Quản lý hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý.Vấn đề “Văn hóa nghề nghiệp” của luật sư Việt Nam Thực trạng và giải pháp.Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam Thực trạng và hướng hoàn thiện.Tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư ở Việt Nam Thực trạng và hướng phát triển.Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam Thực trạng và hướng hoàn thiện.Quyền và nghĩa vụ của luật sư (Việt Nam) khi tham gia tố tụng Thực trạng và hướng hoàn thiện các qui định của pháp luật.Quan hệ giữa Luật sư với Điều tra viên Thực trạng và giải pháp.Quan hệ giữa Luật sư với Kiểm sát viên Thực trạng và giải pháp.Quan hệ giữa Luật sư với Thẩm phán Thực trạng và giải pháp.Quan hệ giữa luật sư với khách hàng Thực trạng và giải pháp.
Trang 1TỔNG HỢP CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO
Trang 2XÂY DỰNG VĂN HÓA NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ ĐÁP
ThS Cao Thị Ngọc Hà2
1 Văn hóa nghề nghiệp của Luật sư trước yêu cầu cải cách tư pháp
Luật sư là người hành nghề thực tế liên quan đến lĩnh vực pháp luật, bằng kiến thứcpháp luật, kỹ năng nghề nghiệp thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của kháchhàng, cung cấp các dịch vụ pháp lý như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, đại diệnbảo vệ quyền lợi của thân chủ trước Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng Luật sưkhông chỉ có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ mà còn cónghĩa vụ phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư, giữ gìn phẩm chất và uy tínnghề nghiệp, có thái độ lối sống và văn hóa ứng xử đúng mực trong hành nghề đểxứng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với Luật sư và nghề luật sư
Ở Việt Nam hiện nay, nghề Luật sư đang dần khẳng định được vai trò quan trọng Tuynhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu cải cách tư pháp, việc hoàn thiện khungpháp lý nói chung và xây dựng phát triển văn hóa nghề nghiệp của Luật sư nói riêngvẫn đặt ra nhiệm vụ quan trọng cấp thiết hiện nay
Không gian văn hóa pháp đình, văn hóa nghề nghiệp chứa đựng trong đó những giá trị,chuẩn mực trong ứng xử của các chủ thể là những người hành nghề luật Trong mộtthời gian dài, nhiều người quan niệm trong phòng xét xử của Tòa án không có chỗ choứng xử văn hóa, chỉ hiện diện mệnh lệnh và quyền uy, cùng với nó là mối quan hệ mộtchiều, từ trên xuống… Thực tế, văn hóa nghề nghiệp của những người tiến hành tốtụng và người tham gia tố tụng thể hiện lịch sự, tôn trọng, nghiêm túc và chuẩn mực.Tại phiên tòa, Luật sư không chỉ tham gia phản biện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp củakhách hàng mà còn giúp cho người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của họ Nếu người tiến hành tố tụng hành động đúng pháp luật, nhận định
và kết luận hoàn toàn chuẩn xác thì đồng thời cũng không còn chỗ cho Luật sư phảnbiện Yêu cầu cao nhất của việc xét xử tại phiên toà là đảm bảo dân chủ, khách quan,chính xác, toàn diện, đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên đôi khi, người tiến hành
tố tụng không thừa nhận chức năng này của Luật sư nên tại phiên tòa còn xảy ra tìnhtrạng Luật sư phản biện nhưng lý lẽ của Luật sư không được những người tiến hành tốtụng xem xét đúng mực Do đó, quan hệ giữa Luật sư và những người tiến hành tốtụng có khi không lịch sự ngay tại phiên tòa cũng như ra ngoài xã hội, điều này ảnhhưởng tới văn hóa nghề nghiệp của Luật sư
Có thể thấy văn hóa nghề nghiệp Luật sư là tổng thể các yếu tố nhận thức về bản chấthoạt động của luật sư, vai trò vị trí của Luật sư trong hệ thống tư pháp tác động đến sựphát triển dân chủ xã hội cùng toàn bộ các giá trị có được từ sự tích lũy các thành tựu
1 Th.S Cao Thị Ngọc Hà, Xây dựng văn hóa nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Học
viện Tư pháp, Tạp chí nghề luật, số 1 (2016), tr25-30.
2 Giảng viên Khoa Đào tạo luật sư, Học viện Tư pháp
Trang 3trong quá trình xây dựng pháp luật Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đặc biệt làđẩy mạnh cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-
2002 về Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghịquyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các nghị quyếtnêu trên đã đưa ra những định hướng quan trọng nhằm phát triển đội ngũ Luật sư cóphẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa ứng xử Nhưvậy, yếu tố về đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử của Luật sư luôn được coi trọng.Luật sư muốn hành nghề tốt, tạo được uy tín thì trước hết phải có đạo đức trong sáng,thể hiện việc ứng xử có văn hóa với đồng nghiệp, với khách hàng và những người tiếnhành tố tụng
2 Thực trạng văn hóa nghề nghiệp của Luật sư trong quá trình tham gia giải quyết vụ án
Ngày 20/7/2011, Hội đồng Luật sư toàn quốc Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã cóQuyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ về việc ban hành Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghềnghiệp luật sư Quy tắc này quy định những chuẩn mực về đạo đức và ứng xử nghềnghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư Trongthời gian qua, phần lớn các Luật sư đều có những ứng xử nghề nghiệp có văn hóa, hợp
lý và đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại những tìnhhuống về ứng xử của Luật sư gây nhiều tranh cãi và làm xấu đi hình ảnh của luật sư
2.1 Thực trạng văn hóa ứng xử của Luật sư ở giai đoạn điều tra, tiền tố tụng
Theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, Luật sư không được “để tiềnbạc hoặc lợi ích vật chất khác chi phối đạo đức và ứng xử nghề nghiệp làm sai lệchmục đích của nghề luật sư” Tuy nhiên, một trong những “tiểu xảo” lâu nay được một
số Luật sư sử dụng là tạo ra các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, bất lợi chokhách hàng để lôi kéo, đe dọa, làm áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặcmưu cầu lợi ích bất chính khác từ khách hàng Có những trường hợp Luật sư thông tintrực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cánhân của mình với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc công chứcnhà nước có thẩm quyền khác… Thực tế cũng có nhiều Luật sư đã áp dụng các thủđoạn cạnh tranh không lành mạnh để nhằm mục đích giành giật khách hàng như sosánh năng lực nghề nghiệp của mình hoặc tổ chức hành nghề của mình với các Luật sưkhác, tổ chức hành nghề khác; xúi giục khách hàng từ chối đồng nghiệp để nhận vụviệc về cho mình Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thểhiện ở lĩnh vực tham gia tố tụng, nhưng rõ nét nhất là trong tố tụng hình sự Trong giaiđoạn điều tra, Luật sư gặp không ít khó khăn từ phía các cơ quan điều tra Có Luật sưcho rằng, họ chưa một lần nào được vào lấy lời khai cùng Điều tra viên một cách đànghoàng, mà thường được Điều tra viên gọi vào cùng gặp bị can khi họ cần Luật sư giảithích, tác động để bị can hiểu hành vi phạm tội… Hoặc cũng có ý kiến cho rằng Luật
Trang 4sư vào hỏi cung là không cần thiết, vì “ hôm nay có Luật sư thì mai bị can phản cung”.Thậm chí, còn quan niệm cho rằng Luật sư chỉ có chạy án, thông cung Từ các quanniệm đó, các cơ quan tiến hành tố tụng coi nhẹ vai trò của luật sư, cảnh giác khi nghe ýkiến, thậm chí còn cố tình gây khó khăn không cần thiết cho hoạt động hành nghề củaluật sư Tất cả những khó khăn trên trong giai đoạn điều tra khiến các Luật sư cónhững cách ứng xử khác nhau, có những Luật sư bình tĩnh, làm theo yêu cầu của Cơquan điều tra để tránh những phiền hà, mâu thuẫn không đáng có, nhưng cũng cónhững Luật sư không giữ được bình tĩnh đã to tiếng và đôi co lại với Điều tra viên, gâynên không khí căng thẳng giữa Điều tra viên và Luật sư
2.2 Thực trạng văn hóa ứng xử của Luật sư tại phiên tòa
Văn hóa ứng xử của Luật sư trong giai đoạn xét xử không phải là câu chuyện mới,song những năm gần đây, vấn đề ứng xử văn hóa pháp đình giữa các chủ thể tiến hành
tố tụng và tham gia tố tụng diễn ra ngày một nhiều hơn Liên quan đến việc Tòa ánnhân dân tỉnh Đồng Tháp thu hồi Giấy chứng nhận người bào chữa của Luật sư LôiThị Dung trong vụ án Võ Văn Xưa, Võ Văn Sáng và từ chối cấp giấy chứng nhận bàochữa trong vụ án Phạm Văn Chẩm3 để lại nhiều băn khoăn trong giới luật sư TheoLuật sư Lôi Thị Dung (Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long), khi tham gia tố tụng tại phiêntoà phúc thẩm vụ án “cố ý gây thương tích” được xét xử tại TAND tỉnh Đồng Tháp,Thẩm phán chủ tọa phiên toà đã có những hành vi thiếu tôn trọng đối với luật sư,không cho Luật sư hỏi hoặc công bố lời khai đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan, thể hiện sự thiếu tôn trọng khi Luật sư đang bào chữa Luật sư bày tỏ thái độ thìyêu cầu Luật sư ra khỏi phòng xử Về phần mình, đại diện TAND tỉnh Đồng Tháp chorằng trong phiên tòa nói trên, Luật sư Dung lặp đi, lặp lại nhiều lần nội dung bào chữa
và có nhiều nội dung đề cập ngoài nội dung vụ án Luật sư cho rằng Toà án cấp sơthẩm áp dụng điều luật không đúng Khi được chủ toạ phiên toà nhắc nhở, yêu cầutrình bày lời bào chữa đi vào trọng tâm vụ án thì Luật sư có lời lẽ thiếu tôn trọng vàxúc phạm nghiêm trọng Hội đồng xét xử Sau khi trao đổi, xét thấy luật sư Dung viphạm nội quy, trật tự phiên toà nên Hội đồng xét xử đã áp dụng biện pháp buộc Luật
sư rời khỏi phòng xét xử nhưng luật sư Dung không chấp hành và có lời lẽ xúc phạm,cho rằng Hội đồng xét xử sai luật, thiếu văn hoá Khi tiếp nhận và xem xét khiếu nạicủa Luật sư Lôi Thị Dung, trong văn bản gửi đến Chánh án TAND tỉnh Đồng Tháp,quan điểm của Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam cho rằng, từ vụ việc này, cầnquan tâm xây dựng văn hóa nghề nghiệp trong quan hệ ứng xử giữa các chủ thể tiếnhành tố tụng và tham gia tố tụng trong các giai đoạn tố tụng hình sự, nhất là xây dựngcác chuẩn mực văn hóa tranh tụng tại phiên tòa Cho dù với bất cứ nguyên nhân hoặc
áp lực như thế nào thì hành vi của Luật sư phải thể hiện sự tôn trọng, không nên đểtrạng thái tâm lý bức xúc của cá nhân lấn át những chuẩn mực trong ứng xử với cácchủ thể tiến hành tố tụng
Từ khi thực hiện cải cách tư pháp, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa đã được cải thiệnđáng kể Tuy nhiên, một số phiên tòa vẫn diễn ra tình trạng Luật sư và Kiểm sát viên
3 Trích nguồn: Vnxexpress.net/tintuc/phapluat/luat su bi hanh vi cu cai Tham phan
Trang 5đôi co, mạt sát nhau, ví dụ: tại phiên tòa diễn ra ở Đắk Lắk, trong phần tranh luận,Luật sư cho rằng Viện kiểm sát “truy tố bị cáo như thế là vô nhân đạo” Đại diện Việnkiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cũng đáp lại: “Bài bào chữa của Luật sư trơtrẽn như lời biện hộ của bị cáo”4 Luật sư thường phàn nàn rằng Kiểm sát viên khôngxúc tiến tham gia tranh luận tại phiên tòa, đôi khi không muốn tranh luận thì kết thúcbằng câu: “Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố” Nhưng cũng có phiên tòa cảhai bên Luật sư và Kiểm sát viên đều tranh luận đến mức căng thẳng, đốp chát ngay tạitòa hoặc phản ứng bằng cách bỏ về Mới đây, tại phiên tòa xét xử một nữ bị cáo phạmtội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, một Luật sư trẻ phản ứng bằng cách “ngủ” vì chorằng phiên tòa vi phạm thủ tục tố tụng5 Dưới góc độ văn hóa, đây là những hình ảnhkhông đẹp của luật sư, ảnh hưởng đến chuẩn mực văn hóa, ứng xử nghề nghiệp củaLuật sư trong quá trình hành nghề
Thực tế cho thấy, ở các phiên tòa hiện nay đã và đang xảy ra tình trạng thiếu văn hóaứng xử nơi pháp đình Người tham gia tố tụng hay tham dự phiên tòa có sự coi thườngtôn nghiêm của pháp luật nơi công đường, bên cạnh đó cũng có một số người tiến hành
tố tụng có thái độ không đúng mực, quan liêu, cửa quyền hoặc không tận tình giảiquyết công việc người dân yêu cầu Tình trạng này đã làm giảm đi lòng tin của ngườidân đối với nhà nước và pháp luật Ở một phiên tòa hình sự, thay vì tranh luận vớiLuật sư thì Kiểm sát viên lại cho rằng: “Không hiểu Luật sư kinh nghiệm bao nhiêunăm rồi mà lại bào chữa như thế?” khiến Luật sư thiếu kiền chế, dẫn đến đôi bên cãinhau ngay tại phiên tòa Hoặc cũng có sự việc, trong phần tranh luận giữa Luật sư vàKiểm sát viên tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phát biểu trong phần tranh luận như sau:
“Luật sư N đã lập lờ đánh lận con đen, đưa hội đồng xét xử vào một vùng tăm tối của
tư tưởng ”6 Nhận xét này của Kiểm sát viên đã gây nên không khí căng thẳng tạiphiên tòa Như vậy, văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên, Luật sư trong những trườnghợp này chưa được chuẩn mực, nguyên nhân cũng là do phía người tiến hành tố tụng
đã có những lời nói không hay, cư xử không đẹp, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữaLuật sư và những người tiến hành tố tụng
Tại phiên tòa, chuyện đôi co giữa Thẩm phán và Luật sư xảy ra thường xuyên, ví dụ:trong vụ án Phan Thị Yến bị đưa ra truy tố và xét xử về tội “lừa đảo chiếm đoạt tàisản”, khi Luật sư bào chữa cho bị cáo thì bị chủ tọa bắt lỗi liên tục như: “đề nghị Luật
sư bào chữa thẳng vào nội dung vụ án”, “Luật sư trình bày với tòa sao nói trốngkhông”, “đây không phải trường luật, không cần Luật sư đọc luật như giảng bài” Luật sư cho rằng “chủ tọa không đủ tư cách ” Hậu quả là Luật sư bị mời về chỗ ngồikèm theo đó là lời cảnh cáo “sẽ có văn bản kiến nghị của Tòa án gửi đến Sở Tư pháp
và Đoàn luật sư”7 Tại phiên tòa, cũng có trường hợp trong phần thẩm vấn bị cáo, Luật
sư ngồi hỏi thay vì đứng liền bị HĐXX nhắc nhở “đề nghị Luật sư đứng dậy khi thẩmvấn” Luật sư làm theo nhưng sau đó gửi đơn đến lãnh đạo tòa này phản ánh Theo
4 Trích nguồn: www.luatdatviet.vn/xem tin tuc/bi hai van hoa phap dinh
5 Trích nguồn: thanhnien.vn/phapluat/bi hai van hoa phap dinh Bai: Ben buoc ben go
6 Trích nguồn: thanhnien.vn/phapluat/bi hai van hoa phap dinh Bai: Ben buoc ben go
7 Trích nguồn: www.luatdatviet.vn/xem tin tuc/bi haivan hoa phap dinh.
Trang 6Luật sư thì luật không quy định “Luật sư phải đứng khi thẩm vấn”, mặt khác khi thẩmvấn, Luật sư vừa hỏi vừa ghi chép, phải đứng khom lưng để viết sẽ rất khó khăn.Không biết, có phải xuất phát từ lá đơn này hay không mà sau đó ở nhiều phiên tòakhác không thấy HĐXX nhắc nhở chuyện Luật sư đứng hay ngồi.8
Trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, vai trò và vị thế của Luật sư đang ngàycàng được nâng cao Tuy nhiên, hiện tượng các Luật sư bỏ về giữa phiên tòa xảy rakhông còn là hy hữu và Hội đồng xét xử rơi vào tình thế khó xử Trong phiên tòa giữatháng 11-2010 xét xử vụ án cướp tài sản xảy ra tại Bản Phủ (huyện Điện Biên, tỉnhĐiện Biên) ba Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thị Nguyệt đã bỏ về sau khi tố Kiểmsát viên không có tên trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn ngồi ghế công
tố Trước đó, trong phiên tòa sơ thẩm xét xử Bùi Tiến Dũng (nguyên Tổng Giám đốcPMU 18) khi phiên tòa bước sang phần tranh tụng, nhiều Luật sư bức xúc vì bị chủ tọangắt lời nhiều lần và hạn chế thời gian hỏi cũng như tranh luận của luật sư, các Luật sư
đã phản ứng bằng cách đứng dậy và bỏ về Một Luật sư từng bỏ phiên tòa ra về chiasẻ: “Tôi bỏ ra về là để phản ứng lại thái độ thiếu tế nhị và coi thường Luật sư của Hộiđồng xét xử Luật sư bị hạn chế thời gian nói, nói chưa xong đã bị ngắt lời giữa chừng.Nếu Luật sư vi phạm quy định của phiên tòa thì chủ tọa có quyền mời Luật sư rangoài Còn ở đây, chủ tọa phiên tòa vi phạm quy định hạn chế thời gian nói của Luật
sư Không có biện pháp gì để phản ứng lại nên chúng tôi buộc phải bỏ ra ngoài”9.Thực tế cho thấy, do Luật sư bỏ về, có trường hợp phiên tòa vẫn tiếp tục nhưng cónhiều phiên tòa phải hoãn Có ý kiến còn cho rằng, một trong những nguyên nhân làmtồn đọng án mà không ai dám đề cập tới đó là một phần do Luật sư gây khó khăn choTòa án Thiết nghĩ, mục đích cuối cùng của tranh tụng là nâng cao chất lượng xét xử,tuy nhiên tại Tòa án, Thẩm phán, Kiểm sát viên làm việc nhân danh Nhà nước thì Luật
sư chỉ làm việc dựa trên quy định của pháp luật Luật sư căn cứ vào các điều luật đểbảo vệ thân chủ nhưng để tìm ra sự thật của vụ án, Luật sư và Kiểm sát viên phải tranhluận trên cơ sở pháp lý, trên tình tiết của vụ án, tôn trọng lắng nghe nhau Có ý kiếncho rằng, việc các Luật sư tự ý bỏ về là từ bỏ quyền bào chữa của mình gây thiệt hạicho thân chủ Đối với Tòa án, vấn đề này không ảnh hưởng nhiều, nhưng gây tâm lýkhông tốt cho tất cả những người có mặt tại phiên tòa Thực tế đặt câu hỏi về sựnghiêm minh của cơ quan xét xử, về sự điều hành của chủ tọa cũng như thái độ củaLuật sư bởi Luật sư ngoài việc bảo vệ thân chủ, họ còn có trách nhiệm cao hơn, đó làbảo vệ pháp chế XHCN Hoạt động của Luật sư đôi khi thái quá hoặc đề cao vai tròcủa mình gây sự chú ý cho những người tham gia phiên tòa cũng là điều không hay.Việc Luật sư tự ý phản ứng bằng cách bỏ phòng xử án, nếu xét về luật tố tụng và nộiquy phiên Tòa, thì việc này không vi phạm điều cấm nào, nhưng xét về đạo đức nghềnghiệp và văn hóa ứng xử của Luật sư, việc Luật sư rời phòng xử án mà không đượckhách hàng đồng ý, gây thiệt hại quyền lợi của khách hàng là vi phạm quy tắc đạo đứcnghề nghiệp Để khắc phục tình trạng này, sau mỗi vụ việc xảy ra, Lãnh đạo Tòa án vàLãnh đạo Tổ chức hành nghề Luật sư hoặc Đoàn Luật sư cần cùng nhau xem xét lại
8 Trích nguồn: www.luatdatviet.vn/xem tin tuc/bi haivan hoa phap dinh
9 Trích nguồn: www.fdvn.vn/luat su bo ve giua chung, toa met moi
Trang 7xem bên nào sai để rút kinh nghiệm, hoặc xét kỷ luật nếu cần thiết (có thể căn cứ vàobăng ghi âm, ghi hình hoặc qua lời khai của những người làm chứng tham dự phiênTòa để xem xét ai sai, mức độ sai) Về phía Tòa án, khi có hiện tượng như vậy bao giờlãnh đạo cũng xem xét lại việc điều hành của Hội đồng xét xử về diễn biến tại phiêntòa, kể cả phần tranh tụng của Kiểm sát viên, cũng như phát biểu của Luật sư để rútkinh nghiệm Mới đây, Quảng Ninh xảy ra việc một Kiểm sát viên bị kiểm điểm do cóthái độ xúc phạm Luật sư trong khi tranh tụng tại phiên tòa Để xảy ra chuyện như thếthì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng phải chịu trách nhiệm một phần Thiết nghĩ, tạiphiên tòa về nguyên tắc cả Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Luật sưđều phải có ý thức tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm của mỗi người tham gia phiên tòa.Thực tế, tình trạng ứng xử thiếu văn hóa ở Tòa án là do những người tiến hành tố tụng,tham gia tố tụng đôi khi cảm nhận vị trí của mình quá cao nên cho mình cái quyềnđược hành xử thái quá, dẫn đến ứng xử thiếu văn hóa.
Hiện nay, việc đào tạo về văn hóa pháp đình cho cán bộ tư pháp nói chung vẫn cònyếu, điều đó đã ảnh hưởng phần nào đến văn hóa pháp đình của Luật sư tại phiên tòa.Việc chấn chỉnh văn hóa pháp đình cũng là nhằm hướng đến mục tiêu cơ bản của việccải cách tư pháp, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, tránh oan sai Để khắc phụctình trạng ứng xử thiếu văn hóa của một bộ phận Luật sư nói riêng, thiết nghĩ, trongtranh tụng giữa Kiểm sát viên và Luật sư, cả hai bên đều phải biết lắng nghe, thẳngthắn nhìn nhận nếu có sai sót, cộng với thái độ khiêm tốn, bình tĩnh sẽ làm cho khôngkhí tranh luận bớt căng thẳng, giữ được văn hóa trong phiên tòa
2.3 Thực trạng văn hóa ứng xử của Luật sư với cơ quan truyền thông
Theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư có quy định Luật sư có thái độtôn trọng và hợp tác với các cơ quan thông tin đại chúng trong việc cung cấp thông tintrung thực, chính xác, khách quan theo yêu cầu của các cơ quan này nếu những thôngtin đó không làm ảnh hưởng tới quy tắc bảo mật theo quy định của pháp luật và quyềnlợi hợp pháp của khách hàng Tuy nhiên, Luật sư không được sử dụng cơ quan thôngtin đại chúng để cố ý phản ánh sai sự thật nhằm mục đích cá nhân, động cơ khác hoặctạo dư luận nhằm bảo vệ quyền lợi không hợp pháp của khách hàng hoặc phát ngôngây ảnh hưởng đến an ninh và lợi ích quốc gia Trong quá trình làm nghề, Luật sưcũng góp phần phổ biến, giáo dục, hoàn thiện pháp luật, bảo vệ pháp chế thông quacác phiên tòa và thông qua báo chí Trong những năm gần đây, việc Luật sư trả lờitrước báo chí không còn là chuyện mới Tuy nhiên, một số trường hợp các Luật sư khitrả lời báo chí đã tiết lộ một số thông tin về vụ việc của khách hàng, làm ảnh hưởngđến quyền lợi của họ; hoặc một số Luật sư do chưa nắm chắc chuyên môn nên đã trảlời không chính xác trên báo chí Điều đó ảnh hưởng đến uy tín của các Luật sư khác.Bởi vậy, trước khi làm việc với cơ quan truyền thông, Luật sư nên tìm hiểu kỹ về nộidung sẽ trả lời trước báo chí và ứng xử trước cơ quan báo chí như thế nào để xây dựngđược hình ảnh đẹp của Luật sư trong mắt công chúng
3 Một số giải pháp góp phần nâng cao văn hóa nghề nghiệp của Luật sư đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 8Thứ nhất: Đối với mỗi Luật sư, văn hóa nghề nghiệp của Luật sư là yếu tố rất quan
trọng để tạo nên uy tín và là thương hiệu đối với luật sư có tâm với nghề Một Luật sưnếu không có văn hóa ứng xử trước công chúng thì không thể gọi là đã hoàn thành tốtnhiệm vụ chức năng nghề nghiệp của luật sư Vì vậy, trước hết, muốn nâng cao vănhóa nghề nghiệp của Luật sư thì phải thay đổi từ chính nhận thức của chủ thể thựchiện Trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp về phát triển đội ngũ Luật sư
“đảm bảo về số lượng, chất lượng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống…” thì mỗiLuật sư cần nâng cao ý thức cá nhân, có trách nhiệm đối với công việc của mình vàchấp hành tốt các quy định của pháp luật, đặc biệt là bộ quy tắc đạo đức và ứng xửnghề nghiệp của luật sư
Thứ hai: Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Xây dựng văn hóa pháp đình, xây dựng lối ứng xử tôn trọng quyền của nhau là mộtđòi hỏi khách quan và phải được sự quan tâm từ nhiều phía, nhất là từ phía đại diện cơquan công quyền là Tòa án, Viện Kiểm sát vì họ là người đại diện cho quyền lực côngnên cần phải gương mẫu trước Các bên đòi hỏi được tôn trọng trên cơ sở các quy địnhcủa pháp luật tố tụng cũng như văn hóa giao tiếp Để nâng cao văn hóa nghề nghiệpcủa Luật sư cũng cần phải thay đổi nhận thức của những người tiến hành tố tụng Luật
sư và Kiểm sát viên đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, bình đẳng trong việc đưa
ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu Vai trò của Luật sư cũng cần được coi trọng từ phía các
cơ quan tiến hành tố tụng Như vậy, chỉ khi các bên đối xử với nhau trên tinh thần tôntrọng và hợp tác thì lúc đó văn hóa ứng xử mới được phát huy
Thứ ba: Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đối với nghề luật sư, chẳng hạn: ban hành
Luật văn hóa tư pháp, văn hóa nghề nghiệp Luật sư nhằm nâng cao vị thế của Luật sưtrong xã hội Những quy định về đạo đức nghề nghiệp luật sư được thể hiện rõ trong
Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, ban hành năm 2011 Bộ Quytắc này đặt ra những chuẩn mực đạo đức của giới luật sư, tạo cơ sở để Luật sư tự giácrèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong hành nghề và sinh hoạt đời sống, là thước đo giúpLuật sư giữ gìn hình ảnh, từ đó khiêm tốn học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và kỹ nănghành nghề, góp phần nâng cao uy tín của giới Luật sư trong xã hội ta Tuy nhiên, đây
là một văn bản mang tính quy phạm nội bộ, thể hiện cơ chế quản lý theo phương thức
“tự quản kết hợp với quản lý nhà nước” của Liên đoàn Luật sư Việt Nam Chính vìvậy, tính quy phạm và chế tài của nó không cao Các quy định về văn hóa nghềnghiệp, ứng xử của Luật sư cần được thể chế thành luật, ví dụ như Luật văn hóa tưpháp, trong đó có bao hàm nội dung về văn hóa nghề nghiệp của luật sư Có như vậy,việc áp dụng và vận dụng các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp luật sư, văn hóa ứng xửcủa Luật sư mới được chặt chẽ
Thứ tư: Việc đào tạo, bồi dưỡng nghề Luật sư cần được chú trọng, quan tâm hơn nữa.
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Luật sư trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo,bồi dưỡng cần bổ sung thêm các chuyên đề có liên quan đến văn hóa ứng xử của Luật
sư trong quá trình hành nghề hoặc những điều Luật sư nên tránh trong quá trình hànhnghề, tiếp xúc và trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng, tiếp xúc với cơ quan truyền
Trang 9thông, báo chí Từ đó, là cơ sở xây dựng đội ngũ Luật sư có đạo đức, văn hóa và trình
độ cao, có thể đương đầu với những vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp luật trong bốicảnh toàn cầu hóa hiện nay./
Trang 10NHẬN DIỆN CÁC SAI PHẠM, VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN, THỰC HIỆN DỊCH VỤ PHÁP LUẬT CỦA LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ TRONG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ
LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM10
Đỗ Thị Thu Hằng11
Đỗ Thị Hồng Nhung12
Tóm tắt: Dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật luật sư năm 2006 (đã sửa đổi bổ
sung năm 2012) bao gồm các hoạt động: Tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và thực hiện dịch vụ pháp lý khác Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, luật sư đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ công
lý, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội; góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng, phát triển đất nước Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một bộ phận các luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư chưa thực hiện tốt các quy định của Luật luật sư và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động nghề nghiệp luật sư Bài viết phân tích, nhận diện các sai phạm, vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế các sai phạm, vướng mắc của luật sư trong quá trình hành nghề
1 Khái quát về hoạt động của đội ngũ luật sư tại Việt Nam trong thời gian qua
Trong thời gian qua, ben cạnh lĩnh vực hoạt động của minh, cac luật sư va tổ chức
hanh nghề luật sư đa co những y kiến đong gop tich cực cho nhiều dự thảo văn bảnphap luật, gop phần xay dựng va hoan thiện hệ thống phap luật của Việt Nam, thamgia vao cong cuộc cải cach tư phap va bước đầu khẳng định được tiếng noi của giớiluật sư trong công cuộc xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Vềhoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý, tại Báo cáo trong lễ kỷ niệm 74 năm Ngàytruyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945- 10/10/2019) và 10 năm thành lập Liênđoàn Luật sư Việt Nam (2009-2019), Luật sư Phan Trung Hoài đã tổng kết những con
số ấn tượng: Trong vòng 10 năm (từ năm 2009 đến 31/12/2018), đội ngũ luật sư đãtham gia vào hơn 133.000 vụ án hình sự; trên 114.000 vụ việc dân sự; hơn 51.000 vụviệc trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, thương mại3 Không chỉ gia tăng về sốlượng, dịch vụ pháp lý của luật sư đã ngày càng nâng cao về chất lượng và có sự thayđổi, chuyển dịch cơ cấu Nếu như trước đây, các tổ chức, cá nhân chỉ có nhu cầu sửdụng dịch vụ pháp lý của luật sư khi đã thực sự xảy ra các tranh chấp, buộc phải giảiquyết bằng con đường tố tụng tại tòa án, dịch vụ pháp lý của luật sư chủ yếu là tham
10 Đỗ Thị Thu Hằng, Đỗ Thị Hồng Nhung, Nhận diện các sai phạm, vướng mắc trong hoạt động nhận, thực
hiện dịch vụ pháp luật của luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam, Học viện Tư pháp,
Tạp chí nghề luật, số 9 (2021), tr46-51.
11 Tiến sỹ, Phó Trưởng phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Học viện Tư pháp.
12 Công ty Luật TNHH Brandco.
Trang 11gia tranh tụng, thì hiện nay, việc cung cấp dịch vụ pháp lý của các tổ chức hành nghềluật sư vô cùng đa dạng và đang được sử dụng rộng rãi Người dân và doanh nghiệptìm đến luật sư để được cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ thực hiện thủ tục hànhchính (hộ tịch, đất đai, doanh nghiệp, đầu tư, sở hữu trí tuệ…) và mong muốn đượcbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngay từ quá trình đàm phán soạn thảo hợp đồng; xâydựng nội quy, quy chế; giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải; tham giavào các vụ án hình sự từ giai đoạn tiền tố tụng… Các dịch vụ pháp lý do luật sư và tổchức hành nghề luật sư cung cấp đã giúp cho các thủ tục hành chính được vận hànhnhanh chóng, chính xác, giảm thời gian, công sức, chi phí của cả cơ quan Nhà nước và
cá nhân, doanh nghiệp; giảm thiểu, hạn chế các thiệt hại và mâu thuẫn có thể xảy ratrong quá trình vận hành tổ chức và giao dịch kinh doanh; làm rõ sự thật khách quan,ngăn chặn, phát hiện những vi phạm trong quá trình tố tụng, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của khách hàng
Để tạo điều kiện cho quá trình hành nghề của các luật sư, hệ thống pháp luật liên quanđến quyền và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý cũngngày càng được hoàn thiện Các luật sư đã được đảm bảo quyền lợi tốt hơn khi thamgia quá trình tố tụng, đặc biệt, luật sư có thể được ghi nhận tư cách bảo vệ ngay từ giaiđoạn điều tra Ý kiến của luật sư tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử, kiểm sát viênquan tâm, ghi nhận và coi trọng hơn Bên cạnh các quyền theo pháp luật quy định, cácluật sư và tổ chức hành nghề luật sư phải đảm bảo tuân thủ quy định của Hiến pháp,
Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015… đến quy định chuyên ngànhquy định tại Luật luật sư năm 2006; Luật luật sư sửa đổi năm 2012 và các văn bảnhướng dẫn Bên cạnh đó, do đặc thù của nghề nghiệp, hoạt động của luật sư còn chịu
sự điều chỉnh của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam Cácquy định, quy tắc này vừa định hướng cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư, vừangăn chặn, xử lý các vi phạm
Tuy vậy, cũng giống như bất kỳ ngành nghề, tổ chức nào, bên cạnh những thành tích,
ưu điểm, hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư và tổ chức hành nghềluật sư vẫn còn những tồn tại làm ảnh hưởng đến nghề luật sư nói chung Việc nhậndiện những sai phạm và vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lýcủa luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam sẽ góp phần xâydựng, phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động nghề nghiệp của luật sư Việt Nam
2 Nhận diện một số sai phạm, vướng mắc của luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư khi nhận, thực hiện vụ việc của khách hàng
2.1 Nhận diện một số sai phạm của luật sư khi nhận, thực hiện vụ việc của khách hàng
Trong mối quan hệ với khách hàng, các sai phạm của luật sư trong tổ chức hành nghềluật sư khi nhận, thực hiện vụ việc của khách hàng xuất phát từ những sơ suất do thiếucập nhật quy định pháp luật, Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ViệtNam hoặc thiếu kinh nghiệm thực tiễn, nhưng cũng có một số trường hợp cố tình vi
Trang 12phạm vì lợi ích của chính mình Một số sai phạm phổ biến có thể nhận diện cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, nhận vụ việc của khách hàng nhưng không thực hiện
Quy tắc 11 thuộc Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam quyđịnh hành vi và cách ứng xử của luật sư trong quá trình tiếp nhận vụ việc và Quy tắc
12 quy định hành vi và cách ứng xử của luật sư khi thực hiện vụ việc của khách hàng.Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động hành nghề, một số tổ chức hành nghề Luật sư đãtiếp nhận vụ việc, ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý và đã được chi trả/tạm ứng phí dịch vụ
tư vấn/thù lao luật sư nhưng không thực hiện công việc đã cam kết
Xuất phát từ tâm lý tin tưởng vào luật sư – những người hiểu biết pháp luật, tôn trọngpháp luật và giúp đỡ người khác tìm lẽ phải, công bằng, khách hàng thường chấp nhậnchi trả trước cho luật sư một khoản thù lao cố định, không phụ thuộc vào kết quả côngviệc Tuy nhiên, sau khi nhận được khoản thù lao này, bởi nhiều nguyên nhân khácnhau, có thể do sự hạn chế về khả năng, năng lực hay do sự thiếu trách nhiệm, luật sư
đã không triển khai các công việc trên thực tế để giải quyết vụ việc của khách hàng.Khách hàng – những người đã và đang có quyền và lợi ích bị xâm phạm, lại tiếp tụctrở thành “nạn nhân” bởi chính đối tượng mà mình đã đặt sự kỳ vọng giúp mình đòi lạiquyền lợi chính đáng Do vậy, trước Tòa án nhân dân có thẩm quyền, có những luật sưkhông phải tham gia phiên tòa với vị trí người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự hay người đại diện của đương sự, mà lại đứng ở vị trí bị đơn, bị khởi kiệnbởi chính các khách hàng của mình Việc phải trả lại toàn bộ hoặc một phần chi phí đãtạm ứng cho khách hàng là tất yếu và đã xảy ra trên thực tế, nếu tổ chức hành nghềluật sư không chứng minh được mình đã thực hiện các công việc theo Hợp đồng vớikhách hàng13
Thứ hai, nhận, đòi hỏi thêm các khoản tiền, lợi ích từ khách hàng ngoài khoản thù lao
và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý
Tại điểm đ Khoản 1 Điều 9 Luật luật sư sửa đổi năm 2012 quy định trong hoạt độnghành nghề luật sư, nghiêm cấm luật sư: “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợiích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với kháchhàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý” Tuy nhiên trong thực tiễn, một số trường hợpcác luật sư, công ty luật, văn phòng luật sư vẫn yêu cầu, đòi hỏi khách hàng phải chitrả thêm các khoản tiền, lợi ích ngoài phạm vi hợp đồng dịch vụ pháp lý đã thỏa thuận.Hợp đồng dịch vụ pháp lý là cơ sở quan trọng nhất để tổ chức hành nghề luật sư vàkhách hàng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Hành vi vi phạm của luật sư cóthể xuất phát từ khả năng, kinh nghiệm trong đánh giá tính chất phức tạp của vụ việc
và kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng của luật sư Do chưa từng giải quyết vụ việctương tự, luật sư đã đưa ra những nhận định sai lầm về thời gian, cách thức thực hiệndịch vụ pháp lý, dẫn đến việc đề xuất thù lao không tương xứng với giá trị dịch vụ vàcông sức cần thiết hoặc luật sư chấp nhận ký kết loại Hợp đồng trọn gói, trong khi
13 https://plo.vn/plo/luat-su-lam-rau-than-chu-bai-1-tien-thay-bo-tui-221625.html.
Trang 13không lường trước được các chi phí phát sinh, như lệ phí Nhà nước, chi phí đi lại, chiphí giám định… Lúc này, nếu luật sư yêu cầu khách hàng chi trả thêm phí dịch vụ,mặc dù là chi phí phù hợp giá cả thị trường, vẫn là vi phạm hợp đồng dịch vụ pháp lý
và vi phạm quy tắc hành nghề
Tuy nhiên, ngoài trường hợp không mong muốn như trên, vẫn thực sự tồn tại một sốluật sư cố ý sách nhiễu, đòi hỏi thêm các khoản tiền, lợi ích từ khách hàng, thậm chí lànhững chi phí không tồn tại trên thực tế Liên quan đến các trường hợp này, đã có cácluật sư bị xử lý kỷ luật bởi Hội đồng khen thưởng – kỷ luật của các Đoàn Luật sư14,thậm chí, nếu có đủ căn cứ để chứng minh thủ đoạn gian dối, luật sư còn bị khởi tố vềtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản15
Thứ ba, cam kết, hứa hẹn kết quả công việc.
Trong suốt quá trình hành nghề, tiếp xúc với khách hàng và thương thảo ký kết Hợpđồng dịch vụ, luật sư liên tục phải đối mặt với các câu hỏi của khách hàng: Vụ việc cóthắng kiện được không? Tỷ lệ/ khả năng là bao nhiêu? Hành vi vi phạm này bị tuyênbao nhiêu năm tù giam? Trong các tình huống này, không ít luật sư bối rối trướcnhững câu hỏi thăm dò về kết quả vụ việc của khách hàng và đưa ra những khẳngđịnh, hứa hẹn vượt ngoài tầm kiểm soát của luật sư Cũng có những trường hợp, vớimong muốn nhận được sự tin tưởng của khách hàng để ký kết được hợp đồng và thuđược thù lao, một số luật sư không ngần ngại cam kết “án treo”, “vô tội”, “khung thấpnhất” hoặc cam kết con số lợi ích/ bồi thường… mà khách hàng sẽ nhận được Sự viphạm này có một số trường hợp còn thể hiện trên những điều khoản trong Hợp đồngdịch vụ pháp lý với khách hàng, cũng có thể chỉ là những hứa hẹn bằng lời nói hoặc sựkhông rõ ràng, khiến cho khách hàng hiểu nhầm về phạm vi công việc của luật sư Đâyđược xác định là sai phạm có tính chất nghiêm trọng và thường bị xử lý kỷ luật ở mứctạm đình chỉ tư cách thành viên của Đoàn Luật sư16
Vì vậy, khi gặp tình huống này luật sư phải ghi nhớ Quy tắc 9 trong Bộ Quy tắc đạođức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư quy định những việc luật sư không được làmtrong quan hệ với khách hàng là “Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về nhữngnội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư”17 Cho dù một luật sư
có khả năng chuyên môn giỏi và bề dày kinh nghiệm đến đâu, cũng không thể khẳngđịnh chắc chắn mức án hay kết quả của vụ án Chỉ có bản án có hiệu lực của Tòa ánnhân dân có thẩm quyền mới quy định các vấn đề này
Trang 14hàng18, lừa dối khách hàng19, thực hiện dịch vụ pháp lý cho các khách hàng có quyềnlợi đối lập nhau… Theo Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2017 của Đoàn Luật sưThành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2017, có 05 trường hợp bị đề xuất quyết định xử
lý kỷ luật20 Tại Hà Nội, năm 2017, Đoàn Luật sư Hà Nội đã giải quyết 46 đơn thưkhiếu nại, tố cáo liên quan đến luật sư, trong đó xét kỷ luật 04 trường hợp21
Tuy chỉ là một bộ phận nhỏ, nhưng những sai phạm này đã gây ra những ảnh hưởngđối với hoạt động của nghề luật sư nói chung và ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của luật
sư nói riêng, làm cho khách hàng mất niềm tin vào luật sư và ảnh hưởng tới sự cao quýtrong hoạt động hành nghề luật sư Do vậy, việc nhận diện các sai phạm này của một
số luật sư trong quá trình hành nghề sẽ giúp cho các luật sư và tổ chức hành nghề luật
sư nhận thức được sứ mệnh và trách nhiệm nghề nghiệp của mình, xây dựng một độingũ luật sư của Việt Nam không chỉ có chuyên môn tốt, mà quan trọng hơn cả là ứng
xử chuyên nghiệp, văn minh và tôn trọng đạo đức nghề nghiệp
2.2 Nhận diện một số vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý
Những vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý xuất phát từ sựmâu thuẫn hoặc chưa rõ ràng, chưa hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành vàQuy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Những vướng mắc này phần nào sẽgây ra những khó khăn, lúng túng cho luật khi tuân thủ, áp dụng Một số vướng mắc
cụ thể có thể nhận diện như:
Thứ nhất, chuyển giao vụ việc của khách hàng cho luật sư khác giải quyết.
Khoản 3 Điều 24 Luật luật sư quy định: “Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình
đã nhận cho luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặctrường hợp bất khả kháng” Tuy nhiên, luật sư hành nghề tại các tổ chức hành nghềluật sư không được tự ý giao kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng với tư cách
cá nhân mà luôn phải thông qua tổ chức mình đang hành nghề Trưởng Văn phòng luậtsư/ Giám đốc Công ty luật là người đại diện ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý vớikhách hàng nhưng không đồng thời là người nhận vụ việc Người đứng đầu tổ chứchành nghề có quyền phân công, giao nhiệm vụ cho một hoặc một số luật sư khác trong
tổ chức thực hiện vụ việc Việc phân công này có thể được thể hiện bằng một Quyếtđịnh phân công luật sư hoặc xác nhận tại Đơn mời/ yêu cầu luật sư của khách hàng Như vậy, vấn đề phát sinh khi một luật sư, bằng mối quan hệ cá nhân đã thuyết phụcđược khách hàng ký kết Hợp đồng dịch vụ với Văn phòng luật sư/Công ty luật, có thểhứa hẹn bằng lời nói về việc sẽ trực tiếp giải quyết vụ việc; tuy nhiên, sau đó, TrưởngVăn phòng luật sư/Giám đốc Công ty lại ra quyết định cử một luật sư khác giải quyết
https://www.liendoanluatsu.org.vn/post/đoàn-luật-sư-tp-hà-nội-tổng-kết-hoạt-động-năm-2017-và-triển-vụ-năm-2018.
Trang 15vụ việc Hoạt động trong một tổ chức, luật sư phải tuân thủ theo quy chế của tổ chức,quyết định của cấp trên quản lý Trong trường hợp này, liệu rằng luật sư có bị coi là viphạm Luật luật sư khi đã chuyển giao vụ việc mình đã nhận (bằng lời nói) cho luật sưkhác làm thay?
Do vậy, chúng tôi cho rằng, đến nay, hiểu thế nào là “vụ việc mà mình đã nhận” vẫncòn là vấn đề khó hiểu và gây tranh cãi Nếu không có sự giải thích rõ ràng về vấn đềnày, sẽ gây ra những mâu thuẫn, xung đột trong việc tuân thủ pháp luật, quy tắc đạođức và ứng xử nghề nghiệp với quy định nội bộ của tổ chức luật sư tham gia hànhnghề
Thứ hai, Quy tắc 10.1 thuộc Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt
Nam còn quy định chung chung.
Quy tắc số 10.1 quy định “Khi được khách hàng yêu cầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cầnnhanh chóng trả lời cho khách hàng biết về việc có tiếp nhận vụ việc hay không”, tuynhiên quy định này còn chung chung, rất khó để xác định thế nào là “nhanh chóng”.Nếu không có những quy định mang tính chất định lượng, khách hàng có thể lý giảitheo quan điểm chủ quan và thực hiện khiếu nại về các hành vi có dấu hiệu vi phạmcủa luật sư, ảnh hưởng đến danh dự và hoạt động bình thường của Tổ chức hành nghềluật sư
3 Một số kiến nghị nhằm hạn chế sai phạm, vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư trong tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam
Thứ nhất, nâng cao năng lực chuyên môn của luật sư và năng lực quản trị của tổ
chức hành nghề luật sư
Khi năng lực chuyên môn được nâng cao, luật sư sẽ hạn chế những đánh giá sai lầmtrong quá trình nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng Luật sư có năng lựcthuyết phục, đàm phán tốt sẽ không đặt bản thân vào thế yếu khi ký hợp đồng vớikhách hàng Luật sư có kỹ năng soạn thảo hợp đồng tốt, sẽ xây dựng được biểu mẫuhợp đồng dịch vụ pháp lý chặt chẽ để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức mình, hạn chế những xung đột, sai phạm với khách hàng
Bên cạnh đó, người quản lý điều hành các tổ chức hành nghề luật sư cần nâng caonăng lực quản trị nhân sự và quản lý thời gian làm việc Sau khi ký hợp đồng dịch vụpháp lý, các hoạt động triển khai thực tế sẽ được phân công nhiệm vụ cho các luật sưkhác phụ trách và các nhân viên pháp lý, luật sư tập sự hỗ trợ Nếu không sát sao trongcông tác kiểm soát thời gian và báo cáo, chính Trưởng Văn phòng luật sư/Giám đốcCông ty luật sẽ phải chịu trách nhiệm trong việc luật sư, nhân viên cấp dưới không tíchcực, chủ động thực hiện công việc cho khách hàng Do vậy, các tổ chức hành nghề luật
sư nên xây dựng và chuẩn hóa các quy chế, quy tắc trong việc tiếp nhận và thực hiện
hồ sơ của khách hàng, đặc biệt quy tắc trong việc duy trì liên lạc, thông báo tiến độ vàbáo cáo kết quả thực hiện công việc với khách hàng
Trang 16Thứ hai, rà soát sửa đổi quy định tại Luật luật sư và Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử
nghề nghiệp luật sư
Như đã phân tích tại mục 2, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc trong quy định tạiKhoản 3 Điều 24 Luật luật sư và quy tắc 10.1 của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghềnghiệp luật sư Việt Nam, gây khó khăn cho hoạt động hành nghề của luật sư cũng nhưkhó khăn trong việc xem xét hành vi vi phạm của luật sư Do vậy, cần thiết phải xemxét sửa đổi các quy định trên theo hướng cụ thể, rõ ràng, tránh gây ra nhiều cách hiểu
và để áp dụng thống nhất, thuận tiện khi xử lý kỷ luật luật sư
Hiện nay, các hành vi vi phạm Luật luật sư sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quyđịnh tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2020 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân
và gia đình; thi hành án; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và và vi phạm Bộ Quy tắcđạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư sẽ bị xử lý theo Quy chế giải quyết khiếu nại,
tố cáo, xử lý kỷ luật Ban hành kèm theo Quyết định số 203/QĐ-HĐLSTQ ngày 19tháng 12 năm 2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc Tuy vậy, các chế tài, hình thức xửphạt tại các văn bản này vẫn chưa đủ tính răn đe nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm
Do vậy, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các văn bản trên theo hướng xử lý nghiêm khắccác hành vi vi phạm, đặc biệt cân nhắc mối quan hệ giữa vi phạm và hậu quả; không
để tồn tại trường hợp một vài cá nhân, tổ chức làm ảnh hưởng đến hoạt động nghềnghiệp luật sư nói chung của cả cộng đồng luật sư nói riêng
Thứ ba, tăng cường công tác phổ biến pháp luật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và
đạo đức nghề nghiệp cho luật sư
Hiện nay, các quy định của Luật luật sư và Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệpđược đưa vào nội dung môn học bắt buộc, đầu tiên trong hệ thống giảng dạy đào tạonghề luật sư tại Học viện Tư pháp nhằm đảm bảo trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng
và phẩm chất đạo đức cho các luật sư tương lai Tuy nhiên, thực tế pháp luật và quytắc luôn được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính hợp lý và phù hợp với sự phát triểnkinh tế, xã hội; mặt khác lại tồn tại một bộ phận các luật sư chuyển từ các chức danh
tư pháp, nghề nghiệp có liên quan và được miễn đào tạo nghề luật sư như thẩm phán,kiểm sát viên, điều tra viên, giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ luật Do vậy, các tổ chức xãhội nghề nghiệp của luật sư cần có cơ chế định kỳ tổ chức các chương trình phổ biếnpháp luật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho các luật sưthành viên nhằm giúp cho luật sư, tổ chức hành nghề luật sư tránh mắc các sai phạmtrong hoạt động nghề nghiệp cũng như giúp cho luật sư cập nhật quy định pháp luậtmới và vững vàng hơn về kiến thức chuyên môn, đồng thời nâng cao vị thế của nghềnghiệp, cộng đồng luật sư tại Việt Nam
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghề của luật sư và tổ
chức hành nghề luật sư.
Cho đến nay, các hành vi vi phạm pháp luật và quy tắc hành nghề luật sư trong quátrình nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý đã bị phát hiện, xử lý hầu hết thông qua các đơn
Trang 17khiếu nại, tố cáo của khách hàng Tuy vậy, việc xử lý tại giai đoạn này là quá muộn để
có thể khắc phục được những hậu quả mà khách hàng đã phải gánh chịu
Do đó, các cơ quan chức năng có thẩm quyền, Liên đoàn luật sư Việt Nam, Đoàn Luật
sư các tỉnh cần chủ động, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghềcủa luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư, để kịp thời phát hiện và xử lý ngay cáchành vi vi phạm pháp luật, không để xảy ra hiện tượng các vi phạm kéo dài trongnhiều năm, đối với nhiều khách hàng và gây ra những thiệt hại nghiêm trọng
Tuy nhiên, cần phải xác định rõ ràng, công tác thanh, kiểm tra được tiến hành nhằmmục đích giúp đỡ, chấn chỉnh hoạt động hành nghề của luật sư theo hướng hiệu quả,chuyên nghiệp, đúng pháp luật, cần tuyệt đối nghiêm cấm các hành vi sách nhiễu, cốtình gây khó khăn, xáo trộn hoạt động hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư trongquá trình kiểm tra, giám sát
Kết luận
Bất kỳ nghề nghiệp nào trong xã hội cũng đều có những đóng góp tích cực cho sự pháttriển của xã hội, tuy nhiên vẫn sẽ có những điểm cần hoàn thiện thêm Thiết nghĩ,trong hoạt động hành nghề, mỗi luật sư cần cố gắng, nỗ lực để giữ gìn sự “cao quý”của nghề nghiệp luật sư bằng tất cả “Tâm” và “Tài” Quá trình nhận và thực hiện dịch
vụ pháp lý chính là hai giai đoạn quan trọng nhất để các luật sư chứng minh và xâydựng hình ảnh, thương hiệu của mình, do đó, cần được đặc biệt được coi trọng vànghiêm túc tuân thủ Chúng tôi tin tưởng rằng, trong tương lai, vai trò và vị thế củaluật sư Việt Nam sẽ ngày càng được khẳng định và đề cao trong xã hội và trên trườngquốc tế./
Trang 18MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VỚI CƠ QUAN, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
Phạm Liến 23
Lê Quang Y2 24
Tóm tắt: Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự Hoạt động này được tiến hành độc lập, nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Chính điều này đã luôn đặt hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ của luật sư trong mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan, người tiến hành tố tụng Qua mối quan hệ đó đã thể hiện trách nhiệm, năng lực kiểm tra, giám sát lẫn nhau trên nguyên tắc công bằng và minh bạch giữa các chủ thể tố tụng có liên quan Bài viết này luận giải mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ vụ án hình sự
1 Bản chất mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụng trong
“quan hệ phối hợp” là từ chỉ hoạt động của các chủ thể có cùng một mục đích, trong
đó, từng chủ thể sẽ mang tính chủ động, hỗ trợ lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau đểquyết tâm thực hiện cho được mục đích đó
Do yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, giữa luật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụngtrong thực tế đã hình thành mối quan hệ thường xuyên và có tính tương hỗ Việc xácđịnh bản chất mối quan hệ này là một yêu cầu cần thiết trong nhận thức pháp luật cả về
lý luận và thực tiễn Đồng thời việc quan tâm xây dựng, xác lập mối quan hệ giữa cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với luật sư chính là giúp thúc đẩy mốiquan hệ này trở nên tốt đẹp, lành mạnh, chủ động, tích cực hơn và trên hết nhằm đemđến những lợi ích cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, hiệu quảcủa hoạt động luật sư nói riêng
22 Phạm Liến, Lê Quang Y, Mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong
hoạt động thu thập chứng cứ vụ án hình sự, Học viện Tư pháp, Tạp chí nghề luật, số 11 (2021), tr49-54.
23 Thạc sỹ, Phó Trưởng Bộ môn Đào tạo luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên, Cơ sở tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Học
viện Tư pháp.
24 Thạc sỹ, Chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai.
25 GS.TS Nguyễn Như Ý (2010), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 19Quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ ánhình sự là quan hệ giữa chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng và luật sư với tư cách
là người bào chữa cho bị can, bị cáo (người bào chữa) hoặc là người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của bị hại, các đương sự (người bảo vệ), trong đó cả hai bên với chứcnăng luật định có vẻ như trái chiều là “bên gỡ” và “bên buộc” nhưng đều nhằm thựchiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ của mình.Trên thực tế cả hai đều cùng hướng đến một mục đích chung nhất là tìm ra sự thậtkhách quan của vụ án, không làm oan, sai người vô tội
Về bản chất, mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụng là mốiquan hệ giữa người tham gia tố tụng26 và các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
nó chỉ được phát sinh kể từ khi khởi tố bị can27 Tuy nhiên, thực tế phải đến khi luật sưthực hiện các thủ tục đăng kí bào chữa hay bảo vệ cho thân chủ của mình tại cơ quantiến hành tố tụng và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận thì mới thực sự phátsinh mối quan hệ này
Như vậy, mối quan hệ giữa luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là “người bàochữa” hay là “người bảo vệ” trong vụ án hình sự với cơ quan, người tiến hành tố tụng
có thẩm quyền tố tụng trong vụ án hình sự về bản chất là mối quan hệ tương tác tráichiều gắn chặt với quyền con người, quyền bào chữa có tính hiến định, nhưng các thiếtchế pháp lý hiện tại trong tố tụng hình sự vẫn đang cho thấy một thực tế là mối quan
hệ này chỉ là một mối quan hệ có tính phụ thuộc, bất bình đẳng, có tính xin cho vàmang tính bổ trợ trong hoạt động tư pháp hình sự Bởi lẽ, trên nguyên tắc Hiến định vềquyền con người, quyền bào chữa mối quan hệ này buộc phải phát sinh ngay lập tứckhi một người bị tác động bởi các thiết chế pháp lý hình sự, nghĩa là khi xảy ra sự việcmột người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,… thì mối quan hệ này phải tự động phát sinh nhưmột quyền năng đã được Hiến pháp quy định mà không cần phụ thuộc vào cơ chế xincho hay bất kỳ một cơ chế giải quyết nào khác Tuy nhiên, mặc dù Hiến pháp quy địnhphải đảm bảo quyền con người, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, người tham gia
tố tụng bào chữa hay bảo vệ được pháp luật tố tụng hình sự quy định có tính độc lập,
có những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định,… nhưng thực tế là nếu không có sựtham gia của họ hay mối quan hệ giữa họ với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng cũng không tồn tại thì các hoạt động tố tụng vẫn được thực hiện và kết quả là
“công lý” vẫn được thực thi
Từ thực tiễn thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đến nay, việctham gia của luật sư vào việc giải quyết vụ án hình sự với tư cách là người bào chữahay là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, các đương sự nói chung đãđáp ứng được phần nào các yêu cầu về tư pháp hình sự và đã đạt được những kết quảđáng khích lệ, khắc phục được những vi phạm tố tụng, làm rõ sự thật khách quan, loạitrừ dần tình trạng lạm quyền trong việc áp dụng pháp luật, củng cố niềm tin của nhân
26 Điều 55 BLTTHS năm 2015 xác định luật sư là người tham gia tố tụng.
27 Điều 74 BLTTHS năm 2015 xác định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trang 20dân đối với cơ quan tiến hành tố tụng hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam vững mạnh.
Sự tham gia của luật sư vào việc giải quyết vụ án hình sự với tư cách là người bàochữa, bảo vệ không chỉ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, đương sự khác vềquyền con người, quyền bào chữa, mà còn là phương diện quan trọng để nhận biết sựthật khách quan của vụ án, góp phần thực hiện các bảo đảm trong tố tụng hình sự(TTHS), tránh được sự áp đặt chủ quan trong tố tụng có thể dẫn đến việc làm oan saihay bỏ lọt tội trong TTHS Trong quá trình tham gia tố tụng theo yêu cầu của kháchhàng hoặc theo chỉ định của các cơ quan tiến hành tố tụng, mục tiêu chung của các chủthể tiến hành và tham gia tố tụng đều nhằm thực hiện nhiệm vụ và các nguyên tắc cơbản của BLTTHS
Với những chuyển biến tích cực từ thực tiễn thực hiện BLTTHS năm 2015 (sửa đổi bổsung năm 2017) có thể nhận thấy mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự chủ yếu tập trung vào các hành vi ứng xửsau đây:
- Tiếp xúc với cơ quan tiến hành tố tụng để làm thủ tục tham gia tố tụng, tham gia cácbuổi hỏi cung, làm việc giữa luật sư với người tiến hành tố tụng; tiến hành một số hoạtđộng, thao tác, kỹ năng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ, những việc được làm vàkhông nên làm của người bào chữa khi tham gia tố tụng Luật sư phải biết vận dụng,ứng xử linh hoạt, đúng đắn khi tham gia vào từng phạm vi công việc, đặt yêu cầu hay
đề xuất, kiến nghị được chính xác, phù hợp
- Nhận thức và ứng xử trong cuộc sống, với truyền thông, đảm bảo cho việc xử lý cácquan hệ này một cách lành mạnh, chuẩn mực, không có hành động lôi kéo, làm trunggian, móc nối các cơ quan tiến hành tố tụng vào việc làm trái pháp luật, hoặc cố ý gâynhầm tưởng về sự quen biết nhằm tác động đến sự lựa chọn luật sư của khách hàng; lợidụng các phương tiện truyền thông nhằm nói xấu, xúc phạm, làm ảnh hưởng đến uy tíncủa cơ quan cảnh sát điều tra
- Việc luật sư phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quy và các quy định có liên quan trongquan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng có thái độ hợp tác, lịch sự, tôn trọng ngườitiến hành tố tụng mà luật sư tiếp xúc khi hành nghề
- Luật sư cần nhận thức việc tiếp xúc, trao đổi ý kiến về nghiệp vụ là cần thiết và có lợicho thân chủ, nên đương nhiên phải giữ tính độc lập, không bị chi phối hoặc lệ thuộcvào ý kiến khác mình làm ảnh hưởng tới việc xây dựng quan điểm, phương án bàochữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ Trong thực tế, cũng không một luật sưnào chỉ vì bị chi phối hoặc lệ thuộc vào ý kiến nào đó mà tự đánh mất thiên chức vànhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình
Theo quan điểm của chúng tôi, mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng hiện nay có các đặc điểm nổi bật sau đây:
Trang 21- Quan hệ giữa luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là quan
hệ giữa những “đồng nghiệp” trong công tác pháp luật
Luật sư, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán,… về thực chất là những đồng nghiệpcủa nhau, họ là những luật gia, người làm công tác pháp luật Tuy cương vị và tư cách
tố tụng mỗi người mỗi lúc có khác nhau nhưng trên hết họ là những “đồng nghiệp” củanhau trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp.Phẩm chất của những người được xem là đồng nghiệp này có ảnh hưởng đến thanhdanh, uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, của nghề nghiệp luật sư
- Quan hệ giữa luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là quan
hệ bình đẳng, tôn trọng vì công lý
Sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau giữa những người làm công tác pháp luật vốn làmột truyền thống xuất phát từ quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mỗichủ thể Thái độ tôn trọng lẫn nhau giúp cho mỗi người ý thức trách nhiệm hơn trướccông việc và nâng cao lòng tự trọng Sự tôn trọng lẫn nhau làm cho tính tôn nghiêm ởchốn pháp đình càng được đề cao, tạo nên vẻ đẹp cho văn hóa pháp đình, làm mẫumực cho công chúng noi theo, làm tấm gương trong việc tuyên truyền pháp luật
Trong hoạt động nghề nghiệp, giữa cá nhân các luật sư và người tiến hành tố tụngkhông tránh khỏi có những lúc có ý kiến bất đồng, đối lập nhau, Đó là điều tất nhiêntrong việc tìm ra chân lý, tuy nhiên đó cũng chỉ là sự bất đồng về quan điểm pháp lý,chứ không nên và không thể là sự bất đồng, mâu thuẫn đối kháng giữa cơ quan tiếnhành tố tụng với luật sư, hơn nữa, không thể đem những bất đồng về quan điểm pháp
lý vào cuộc sống đời thường Pháp đình phải là “ngôi nhà chung” của những ngườilàm công tác pháp luật
- Quan hệ giữa luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là quan
hệ phụ thuộc và hỗ tương nhau
Khi xác định hoạt động của luật sư là hoạt động bổ trợ tư pháp thì cũng đã hàm ý hoạtđộng này phải có sự liên kết, phải mang yếu tố phụ thuộc, phải được sự hỗ trợ từ nhiềuphía Ngược lại, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể thiếu sự bổ trợ tư pháp
từ luật sư Luật sư không phải là người tiến hành tố tụng nhưng hoạt động tố tụngkhông thể thiếu vắng luật sư Sự có mặt của luật sư không chỉ do người bị bắt, bị tạmgiữ, bị can, bị cáo… hay các đương sự yêu cầu, mà trong nhiều trường hợp là do sựtrưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện củaluật sư là bắt buộc, không thể thiếu Nếu thiếu vắng luật sư thì hoạt động tố tụng sẽ bịđình trệ, gián đoạn, thậm chí không thể tiến hành được
Xuất phát từ đặc điểm và thuộc tính này, sự hỗ trợ, phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau để hoànthành nhiệm vụ là điều không thể thiếu trong quan hệ giữa luật sư với cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Tuy nhiên trong thực tế, do bản chất công việc của luật sư, mối quan hệ giữa luật sưvới cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chưa được nhận thức đầy đủ,
Trang 22dẫn đến các quy định của pháp luật tố tụng chưa được thực hiện nghiêm chỉnh và mốiquan hệ này có những trở ngại đáng tiếc Nguyên nhân của mặt yếu kém này có thểkhẳng định xuất phát từ nhiều phía:
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: có những người tiến hành tố tụng còn có tâm lý dèdặt đối với luật sư, vì thường có suy nghĩ là luật sư tham gia sẽ trở ngại cho công táccủa họ Đây là nhận thức pháp luật chưa đúng và là thành kiến cố hữu ở một bộ phậnngười tiến hành tố tụng Công bằng mà nói, trong quá trình hành nghề, gặp nhữngtrường hợp như vậy, luật sư thường tìm được sự giúp đỡ có hiệu quả từ người đứngđầu cơ quan tiến hành tố tụng
Về phía luật sư: có một số luật sư còn bị hạn chế về kiến thức, kỹ năng hành nghề vàphong cách ứng xử nên chưa có được quan điểm pháp lý tốt, chưa có cách ứng xửchuẩn mực khi hành nghề, chưa tạo được hiệu quả trong hoạt động nghề nghiệp Nhiềuluật sư ngại va chạm, chỉ lo an phận thủ thường, nên ít khi lên tiếng đấu tranh, góp ýxây dựng, không quan tâm góp phần xác lập, cải thiện, củng cố mối quan hệ với các cơquan tiến hành tố tụng trên tinh thần tôn trọng và bình đẳng Lại có một số ít luật sư cóquan điểm lệch lạc, thái độ cực đoan, thậm chí là tiêu cực, chỉ biết lo cho lợi ích cánhân trước mắt, mà xúi giục người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo chối tội, khai báoquanh co, hay chỉ biết chạy theo việc tranh thủ riêng với một số cá nhân trong cơquan tiến hành tố tụng, để được việc cho mình mà bỏ qua các nguyên tắc tố tụng, đánhmất quan điểm pháp lý cần thiết của nghề nghiệp luật sư, qua đó đã vi phạm đạo đứcnghề nghiệp luật sư, thậm chí là vi phạm pháp luật, làm suy giảm lòng tin của cơ quantiến hành tố tụng đối với luật sư
2 Vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ giữa luật sư và cơ quan, người tiến hành tố tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ vụ án hình sự
Kỹ năng thu thập chứng cứ trong TTHS là một đòi hỏi cơ bản của nghề luật sư và làyếu tố quan trọng đầu tiên bảo đảm cho sự thành công của hoạt động tranh tụng Hoạtđộng này cần phải được tiến hành một cách cẩn trọng, chính xác, khách quan, đảm bảogiá trị của chứng cứ khi sử dụng để bào chữa, bảo vệ một cách tốt nhất các quyền, lợiích hợp pháp của khách hàng trong quá trình tranh tụng tại các giai đoạn tố tụng và đặcbiệt là giai đoạn xét xử Có thể khẳng định, đây là một trong những kỹ năng nghềnghiệp quan trọng của một luật sư, thể hiện năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của luật
sư với chức năng cao cả, được luật định: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phầnbảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cánhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”28
Các quy định của pháp luật liên quan đến mối quan hệ của luật sư với các chủ thể tiếnhành tố tụng trong vụ án hình sự đã có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình thựchiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Trong đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị chỉ rõ việc phải “xác định rõ hơn vị trí, vai
28 Điều 3, Luật luật sư (sửa đổi bổ sung năm 2012
Trang 23trò, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hư ớngđảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại cácphiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, ”29 đã góp phần địnhhướng và làm thay đổi rất lớn về nhận thức cũng như thực tiễn về mối quan hệ giữaluật sư và các chủ thể tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự
Đến nay, có thể nói rằng, những thay đổi, chuyển biến tích cực về mối quan hệ củaluật sư với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi tham tố tụng hình
sự đang được củng cố và phát huy rõ nét ở các nội dung sau: i) Luật sư đã được các cơquan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tạo điều kiện tương đối thuận lợi khitham gia tố tụng; ii) Được thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở bất kỳgiai đoạn nào của hoạt động tố tụng vụ án hình sự; iii) Được thực hiện các kiến nghịcần thiết để bảo đảm các hoạt động tố tụng hình sự tuân thủ theo trình tự được luậtđịnh, làm sáng tỏ sự thật; iv) Được tranh tụng một cách đầy đủ, bình đẳng với bên
“buộc” tội; Từ các nội dung trên có thể thấy mối quan hệ giữa luật sư và các chủ thểtiến hành tố tụng luôn gắn bó chặt chẽ, không tách rời trong tố tụng hình sự, nhất làtrong hoạt động thu thập và sử dụng chứng cứ
Có thể khẳng định rằng, hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự
có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt với vai trò là người bào chữa “gỡ tội”, gópphần giúp cho chứng cứ vụ án có được góc nhìn đầy đủ, đa chiều hơn như luật định30.Khi đó sự thật mới được phơi bày rõ nét, thay vì các cơ quan tố tụng chỉ tập trung vàocác chứng cứ “buộc tội”, khó có thể mang lại kết quả đấu tranh với tội phạm theo tinhthần cải cách tư pháp, trong đó quyền con người trong hoạt động tư pháp được đề cao,đặc biệt là trong tư pháp xét xử với Tòa án là trung tâm của hoạt động này31 Chứng cứđược thu thập bằng nhiều nguồn khác nhau, theo trình tự, thủ tục tố tụng Hoạt độngthu thập chứng cứ phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện Hoạt động chứng minhcủa các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sựthường cho thấy, việc thu thập chứng cứ có xu hướng thiên về chứng minh sự việcphạm tội, nên đã không thực sự bảo đảm nguyên tắc, yêu cầu và mục tiêu điều tratrong BLTTHS Luật sư được pháp luật trao quyền thu thập chứng cứ là các tài liệu, đồvật, tình tiết có liên quan đến vụ án32 để góp phần bảo đảm cho việc thực hiện cácnguyên tắc, yêu cầu và mục tiêu này Từ thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ củaluật sư khi tham gia vụ án hình sự cho thấy, hầu hết các luật sư thực hiện thu thậpchứng cứ trong vụ án hình sự theo hai hướng tiếp cận chứng cứ như sau:
Thứ nhất, luật sư chủ động tiếp xúc với bị can, bị cáo, bị hại, người làm chứng và
những người khác (kể cả các cơ quan nhà nước) biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày
29 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
30 Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “… người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng
khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án…”.
31 Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân: Lý luận và
thực tiễn, 2010, Nxb Chính trị Quốc gia.
32 Khoản 2, 3 Điều 88 BLTTHS năm 2015.
Trang 24về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tàiliệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa; đề nghị cơ quan, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ33
Thứ hai, luật sư tiếp xúc, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do các cơ quan tiến
hành tố tụng thu thập được Thông thường các chứng cứ này được thực hiện có tính hệthống, chặt chẽ, theo các kế hoạch của hoạt động điều tra Song, do những hạn chếtham gia tố tụng, cũng như nhận thức chủ quan từ phía chủ thể điều tra về việc tránh rò
rỉ chứng cứ, việc tiếp cận chứng cứ đầy đủ theo luật ở giai đoạn này chỉ được thựchiện khi có kết luận điều tra
Cả hai hướng tiếp cận để thu thập chứng cứ nêu trên đều cho thấy mối quan hệ tương
hỗ của luật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ Luật
sư không thể tự mình thực hiện thu thập chứng cứ nếu không được cơ quan, người tiếnhành tố tụng tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác nhận tư cách tố tụng hợp pháp (cấpgiấy đăng ký bào chữa, bảo vệ; ghi nhận các chứng cứ do luật sư thu thập theo trình tự
tố tụng;…) Mặt khác, chính quá trình tiếp cận để thu thập chứng cứ của luật sư sẽgiúp khẳng định tính chính xác, hợp pháp của các chứng cứ do người tiến hành tố tụngthu thập, xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ, góp phần đảm bảo sự tườngminh của hoạt động tố tụng hình sự, tránh được oan, sai
Chứng cứ của luật sư thu thập và đưa ra mang tính phản biện đối với chứng cứ buộctội và luận điểm của cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, luật sư với những hoạt độngthu thập chứng cứ trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị điều tra bổ sung, điều tra lại,đình chỉ điều tra, rút quyết định truy tố, thay đổi tội danh, để góp phần bào chữa cóhiệu quả cho khách hàng Qua đó, giúp các cơ quan tố tụng xem xét vụ án một cáchkhách quan, đầy đủ, toàn diện, tránh tình trạng oan sai vẫn còn xảy ra trong thực tiễn
tố tụng hình sự Trong trường hợp này luật sư thực thi trách nhiệm của mình trênnguyên tắc, không làm xấu đi tình trạng của bị can, qua việc tập trung thu thập cácchứng cứ chứng minh sự vô tội, hoặc không đến mức nguy hiểm như tài liệu trong hồ
sơ vụ án thể hiện; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can mà cơ quanđiều tra chưa tiến hành xác minh, điều tra, lưu vào hồ sơ vụ án
Mặc dù có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với cơ quan, người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ của vụ án hình sự, luật sư vẫn đanggặp phải không ít những rào cản cả về mặt chủ quan và khách quan, làm hạn chế vaitrò, chức năng của mình Cụ thể qua thực tiễn thực hiện thu thập chứng cứ khi thamgia tố tụng hình sự, luật sư thường gặp phải các khó khăn, hạn chế, vướng mắc nhưsau: (i) Khi tham gia vào việc lấy lời khai của người bị tạm giữ, bị can, luật sư chỉđược hỏi khi điều tra viên đồng ý; (ii) Các hoạt động điều tra khác như: đối chất, nhậndạng, khám xét, thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, thu thập vật chứng, vai trò của luật sư rất mờ nhạt; (iii) Việc tiếp xúc người bị tạm giữ, bị can đang bị tạmgiam trong giai đoạn điều tra vẫn đang rất khó khăn; (iv) Tiếp cận ban đầu những tàiliệu trong hồ sơ vụ án chỉ được chấp thuận sau khi kết thúc điều tra, nên luật sư gần
33 Khoản 1, Điều 73 BLTTHS năm 2015.
Trang 25như không có thông tin về diễn biến của vụ án; (v) Các chứng cứ mới, có giá trị chứngminh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do luật sư xuất trình tại tòa rất ít khiđược chấp nhận, xuất phát từ tính phức tạp của việc xem xét các thuộc tính, đặc biệt làthuộc tính hợp pháp của chứng cứ để đánh giá, làm cơ sở để giải quyết vụ án
Mặt khác, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thường có xu hướng thiên
về thu thập các chứng cứ buộc tội, trong khi đó, luật sư thường có xu hướng thu thậpchứng cứ nhằm để gỡ tội, bao gồm các tình tiết, chứng cứ góp phần giảm nhẹ hìnhphạt hoặc chứng minh không phạm tội Do vậy, các xung đột ngầm về nhận thức, tìnhcảm và cả ý chí của các bên có thể là nhân tố tác động đến tính khách quan, chính xáccủa việc thu thập chứng cứ và có thể dẫn đến khả năng xảy ra việc thu thập chứng cứthiếu khách quan và đầy đủ nếu quá trình giải quyết vụ án không có mối quan hệtương hỗ giữa luật sư với người tiến hành tố tụng Điều này được minh chứng qua thực
tế hoạt động xét xử tại tòa trong rất nhiều vụ án hình sự, mặc dù lời bào chữa của luật
sư được lập luận sắc bén, chứng cứ do luật sư thu thập và trình bày tại Tòa hoàn toànthuyết phục, nhưng kết quả tranh tụng của luật sư thường chỉ được Tòa ghi nhận mộtcách chung chung trong bản án Trong hầu hết các trường hợp, nếu chứng cứ buộc tộithiếu thuyết phục thì Hội đồng xét xử khi đó mới quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung theo hướng củng cố các chứng cứ buộc tội…
Từ thực tiễn tham gia hoạt động TTHS của luật sư nói chung và việc thực hiện thuthập chứng cứ nói riêng, có thể khẳng định rằng mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ giữaluật sư với các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi thu thập chứng cứ của vụ án hình
sự giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo tính khách quan, chính xác,đúng đắn của các chứng cứ đã được thu thập, qua đó góp phần đảm bảo việc giải quyết
vụ án khách quan, đúng pháp luật Với tinh thần cải cách tư pháp hướng đến xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết đại hội XIII củaĐảng, Toà án phải đảm bảo quyền tranh tụng bình đẳng khi xét xử Phán quyết củaToà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xétđầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa và nhữngngười có quyền và lợi ích hợp pháp để ra bản án, quyết định đúng pháp luật Điều này,đòi hỏi luật sư phải được thực hiện, khai thác một cách bình đẳng, có hiệu quả cácquyền thu thập chứng cứ trong mối quan hệ tương hỗ của các cơ quan, người tiến hành
tố tụng
Tóm lại, để có được chứng cứ do luật sư thu thập thực sự có hiệu quả, kịp thời, đúngtrình tự tố tụng, cần luật hóa cụ thể quyền của luật sư hơn nữa trong mối quan hệ củaluật sư với cơ quan, người tiến hành tố tụng, cũng như phải bảo đảm sự bình đẳngquyền này trong quan hệ với các cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với hoạt độngthu thập chứng cứ, trên cơ sở đó luật sư có thể thực hiện tốt chức năng nghề nghiệp,đáp ứng niềm tin được khách hàng giao phó Chủ trương cải cách tư pháp cùng vớiviệc pháp luật ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, khi đó hoạt động thu thập chứng
cứ sẽ ngày càng khách quan, thận trọng hơn Các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụngcùng thực thi nhiệm vụ hoặc chứng minh sự tường minh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Trang 26của mình Chỉ khi làm được như vậy, công lý mới được đảm bảo, công bằng mới đượcthực hiện, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mới được pháp luật bảo vệ, hạnchế và loại trừ đến mức thấp nhất việc làm oan, sai người vô tội cũng như bỏ lọt tộiphạm, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, bảo
Một là, trong mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ, quyền tiếp cận nguồn tài liệu, chứng cứ đểthực hiện trọng trách bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các bị can, bị cáo trong các vụ ánhình sự cần được hiện thực hóa để không bị cản trở trên thực tế, làm hạn chế vai tròcủa luật sư
Hai là, với việc cho phép luật sư tham gia bảo vệ các quyền lợi chính đáng ngay từ
giai đoạn tiền tố tụng, cần phải có cơ chế thuận lợi cho việc luật sư tham gia thu thậpchứng cứ kịp thời, không để xảy ra tình trạng luật sư chỉ chứng kiến, xác nhận vào cácchứng cứ là bản cung theo kế hoạch điều tra, không đảm bảo tính khách quan, dẫn đếnnguy cơ tạo ra những bản cung có luật sư làm chứng không đúng bản chất sự thật vụ
án
Ba là, trong hoạt động thu thập chứng cứ, trách nhiệm tiếp nhận và xử lý chứng cứ
theo kiến nghị của luật sư cần được tiến hành kịp thời, trên nguyên tắc đánh giá chứng
cứ khách quan, tố tụng bình đẳng giữa bên buộc và bên gỡ tội Đặc biệt là tranh tụngtại tòa, nếu chứng cứ luật sư cung cấp đã được xác thực, không cần thiết phải tiến hànhlại các hoạt động tố tụng, tạo ra những ngờ vực không cần thiết Ngay cả khi bác bỏchứng cứ do luật sư cung cấp, các phán quyết phải có những nhận định xác đáng,không được lược bỏ, làm thay đổi cách tiếp cận đánh giá chứng cứ ở các giai đoạn tốtụng tiếp theo Đồng thời, các sửa đổi, bổ sung hay bác bỏ cần phải được xem xét thậntrọng các thủ tục tố tụng đã bị vi phạm nghiêm trọng ở mức nào, tránh trường hợp các
cơ quan, người tiến hành tố tụng cố ý lược bỏ chứng cứ, làm thay đổi tình tiết hay bảnchất của vụ án./