Bài tập lớn Triết học Mác Lênin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN THMLN
ĐỀ BÀI: VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI Ý THỨC Ở VIỆT NAM, TRI THỨC CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Họ và tên SV: Phan Hải Nhật Lớp tín chỉ: Quản trị khách sạn quốc tế (IHME) 61
Mã SV: 11193954 GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2Lời nói đầu
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ cuối thế kỉ
XX đặt tạo ra tiền đề quan trọng đề nền kinh tế nhân loại bước sang trang mới – Kinh tế tri thức Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính đang tác động sâu sắc làm đảo lộn toàn
bộ nền kinh tế thế giới Do vậy, động lực cơ bản nhất trong nền kinh tế này không phải tài nguyên thiên nhiên, những yếu tố vật chất truyền thống mà là tri thức, kinh nghiệm,
kỹ năng và trên hết là con người Trong đó, đội ngũ người lao động có trình độ cao có vai trò quyết định đối với sự thành bại của mỗi quốc gia
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn khi nó vừa là hoạt động thực tiễn vừa là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích
cự hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng
Xu thế hội nhập toàn diện trên cơ sở cuộc cách mạng khoa học - công nghệ vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra nhiều thách thức cho chúng ta Thời cơ ở chỗ chúng ta có thể tiếp thu những thành tựu khoa học mới nhất, những kinh nghiệm quý báu mà các quốc gia đi trước đã phải mất đến hàng trăm năm mới có thể có được ứng dụng vào quá trình phát triển đất nước, đẩy nhanh tốc độ, sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại, chuẩn bị
để bước sang kinh tế tri thức Nhưng thách thức là ở chỗ liệu đất nước có thể vận dụng thành công hay không những thành tựu của khoa học và công nghệ để sớm trở thành một nước phát triển? Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá-tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc Chúng
ta phải thay đổi nhận thức, xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện
Trang 3đảm bảo sự phát triển tự do của con người Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước
Như vậy, việc tìm hiểu về ý thức và tri thức sẽ mang đến những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chính vì lý do đó mà em đã lựa chọn chủ đề: “VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI Ý THỨC Ở VIỆT NAM, TRI THỨC CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI”
Trang 4PHỤ LỤC
Lời nói đầu 2
CHƯƠNG 1 5
LÝ LUẬN CHUNG 5
1.1 Khái niệm về tri thức 5
1.2 Khái niệm về ý thức 5
1.3 Vai trò của tri thức đối với ý thức 6
Chương 2 7
Vai trò của tri thức trong hoạt động của con người 7
2.1 Tổng quát về vai trò của tri thức trong hoạt động của con người 7
2.1.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế - Kinh tế tri thức 7
2.1.2 Vai trò của tri thức đối với chính trị 9
2.1.3 Vai trò của tri thức đối với giáo dục 10
Chương 3 11
Kết luận về thực trạng ở Việt Nam 11
3.1 Những cơ hội đối với Việt Nam 11
3.2 Những thách thức 11
NGUỒN CÁC BÀI VIẾT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÀI TẬP LỚN 13
Trang 5CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm về tri thức
Tri thức đã có từ rất lâu trong lịch sử, có thể nói tri thức đã có từ khi con người bắt đầu biết suy nghĩ Trong suốt một thời kỳ lịch sử phát triển dài đến những thập kỷ gần đây, đã có nhiều tranh luận về tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Vậy kiến thức là gì?
Có nhiều cách định nghĩa tri thức, nhưng có thể hiểu “Tri thức là sự hiểu biết, sự sáng tạo và khả năng, kĩ năng vận dụng nó (hiểu biết sáng tạo) để tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội Tri thức bao gồm tất cả thông tin, dữ liệu, hình vẽ, trí tưởng tượng (sáng tạo), khả năng, kỹ năng, giá trị và các sản phẩm biểu tượng khác của
xã hội Kiến thức có một vai trò Rất tốt cho đời sống của xã hội
Nền kinh tế thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, một tầm cao mới Đó là mức độ mà "việc thu nhận và phân phối các nguồn lực trí tuệ và việc tạo ra, phân phối và
sử dụng tri thức trong các ngành công nghệ cao là những yếu tố quan trọng nhất." Tiêu chí chính của nó là coi tri thức và trí tuệ là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp với tư cách là yếu tố lao động và tài nguyên Đó là thời điểm mà “tri thức trở thành động cơ chính của sự phát triển xã hội”, “tri thức là nguồn lực là vốn”, “tri thức là trọng tâm của cạnh tranh và động cơ tăng trưởng dài hạn là tổ chức sản xuất, cơ cấu của thị trường, sự lựa chọn nghề nghiệp
1.2 Khái niệm về ý thức
Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài, nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ, sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học
Ngay từ thời cổ xưa, từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình Do chưa giải thích được giấc
mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ tình cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ
Trang 6thể chết.
Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con người nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới, quan niệm
về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong thế giới cõi người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm giác và cho rằng cảm giác của con người chi phối thế giới Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội, của ý thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ Theo triết học Mac-Lênin "ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ'' Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: “tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi trong đó” Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức
1.3 Vai trò của tri thức đối với ý thức
Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất
sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan Ngược lại nếu tri thức biến thành
Trang 7tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực
Chương 2 Vai trò của tri thức trong hoạt động của con người
2.1 Tổng quát về vai trò của tri thức trong hoạt động của con người.
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống cũng như trong hoạt động thường ngày của con người Nó tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục
2.1.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế - Kinh tế tri thức.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận, phổ biến, sử dụng, khai thác và sáng tạo tri thức trở thành bộ phận chủ yếu tạo nên tài sản
Nền kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác với các nền kinh tế trước:
Tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động có trình độ tay nghề cao là cơ
sở chủ yếu và được phát triển mạnh
Nguồn vốn quan trọng và quý giá nhất là tri thức, vốn tri thức
Sáng tạo và không ngừng đổi mới là động lực chính thúc đẩy phát triển
Nền kinh tế mang tính học tập
Nền kinh tế thị trường thế giới là môi trường hoạt động chủ yếu
Nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững vì nó sử dụng năng lượng vô tận và năng động là tri thức
Vốn tri thức – vai trò của nó trong kinh tế tri thức
Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất Trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên
Trang 8lao động trí tuệ gắn với tri thức Như vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất đai
Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nước Mỹ nói riêng và các nước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin,viễn thông, vũ trụ, đầu tư, ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm…Đồng thời chuyển đầu tư vốn tri thức từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao.ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, đầu
tư càng nhiều vốn tri thức thì mang lại giá trị gia tăng càng lớn, tỷ xuất lợi nhuận càng cao
Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức,c ác nhà quản lý
có trình độ cao, các công nghệ mới
Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam Các quốc gia kém và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức, thông qua tri thức hoá các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước đuổi kịp các nước phát triển
Về nông nghiệp
Sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân
Trang 9Về công nghiệp
Qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài
đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới - Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của
cả nước Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk
từ tình trạng vô cùng khó khăn đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại
Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào Kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu
tư cơ sở một cách thoả đáng
Kết luận
Về kinh tế tổng sản lượng trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990 Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã sản xuất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân Nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định huqướng XHCN Đời sống của nhân dân dần được cải thiện Đất nước đã ra khỏi khủng hoanmgr kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -lâm-ngư ngiệp tăng bình quân 5,7%/ năm trong đó: Nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4% và ngư nghiệp tăng 8,9% Công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5% Dầu tư sản xuất ra sản phẩm có triều sâu, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu dịch vụ phát triển vứi giá trị trung bình là 6,8%/ năm Lạm phát giảm đáng kể: Năm 1986 là 587,2% thì năm 1990 chỉ còn 52,8%
2.1.2 Vai trò của tri thức đối với chính trị.
Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn
1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20 Nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá
Trang 10trình chuẩn bị các văn kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm sau và đóng góp cho việc chenr bị văn kiện Đại hội IX vừa qua Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề
cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do vậy văn hoá phát triển lành mạnh với phương châm " Hoà nhập nhưng không hoà tan " Bên cạnh việc tiếp thu văn hoá thế giới chúng
ta không quên giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
2.1.3 Vai trò của tri thức đối với giáo dục
Giáo dục là con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi là nền kinh tế chất xám Ở Việt Nam từ năm 1997 đến nay, nhân lực Khoa học-Công nghệ cả nước đã tăng 1,5 lần Cán bộ Khoa học-học-Công nghệ có trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu và hàng năm bổ xung thêm khoảng 180 nghìn người Cán bộ có trình độ tiến sĩ đã tăng lên gần 13 nghìn vào năm 2000 Trình độ, năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực Bắt đầu
từ năm 2000 chính phủ đã bố trí khoản ngân sách riêng để hàng năm chủ động gửi sinh viên cán bộ Khoa học-Công nghệ có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các nước có nền Khoa học tiên tiến Khoa học-Công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng Khoa học-Công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất Vacxin phòng bệnh Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lức phát triển của Khoa học - Công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức Khoa học - Công nghệ