể ra sao và đã tác động như thế nào để Singapore trở thành “con rồng Châu Á”? Điều đáng học hỏi từ phong cách của ông là gì? Xuất phát từ mong muốn giải đáp những vấn đề trên, nhóm
đã xây dựng tiểu luận với đề tài: “Phong cách lãnh đạo độc đoán của Lý Quang Diệu
và bài học cho các lãnh đạo của tương lai” Bài tiểu luận của nhóm có cấu trúc 4 phần:
Phần I Cơ sở lý luận về phong cách lãnh đạo
Phần II Giới thiệu về Lý Quang Diệu
Phần III Phân tích phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu
Phần IV Giải pháp cho những khuyết điểm trong phong cách lãnh đạo của
Lý Quang Diệu và bài học rút ra
Do hiểu biết còn hạn hẹp và giới hạn về thời gian nên bài tiểu luận của nhóm không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong ThS Hoàng Anh Duy – người đã giúp
đỡ nhóm hoàn thành tiểu luận này – có thể tiếp tục góp ý để chúng em có thể hoàn thiện hơn nữa bài tiểu luận của mình
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy
Trang 6NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận về phong cách lãnh đạo
1 Một số khái niệm liên quan
1.1 Lãnh đạo và phong cách lãnh đạo
1.1.1 Lãnh đạo
Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến hoạt động của một cá nhân hoặc một nhóm, nhằm đạt được mục đích trong những điều kiện cụ thể nhất định Lãnh đạo là khả năng lôi cuốn người khác đi theo mình, là biết tạo ra mối ràng buộc giữa người và công việc bằng cách quan tâm cả hai Ngoài ra lãnh đạo còn là khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng lên người khác để hoàn thành những mục tiêu mong muốn Nói cách khác, lãnh đạo thiên về khía cạnh nhân bản và nhắm đến “người” để nối kết họ thành một đội ngũ và động viên họ tiến tới mục tiêu mong muốn
Có hai loại lãnh đạo là lãnh đạo chính thức và lãnh đạo không chính thức Lãnh đạo chính thức là người lãnh đạo có thực quyền Người lãnh đạo có thực quyền là người lãnh đạo đồng thời đóng vai trò quản trị viên trong một tổ chức, được trao ban quyền hạn và chức năng hành xử trên người khác để thi hành một công tác theo hoạch định Người lãnh đạo không chính thức hay còn gọi là lãnh đạo tự nhiên, là người lãnh đạo do thiên phú với phong cách lôi cuốn người khác Tuy họ không có quyền hạn chính thức để sai khiến, nhưng lời nói của họ có giá trị, được người khác lắng nghe và thực hiện Những người lãnh đạo tự nhiên này thường được người khác ngưỡng mộ như một chứng nhân gương mẫu về cách tổ chức và thực hiện đối với đời sống cá nhân cũng như xã hội
1.1.2 Các học thuyết về lãnh đạo
Việc đi sâu tìm hiểu các học thuyết về lãnh đạo sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn và sâu hơn về bản chất của lãnh đạo Hiện thời, trên thế giới đang tồn tại 5 học thuyết lãnh đạo Đó là, học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất (the traitbased leadership
Trang 7theory), học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi (the behavior-based leadership theory), học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở quyền lực và sự ảnh hưởng (the power-influence leadership theory), học thuyết về lãnh đạo theo tình huống (the situational leadership theory), và học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tích hợp (the integrative leadership theory) Sau đây là các nội dung cụ thể của một số học thuyết chủ đạo về lãnh đạo
(i) Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất (the trait-based leadership
theory) Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất là học thuyết về lãnh đạo ra đời sớm nhất Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất cho rằng lãnh đạo 12 phải là những người có những tố chất siêu phàm, phải có những giá trị vượt trội so với đông đảo những người còn lại; và chính những tố chất siêu phàm và giá trị vượt trội vốn có
do tạo hóa ban tặng đó đã giúp họ trở nên xuất chúng và trở thành những người đứng đầu một quốc gia, một bộ tộc, một tôn giáo hay một tổ chức nào đó (Yukl & Van Fleet, 1992) Các học giả và các nhà nghiên cứu về lãnh đạo của giai đoạn này (1930s-1940s)
đã tiến hành nghiên cứu và đã nhận ra rằng tố chất vượt trội, giá trị vượt trội như vô cùng mạnh mẽ, vô cùng quyết đoán, vô cùng mưu lược, có tầm nhìn chiến lược hơn người là những nhân tố cơ bản, chính yếu để giúp một ai đó trở thành lãnh đạo Chính
vì lẽ đó, các nhà lãnh đạo trong thời kỳ này là những người có quyền lực vô biên và họ thường điều hành cấp dưới của họ thông qua quyền lực vô biên đó Hiện thân của các nhà lãnh đạo trong thời kỳ này là những người đứng đầu các quốc gia, các tướng lĩnh, các chủ doanh nghiệp, chủ trang trại Họ là những người đứng mũi chịu sào, những người cầm cân nảy mực trong mọi hoạt động của xã hội, cộng đồng, và tổ chức Họ nghĩ ra việc và cầm tay chỉ việc cho các cấp dưới của mình, còn những người cấp dưới chỉ biết thực thi công việc được giao một cách thụ động Phong cách lãnh đạo, điều hành này về thực chất là điều hành thông qua mệnh lệnh và thuần tuý định hướng công việc - the task-based approach (sẽ được trình bày rõ ở phần lãnh đạo hiệu quả) Bên cạnh những yếu tố thuộc về tố chất, các học giả như Bass (1990), Hosking & Morley (1988), và Yukl & Van Fleet (1992) cũng cho rằng kỹ năng, kinh nghiệm sống cũng
Trang 8như trận mạc là những nhân tố vô cùng quan trọng cùng bổ trợ cho các tố chất vượt trội vốn có để giúp cho các nhà lãnh đạo chèo lái con thuyền của mình
(ii) Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi (the behavior-based
leadership theory) Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi ra đời từ những năm 1950s sau khi các học giả, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạt động thực tiễn bắt đầu cảm nhận được những nhược điểm, hạn chế của học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở 13 hành vi cho rằng bất cứ một ai mà bằng hành động, ứng xử (behavior) của mình làm cho người khác làm theo được ý định của mình thì người đó mới thực sự là lãnh đạo
Thật vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, đời sống kinh tế của người dân không ngừng được cải thiện, dân trí không ngừng được nâng cao Sự phát triển không ngừng của kinh tế, xã hội, dân trí đã không ngừng tạo đà và phát triển nền dân chủ mà ở đó mọi người đều được tự do, mọi người đều được bình quyền, bình đẳng
Tự do, bình quyền, bình đẳng là những yếu tố có tính “trái chiều” với cơ chế tập quyền, mệnh lệnh Vì vậy, cần thiết phải có một học thuyết mới về lãnh đạo để đáp ứng yêu cầu đó của thực tiễn - học thuyết đó là học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất Các học giả Yukl & Van Fleet (1992), Wall & Lepsinger (1990) đã tiến hành các nghiên cứu của mình và chỉ ra rằng thành công của công tác lãnh đạo không chỉ phụ thuộc vào các tố chất vượt trội do tạo hóa ban tặng của các nhà lãnh đạo mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố thuộc về con người như động viên khuyến khích, gây ảnh hưởng, khai thác yếu tố tâm lý, yếu tố tinh thần
(iii) Học thuyết về lãnh đạo dựa trên cơ sở quyền lực và sự ảnh hưởng (the
power-influence leadership theory).Gây ảnh hưởng và quyền lực là hai trong số các nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo Như đã đề cập ở trên, gây ảnh hưởng là một năng lực tối quan trọng và không thể thiếu đối với bất cứ một nhà lãnh đạo nào Gây ảnh hưởng là quá trình tác động nhằm thu phục cấp dưới trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý, đồng bộ các biện pháp kích thích Vì vậy, gây ảnh hưởng không chỉ giúp các nhà lãnh đạo tạo sự gắn kết, tập hợp lực lượng xung quanh mình, mà còn giúp các nhà
Trang 9lãnh đạo tự hoàn thiện hình ảnh của chính bản thân mình (Bradford & Cohen, 1984)
Để gây được ảnh hưởng đối với cấp dưới, các nhà lãnh đạo vẫn phải có quyền lực (power) Vậy, về bản chất quyền lực là gì? Biểu hiện cụ thể của quyền lực là gì? Quyền lực thể hiện quyền uy của một nhà lãnh đạo đối với cấp dưới của mình Quyền lực chính là khả năng gây ảnh hưởng đối với cấp dưới (Mintzberg, 1983; Pfeffer, 1992) Nói một cách chung nhất, quyền lực chính là khả năng tác động của một cá nhân nào
đó vào những người còn lại Bởi vậy, quyền lực và khả năng gây ảnh hưởng có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, khăng khít với nhau Các nghiên cứu về quyền lực và gây ảnh hưởng đã chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo đã sử dụng quyền lực để gây ảnh hưởng và ngược lại các nhà lãnh đạo đã kết hợp các biện pháp, kỹ thuật gây ảnh hưởng để nâng tầm quyền uy của mình Thực tế đã chứng minh, cấp dưới nể trọng cấp trên của mình
có thể vì các tố chất vượt trội của họ, cũng có thể vì những đức tính đáng kính của họ Bởi vậy, học giả Northouse (1997) cho rằng quyền uy của lãnh được hun đúc bởi chính các mối quan hệ qua lại của họ với cấp dưới Giống vậy, French & Raven (1959) cho rằng quyền uy không thể được tạo lập thông qua một mối quan hệ cụ thể nào đó, mà phải được vun đắp với mọi người trong một thời gian dài
Các thủ thuật gây ảnh hưởng cũng hết sức đa dạng và phong phú Các nhà lãnh đạo có thể gây ảnh hưởng thông qua sử dụng vật chất, các nhà lãnh đạo cũng có thể khai thác yếu tố tinh thần Các nhà lãnh đạo cũng có thể sử dụng biện pháp trực tiếp hay gián tiếp; chính thống hay phi chính thống Tuy nhiên, sử dụng biện pháp nào, cho đối tượng nào, và trong tình huống nào là cả một sự cân nhắc và là cả một nghệ thuật
Có một số loại quyền lực phổ biến có thể thống kê ra đây: Quyền lực do chức vụ, quyền lực do đãi ngộ, quyền lực do sự trừng phạt, quyền lực do sự kính trọng, quyền lực do năng lực chuyên môn, quyền lực do việc nắm giữ thông tin mang lại
1.1.3 Phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo là những phương pháp hoặc cách thức nhà lãnh đạo thường dùng để gây ảnh huởng đến đối tượng bị lãnh đạo
Trang 10Xét trên phương diện cá nhân, phong cách lãnh đạo chính là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi của người đó thể hiện các nỗ lực ảnh huởng tới họat động của những người khác
Xét trên phương diện tổng thể, phong cách lãnh đạo là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của họat động và quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi đặc điểm nhân cách của họ
1.2 Phong cách lãnh đạo độc đoán
1.2.1 Đặc trưng
Phong cách lãnh đạo độc đoán còn được gọi là phong cách lãnh đạo chuyên quyền, phong cách lãnh đạo theo hành chính xử phạt, phong cách lãnh đạo theo chỉ thị, phong cách lãnh đạo cương quyết Ở đây nhà lãnh đạo sẽ áp đặt nhân viên; các nhân viên nhận lệnh và thi hành mệnh lệnh, nhà lãnh đạo sẽ tập trung hết quyền lực vào tay của mình
Biểu hiện của những nhà lãnh đạo độc đoán là họ thường áp đặt công việc với sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ Nhà lãnh đạo độc đoán thường lấy mình làm thước đo giá trị, họ không quan tâm đến ý kiến của người khác dù là đồng đội hay nhân viên mà chỉ hoàn toàn dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của chính mình Các nhà lãnh đạo độc đoán thường nói chính xác những gì họ muốn các nhân viên của mình phải làm và làm
ra sao mà không kèm theo bất kỳ lời khuyên hay chỉ dẫn nào
1.2.2 Ưu điểm và hạn chế
Phong cách lãnh đạo độc đoán có 3 ưu điểm chính như sau:
- Thứ nhất, được nhà lãnh đạo sử dụng thành công trong một tập thể mới thành lập, chưa thiết lập được nguyên tắc hoạt động… hoặc trong các tập thể đang mất phương hướng hoạt động, không khí trong tổ chức là gây hấn…
- Thứ hai, sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào vai trò cá nhân của nhà quản trị Nếu nhà quản trị giỏi sẽ mang lại nhiều thành công cho tổ chức
Trang 11- Thứ ba, trong các trường hợp khẩn cấp thì sự độc đoán chuyên quyền của lãnh đạo đôi khi mang lại những hiệu quả bất ngờ
Ngược lại, phong cách lãnh đạo độc đoán cũng bộc lộ nhiều nhược điểm cần được khắc phục, trong đó những hạn chế lớn nhất của phong cách này gồm có:
- Thứ nhất, người lãnh đạo không quan tâm đến suy nghĩ cũng như ý kiến của nhân viên nên không tận dụng được sự sáng tạo của nhân viên dưới quyền
- Thứ hai, quyết định của người lãnh đạo chuyên quyền thường ít được cấp dưới chấp nhận, đồng tình và làm theo, thậm chí còn dẫn đến sự chống đối của cấp dưới
- Thứ ba, với phong cách này, nhân viên ít thích lãnh đạo, hiệu quả làm việc cao hơn khi có mặt lãnh đạo, thấp khi không có mặt lãnh đạo
- Thứ tư, không khí trong tổ chức phụ thuộc vào định hướng cá nhân
1.2.3 Trường hợp áp dụng
Phong cách lãnh đạo độc đoán rất thích hợp khi có một mệnh lệnh từ cấp trên mô
tả những gì cần phải làm và phải làm như thế nào Phong cách quản lí này cũng thích hợp trong trường hợp các nhân viên còn hạn chế về kinh nghiệm hoặc thiếu những kĩ năng cần thiết để hoàn thành công việc Cần độc đoán với những người ưa chống đối, những người không có tính tự chủ, thiếu nghị lực và kém tính sáng tạo
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành phong cách lãnh đạo
Mỗi phong cách lãnh đạo có những ưu, nhược điểm riêng và việc lựa chọn phong cách lãnh đạo phù hợp là rất quan trọng đối với nhà lãnh đạo trong quản lí, điều hành công việc
Xét về bản thân nhà lãnh đạo, việc hình thành phong cách có thể phụ thuộc vào: tuổi tác, tính cách, kinh nghiệm, trình độ, năng lực, trạng thái tâm lí, nghề nghiệp, vị trí công tác, đặc điểm ngành nghề và mục tiêu của bản thân họ
Xét tới các yếu tố tác động từ bên ngoài, phong cách của nhà lãnh đạo dần được định hình theo thời gian do: hoàn cảnh lãnh đạo, các tình huống quản trị, văn hóa quản
Trang 12lí của đối tượng, mối quan hệ với nhân viên và giữa các nhân viên, mức độ sức ép công việc và năng lực làm việc của nhân viên
Từ đó có thể thấy phong cách lãnh đạo được hình thành từ kết quả của mối quan
hệ giữa tính cách cá nhân với môi trường và được biểu hiện bằng công thức: Phong cách lãnh đạo = Cá tính x Môi truờng
3 Những nhà lãnh đạo tiêu biểu có phong cách lãnh đạo độc đoán
Chủ tịch Mao Trạch Đông:
Mao Trạch Đông đã lãnh đạo nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho đến năm
1976 Ông đã dẫn đầu Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chiến thắng trong cuộc nội chiến Mao Trạch Đông đã được ghi nhận như là người anh hùng của nhân dân Trung Quốc cho tới tận ngày hôm nay Chủ tịch Mao đã sử dụng một số phương pháp lãnh đạo theo chủ nghĩa Mác và ý tưởng từ Đảng cộng sản Nga Tuy nhiên, rất nhiều chính sách của ông đã gây ra cái chết của hàng triệu người Trung Quốc
tế Mexico đã đi vào suy thoái trong những năm đầu của thế kỷ 20, một số lượng lớn thợ mỏ đã đình công Đây là khởi đầu cho sự kết thúc của triều đại Porfirio Diaz với tư cách một nhà lãnh đạo
Fidel Castro:
Fidel Castro là một chính trị gia, nhà lãnh đạo cách mạng, và một luật sư Cuba Ông đã có đóng góp lớn trong cuộc Cách mạng Cuba Ông đã thách thức Mỹ trong nhiều thập kỷ Hầu hết người dân Cuba xem Fidel như con quái vật đã phá hủy Cuba
Trang 13Một số người khác xem ông như một người nhìn xa trông rộng bảo vệ đất nước tránh khỏi chủ nghĩa tư bản
Adolf Hitler:
Adolf Hitler là người gây ra cuộc tàn sát bi thảm nhất trong Thế chiến II Nhân loại sẽ không bao giờ quên cuộc thảm sát đẫm máu lấy đi hàng triệu mạng người Do Thái của Hitler Việc làm của ông cũng trực tiếp dẫn đến cuộc chiến tranh bạo lực nhất trong lịch sử thế giới
Pol Pot:
Pol Pot thường được biết đến với cái tên Saloth Sar Pot đã tạo ra trại lao động và các trang trại để nhốt người dân nếu họ không thực hiện theo chỉ thị của mình Trong suốt thời gian đương nhiệm, ông đã ép buộc rất nhiều người dân phải đào mộ chôn cất lượng lớn người Đó là những người bị chôn sống hoặc bị đánh đến chết để tiết kiệm đạn Pol Pot bị người Việt Nam lật đổ vào năm 1977, khi dám ngang nhiên đánh phá biên giới Việt Nam Người ta ước tính rằng một phần tư dân số Campuchia đã bị giết trong thời gian Pol Pot trị vì
đe dọa và nói rằng nếu ông không trở về Ý và cố gắng khôi phục chủ nghĩa phát xít,
Trang 14Đức quốc xã sẽ tiêu diệt một số thành phố Ý Mussolini buộc phải đồng ý Năm 1945, ông đã bị quân cộng sản nổi dậy giết chết Xương của ông bị treo lộn ngược ở Milan
Vladimir Lenin:
Vladimir Lenin luôn tin tưởng vào những ý tưởng bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản Ông xem đó là lực lượng giải phóng Ông cũng tin tưởng vào phong trào nữ quyền Lenin đã ra lệnh “khủng bố đỏ” đối với những người phản đối lãnh đạo và nhanh chóng xây dựng các trại lao động Tỷ lệ tử vong tại các trại lao động rất cao, nơi đây cũng xảy ra hàng loạt vụ hành quyết tại đây
General Franco:
Franco đã từng là một quân nhân Tây Ban Nha đã trải qua một cuộc cách mạng
và một chế độ độc tài mới dưới thời Francisco Franco trong cuộc chiến tranh Thế giới thứ II khi Hitler tiêu diệt người Do Thái Ông đã làm bạn với một số người tồi tệ nhất trong nền chính trị châu Âu, nhưng Franco chưa bao giờ tham gia vào Thế chiến II Ông không hiếu chiến tham gia chống lại các quốc gia đồng minh
Idi Amin:
Idi Amin là một nhà độc tài Uganda, đứng trong hàng ngũ của trung đoàn thuộc địa của Anh và cuối cùng trở thành chỉ huy của toàn bộ quân đội Uganda Ông nắm quyền kiểm soát một phần nhỏ trung tâm các quốc gia châu Phi và sau đó tự tuyên bố mình là tổng thống Ông đã gây ra các vụ vi phạm nhân quyền, giết người và cũng là người gửi thư tình cho Nữ hoàng Elizabeth
Nhận xét chung: Tuy cùng là phong cách lãnh đạo độc đoán nhưng biểu hiện
phong cách này ở mỗi nhà lãnh đạo lại rất đa dạng bởi tình hình từng quốc gia là khác nhau Trong thời điểm hiện tại, chúng ta có thể nhìn nhận rằng ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo độc đoán của 10 vị kể trên tới đất nước của họ trong tương lai có vẻ như tích cực ở một số vị như Mao Trạch Đông, và tiêu cực ở một số trường hợp khác như Polpot hay Idi Amin… nhưng nhóm làm đề tài tin rằng trong thời điểm đó, những nhà lãnh đạo này đều sử dụng những gì mà họ cho là tốt nhất đối với quốc gia của mình dựa trên lý tưởng của họ Do đó ta có thể thấy việc áp dụng phong cách lãnh đạo độc
Trang 15đoán như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh là rất quan trọng, và đến thời điểm hiện tại thì Lý Quang Diệu đã làm rất tốt điều đó
II Giới thiệu về Lý Quang Diệu
1 Khái quát về tiểu sử, vai trò của Lý Quang Diệu đối với thành tựu của Singapore
Ông Lý Quang Diệu sinh ngày 16 tháng 9 năm 1923 trong một gia đình gốc Hoa giàu có đã định cư tại Singapore từ thế kỷ 19 Sau thế chiến II, ông Lý Quang Diệu theo học ngành luật ở ĐH Fitzwilliam tại Cambridge, Anh Năm 1949, ông trở thành luật sư nhưng về Singapore để xây dựng sự nghiệp Tại đây ông trở thành người tư vấn luật cho các hoạt động thương mại và các tổ chức liên đoàn sinh viên
Năm 1954, Singapore là thuộc địa của Anh, nằm dưới quyền quản lý của một thống đốc và hội đồng lập pháp được chỉ định Ông Lý Quang Diệu khi ấy muốn thay đổi cấu trúc quản trị của đất nước Tháng 11 năm 1954, ông thành lập Đảng Nhân dân hành động (PAP) và trở thành tổng thư ký PAP
Năm 1955, một hiến pháp mới được đưa ra ở Singapore và trong cuộc bầu cử sau
đó, PAP giành 3 ghế ở hội đồng lập pháp
Năm 1956 ông Lý Quang Diệu đến London cùng phái đoàn đòi quyền tự trị cho Singapore
Năm 1958, ông giúp thương thuyết đưa Singapore trở thành một chính phủ độc lập (ngoại trừ các vấn đề về quốc phòng và ngoại giao)
Tháng 6 năm 1959, tổng tuyển cử diễn ra Đảng PAP của ông Lý Quang Diệu giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp, Singapore giành quyền tự trị trong mọi lĩnh vực của đất nước ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, chấm dứt quãng thời gian là thuộc địa của Anh từ năm 1819
Trang 16Sau khi lên nắm quyền, ông Lý Quang Diệu thực hiện các chính sách phát triển
đô thị, xây nhà, cải tổ kinh tế, công nghiệp hóa… Ông kêu gọi sáp nhập Singapore vào Malaysia và chấm dứt chế độ thuộc địa của Anh Trưng cầu dân ý năm 1962 cho kết quả 70% dân Singapore ủng hộ sáp nhập vào Malaysia Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Malaysia
Ngày 7 tháng 8 năm 1965, do căng thẳng giữa người gốc Hoa và người Malay dẫn tới bạo động tại Singapore Maylaysia quyết định trục xuất Singapore ra khỏi liên bang Ông Lý Quang Diệu ký thỏa thuận rời Malaysia Ông Lý Quang Diệu phải đối mặt với thách thức lớn bởi một Singapore rời Malaysia trở nên đơn độc trong khi không có tài nguyên và năng lực quốc phòng hạn chế
Singapore cần một nền kinh tế mạnh để tồn tại với tư cách quốc gia độc lập Ông
Lý Quang Diệu thực hiện chương trình đưa Singapore trở thành một nhà xuất khẩu lớn
và khuyến khích đầu tư nước ngoài Singapore cũng tìm kiếm sự công nhận quốc tế khi gia nhập Liên Hiệp Quốc và Khối Thịnh vượng chung
Thập niên 1980, Singapore đạt mức tăng trưởng cao, nâng cấp các ngành công nghệ cao, khánh thành sân bay quốc tế Changi Các chính sách của ông Lý Quang Diệu
đã đưa cảng Singapore trở thành một trong những hải cảng nhộn nhịp nhất thế giới Singapore trở thành trung tâm giao thông quan trọng của khu vực và là trong tâm du lịch lớn
Tháng 11 năm 1990, ông Lý Quang Diệu trao lại ghế thủ tướng cho ông Ngô Tác Đống nhưng vẫn tiếp tục ở lại nội các với vị trí Bộ trưởng Cao cấp
Tháng 8 năm 2004 Ngô Tác Đống rút lui và bàn giao chức vụ thủ tướng cho Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu Ông Lý đảm vụ chức vụ mới là Bộ trưởng
Cố vấn trong giai đoạn từ năm 2004 đến khi qua đời
Ngày 23 tháng 3 năm 2015, ông Lý Quang Diệu qua đời ở tuổi 91 tại Bệnh viện
đa khoa Singapore để lại niềm tiếc thương vô bờ cho nhân dân Singapore cũng như cộng đồng quốc tế
Trang 172 Các yếu tố giúp hình thành nên phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu
Ông đã được nhận một học bổng vào học kinh tế, văn chương Anh và toán tại Raffles College – nay là Đại học quốc gia Singapore Đây cũng là nơi ông gặp bà Kha Ngọc Chi, người vợ tương lai của ông và nhiều đồng nghiệp, cộng sự của ông sau đó Việc học của ông bị gián đoạn trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Singapore nhưng năm 1946, ông đã sang Anh vào học tại trường kinh tế London và sau đó chuyển tới trường Fitzwilliam, thuộc đại học Cambridge Tại đây ông đạt những thành tích cao và được trao tấm bằng hạng ưu ngành luật vào năm 1949
Trong số những người lập quốc hay thế hệ lãnh đạo đầu tiên của các quốc gia hậu thuộc địa, trong đó có Việt Nam, hiếm có ai được đào tạo bài bản, học vấn cao, và có điều kiện tiếp xúc nhiều với giới trí thức, học hỏi được những tiến bộ – đặc biệt liên quan đến chính trị, luật pháp – của các nước phương Tây như ông
Được học cao, được đào tạo bài bản tại những trường có uy tín của Anh là một lý
do quan trọng tại sao ông Lý Quang Diệu vượt trội các nhà lãnh đạo ở các quốc gia hậu thuộc địa cùng thời với ông hay thậm chí sau ông, về nhiều mặt – đặc biệt về nhận thức, tầm nhìn
Nhìn xa trông rộng
Khi nói về ông Lý Quang Diệu, giới quan sát, nghiên cứu đều cho rằng ông là
Trang 18Chẳng hạn, dù Singapore cũng từng bị thuộc địa và ông luôn muốn hòn đảo này thoát khỏi sự phụ thuộc, cai trị của Anh, ông không chỉ không phủ nhận mà còn biết tiếp thu, áp dụng những tiến bộ – đặc biệt về kinh tế, công nghệ – của Anh và các nước phương Tây khác
Mặc dù phần lớn người Singapore – và chính bản thân ông cũng là một – người gốc Hoa, ông không chọn tiếng Hoa mà là tiếng Anh để làm ngôn ngữ chính cho đảo quốc này Quyết định đó không chỉ giúp người dân Singapore dễ dàng tiếp xúc với các nước phát triển như Anh, Mỹ và học hỏi, tiếp nhận tri thức, công nghệ cao của phương Tây mà còn bắc cầu để những tập đoàn lớn trên thế giới đến với hòn đảo nhỏ này
Là một trí thức, ông Lý Quang Diệu, rất coi trọng giáo dục, tri thức, trọng dụng người hiền tài Ông chú tâm phát triển, trọng dụng nhân tài ở trong nước và luôn tìm cách thu hút chất xám, người tài từ các nước
Hơn nữa, là một người hiểu biết rộng, thông minh ông Diệu không giáo điều, máy móc Trái lại, ông rất thực dụng Thay vì dựa vào một chủ thuyết nào đó để giúp Singapore tồn tại, phát triển, ông nhìn thẳng vào chính những điểm yếu, thế mạnh của Singapore và bối cảnh chính trị khu vực và cố phát huy, tận dụng tất cả những điểm đó, biến chúng thành cơ hội, thế mạnh cho đất nước mình
Một điểm nổi bật khác, đáng trân trọng nữa nơi ông mà không phải nhà lãnh đạo nào cũng có đó là trung thực, mẫu mực, coi trọng luật pháp Chính điều này đã giúp Singapore trở thành một quốc gia châu Á minh bạch nhất và luôn nằm trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới Có thể việc ông theo học ngành luật và tốt nghiệp xuất sắc
về ngành này từ một trường đại học danh tiếng cũng tác động rất lớn đến tính cách này của ông
Ông Lý Quang Diệu có nhiều tính cách, phẩm chất khác giúp ông trở thành một chính trị gia lỗi lạc Nhưng nhãn quan biết nhìn xa, trông rộng của ông là một yếu tố quan trọng giúp ông làm nên bao điều ‘thần kỳ’ cho Singapore
Trang 19Từ một nước nghèo, kém phát triển, thiếu tài nguyên, lại phải đối diện nhiều bất
ổn xã hội, chỉ trong một thời gian ngắn Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có, văn minh, ổn định, bỏ xa tất cả các nước trong khu vực
Chẳng hạn, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, vào năm 1960 – một năm sau khi ông lên nắm giữ chức Thủ tướng Singapore tự trị – ước tính thu nhập bình quân đầu người của Singapore là 395 USD Con số đó ở miền Nam Việt Nam là 223 USD và miền Bắc Việt Nam là 74 USD
Nhưng năm 2013, thu nhập bình quân đầu người ở Singapore lên tới 55,182 USD trong khi ấy ở Việt Nam chỉ là 1,910 USD
3 Đánh giá về phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Lý Quang Diệu
Lý Quang Diệu nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập
và tách rời khỏi Malaysia Ông được quốc tế nhiều lần vinh danh như huân chương Mặt trời mọc năm 1967, giải thưởng Woodrow Wilson cho dịch vụ công do Trung tâm Học giả Quốc tế Woodrow Wilson trao tặng Tổng thống Obama gọi ông Lý là “người giúp thúc đẩy các phép màu kinh tế Châu Á” và “Huyền thoại của Châu Á trong thế kỷ
20 và 21” Sau khi ông qua đời, “Thủ tướng chính phủ đã tuyên bố thời gian Quốc tang
kể từ ngày 23/3 đến 29/3… Như một dấu hiệu của sự tôn trọng những năm cuối đời của ông Lý Quang Diệu, những lá cờ trên tất cả các tòa nhà chính phủ sẽ được treo rủ từ hôm nay cho đến chủ nhật” (Nguồn: Thông báo của văn phòng thủ tướng Singapore về việc tổ chức quốc tang ông Lý Quang Diệu)
Trong suốt cuộc đời mình với vai trò là một chính khách, ông Lý Quang Diệu được nhận xét là một nhà lãnh đạo tài ba, độc đoán nhưng linh hoạt Một số biểu hiện nổi bật làm nên nét riêng biệt trong phong cách lãnh đạo mà người ta thấy ở ông đó là: thẳng thắn, vì dân và theo tiêu chuẩn đạo đức cao Chính những phẩm chất tốt đẹp đáng quý trọng ấy kết hợp với đặc trưng đến từ phong cách độc đoán đã giúp Lý Quang
Trang 20Diệu đặt nền móng dẫn dắt Singapore trở thành một trong số ít các trung tâm của Châu
Á như ngày hôm nay
III Phân tích phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu
1 Những đặc trưng trong phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu
Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu nổi tiếng là người làm nhiều hơn nói, phong cách lãnh đạo của ông có thể được nhận thấy qua cách ông tác động lên tất cả các khía cạnh của đất nước Singapore và đời sống của những người dân ở đây Bởi vậy
nhóm đã lựa chọn tìm hiểu phong cách lãnh đạo của ông Lý Quang Diệu dựa trên cách tiếp cận theo hành vi, vì dựa vào các hành vi để tìm ra phong cách lãnh đạo rất phù hợp
với một vị chính khách tích cực tham gia vào nhiều hoạt động như ông
Dựa trên nghiên cứu từ Đại học Iowa của Kurt Lewin, dễ dàng nhận thấy Lý
Quang Diệu là nhà lãnh đạo có phong cách độc đoán Bảng sau đây phân tích phong
cách chuyên quyền của Lý Quang Diệu thông qua sự tóm lược về hành vi của ông trong khoảng thời gian đương nhiệm:
S
T
T
Tiêu chí Biểu hiện của phong cách độc đoán ở Lý
Quang Diệu (Autocratic)
1 Ra quyết định (Decision
Making)
Ra quyết định đơn phương
Lý Quang Diệu đã tự mình đề ra các quyết sách
mà hầu hết không để tâm đến sự đồng thuận hay không của số đông, dù luôn tham khảo ý kiến của người dân nhưng bản thân ông vẫn là người ra quyết định cuối cùng Ông từng nhiều lần bất chấp
sự phản đối của một bộ phận dân chúng, nghiệp đoàn, các phe đối lập và tự ra quyết định dựa trên phân tích cá nhân
Trang 212 Quyền lực (Power) Tập trung quyền lực
Trong khoảng thời gian đương nhiệm, ông Lý là người đứng đầu nhà nước Singapore, mọi quyết sách đều cần có sự đồng ý của ông Ông đứng đầu PAP - Đảng cầm quyền tại Singapore, về cơ bản Singapore vẫn luôn do đảng phái của ông Lý chi phối và thống trị từ khi PAP được thành lập đến nay (1959-2015)
3 Kiểm soát (Supervise) Kiểm soát chặt chẽ
Ở thời kỳ tại chức của mình, ông Lý Quang Diệu tiến hành kiểm soát rất chặt chẽ truyền thông trong nước và hạn chế tự do dân sự, siết chặt các quy định và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật tuyệt đối của người dân, ông cũng nổi tiếng trong việc can thiệp quá sâu vào lối sống của người dân Tất
cả nhữngbiểu hiện đó của Lý Quang Diệu đều nhằm mục đích kiểm soát nghiêm ngặt cả ý thức
và hành động của công dân trong nước, hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia bền vững
4 Yêu cầu (Requirement) Chuyên quyền, yêu cầu sự phục tùng
Ông Lý luôn đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối ở những người dưới quyền và sự tuân thủ nghiêm ngặt từ phía người dân đối với những quyết sách
mà ông đã đưa ra Yêu cầu do ông đưa ra hầu như được tuân thủ một cách tuyệt đối, bởi dựa trên hệ thống pháp luật nghiêm ngặt, những người chống lại mệnh lệnh hay vi phạm quy định do ông đưa ra đều phải chịu mức phạt rất nặng Điều này được