1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sáng kiến kinh nghiệm 2020-2021

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 421,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, chúng ta đang chuẩn bị chuyển sang chương trình giáo dục phổthông mới, một chương trình mà tại đó học sinh làm chủ kiến thức phổ thông,biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại với sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học công nghệ Công việc và nghề nghiệp đang đòi hỏi những kĩ năngvượt xa kiến thức trong sách giáo khoa Trong bối cảnh đó, đòi hỏi giáo dục phảilàm thế nào đáp ứng nhiều nhất cho sự phát triển cá nhân, làm thế nào để chuẩn

bị cho người học kiến thức, năng lực, phẩm chất để đương đầu, thích ứng với sựphát triển không ngừng này Việc học tập sẽ thấy hứng thú hơn khi chúng tanhìn thấy những kiến thức của mình đang học được ứng dụng trong đời sống,hoặc là khi chúng ta đang đọc sách giáo khoa ta sẽ thấy thì ra những kiến thứcnày chúng ta vẫn gặp hằng ngày Điều này sẽ thấy rõ nhất trong bộ môn Vật lí,một môn khoa học cơ bản và thực nghiệm, kiến thức gắn chặt chẽ với thực tiễnđời sống

Tuy nhiên, khi nhắc đến môn Vật lí thì cả phụ huynh lẫn con em mình đều

có những phản hồi không được tích cực Do đó chúng ta phải thay đổi cách tiếpcận đến bộ môn này, đặc biệt là học sinh lớp 6

Hơn nữa, chúng ta đang chuẩn bị chuyển sang chương trình giáo dục phổthông mới, một chương trình mà tại đó học sinh làm chủ kiến thức phổ thông,biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốtđời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triểnhài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồnphong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sựphát triển của đất nước và nhân loại

Qua quá trình giảng dạy Vật lí 6 trong 4 năm qua tôi nhận thấy rằng họcsinh lớp 6 bắt đầu tiếp cận môn Vật lí có rất nhiều khó khăn như: các em chưabiết môn Vật lí nghiên cứu về vấn đề gì? Các em lúng túng khi giải thích mộthiện tượng, cảm thấy khó khăn khi giải quyết một bài tập định tính Các emchưa biết cách tiến hành một thí nghiệm, xử lí kết quả và từ đó đi đến nội dungbài học…

Xuất phát từ những lí do đó năm học 2018-2019 tôi quyết định đi tìm và ápdụng các biện pháp khắc phục những khó khăn và có những tín hiệu tốt Tuynhiên các biện pháp đó vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Vì vậy, năm 2020-2021

tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh bước đầu làm quen, lĩnh hội kiến thức và yêu thích môn Vật lí” để làm đề tài nghiên cứu

của mình và hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở, phương pháp để họcsinh áp dụng tốt hơn trong quá trình học tập, qua đó nâng cao chất lượng học tậpcủa bộ môn

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nội dung của đề tài chủ yếu tập trung vào việc giúp học sinh làm quen, lĩnh hội kiến thức và từ đó yêu thích môn Vật lí cho các em lớp 6

Trang 2

Phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối 6 Trường THCS Quỳnh Thiện.

3 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, bản thân tôi đã áp dụng các phương pháp sauđây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu Tôi đã tiến hành nghiên cứu Nghị quyết

số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT; công văn 5512 về việc xâydựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục; tài liệu của một số phương phápdạy học tích cực như phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp dạyhọc trực quan; kĩ thuật sơ đồ tư duy

- Phương pháp khảo sát thực tế: Tôi tiến hành khảo sát trên đối tượng họcsinh lớp 6 Đây là đối tượng rất thích tìm tòi, khám phá những cái mới nhưngđây cũng là đối tượng rất dễ thay đổi hành động của mình nên khó hình thànhnên kĩ năng và thái độ học tập Do đó tôi tiến hành khảo sát thường xuyên để kịpthời nắm bắt tình hình để có biện pháp giáo dục hợp lí

- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục Qua các năm giảng dạy tôibám sát kết quả thu được để từ đó điều chỉnh các biện pháp sao cho phù hợp

4 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm: Liên tục trong 4 năm học từ2017-2018; 2018-2019; 2019-2020 và 2020-2021

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ mục tiêu: “Tạo chuyển biến cănbản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốthơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.Chương trình giáo dục phổ thông mới với mục tiêu giáo dục là giúp họcsinh làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống

và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng

và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sốngtâm hồn phong phú; nhờ đó, có cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sựphát triển của đất nước và nhân loại Chương trình giáo dục phổ thông giúp họcsinh phát triển 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi Theo đó, 5 phẩm chấtchủ yếu gồm: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm 10 năng lực

Trang 3

3chung, đặc thù gồm: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề vàsáng tạo; ngôn ngữ; tính toán; khoa học; công nghệ; tin học; thẩm mỹ; thể chất.Môn vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo củatrường THCS Môn vật lí THCS có vị trí cầu nối quan trọng, nó vừa phát triển,

hệ thống hóa các kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã được học ở Tiểu học vừagóp phần chuẩn bị cho các em những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết đểtiếp tục con đường học vấn hoặc đi vào lao động sản xuất

Chương trình vật lí 6, kiến thức kĩ năng được học rất cần thiết để tiếp tụchọc cao hơn Những kiến thức này được học sinh vận dụng vào cuộc sốngthường ngày, góp phần nâng cao kĩ năng làm việc, giúp các em tự tin trong cuộcsống và mở rộng những hiểu biết về thế giới tự nhiên

2 Cơ sở thực tiễn

Vật lí học là những điều đang xảy ra trong thế giới xung quanh chúng ta.Vật lí giúp chúng ta giải thích được sự xuất hiện của những cơn mưa, hay sựxuất hiện của cầu vồng Vật lí thể hiện rõ ràng nhất trong các đồ chơi, trongnhạc cụ và cả trong thể thao nữa Tuy nhiên trong cuộc sống hằng ngày chúng tavẫn gặp những sai lầm đáng tiếc mà nguyên nhân chính là do chúng ta còn thiếunhững kiến thức cơ bản về Vật lí hay chưa biết vận dụng kiến thức vào cuộcsống

Sau nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy đa số học sinh mới coi nhiệm vụhọc tập chỉ là để có kiến thức đi thi chứ không phải học để vận dụng vào cuộcsống Hơn nữa, học sinh bước đầu tiếp cận bộ môn đang hời hợt và chưa biếtcách học sao cho hợp lí Do đó học sinh không mấy hứng thú khi học tập mônhọc có nhiều ứng dụng như môn Vật lí

Trước khi thực hiện đề tài, qua giảng dạy tại trường THCS Quỳnh Thiệnnăm 2020-2021, qua tìm hiểu trao đổi với đồng nghiệp, qua các tiết bài tập, hìnhthành kiến thức mới hay thực hành và bản thân tự rút ra kinh nghiệm cho thấyrằng có những thuận lợi sau:

+ Trường THCS Quỳnh Thiện ở trung tâm của thị xã Hoàng Mai

+ Lãnh đạo nhà trường và các anh chị đồng nghiệp giàu kinh nghiệmchuyên môn luôn quan tâm, khích lệ và thường xuyên có giải pháp hợp lý để tôi

có cơ hội nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

+ Chương trình Vật lí 6 tương đối nhẹ nhàng Chủ yếu thiên về việc hìnhthành cho học sinh những hiểu biết ban đầu, cách tiếp cận bộ môn sao cho khoahọc và từ đó học sinh thấy được các kiến thức của bộ môn trong cuộc sốngthường nhật

+ Lứa tuổi học sinh lớp 6 rất hiếu động, tò mò và thích khám phá nên việcvận dụng các phương pháp để lôi cuốn các em vào bài học tương đối dễ

Trang 4

Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số khó khăn sau:

+ Các em chưa hiểu học Vật lí là học những cái gì và học để làm gì

+ Các em chưa có sự tự giác trong học tập bộ môn nhất là việc học bài cũ

và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp

+ Các em chưa biết cách ghi chép kiến thức sao cho hiệu quả và dễ nhớ + Năng lực giao tiếp và hợp tác của các em trong các hoạt động nhóm vàkhi tiến hành thí nghiệm còn hạn chế

+ Với các bài tập định tính, đa số các em đều nhận ra được vấn đề Tuynhiên các em chưa biết cách giải quyết vấn đề một cách khoa học

+ Với các bài tập định lượng, các em chưa biết cách sử dụng các đại lượng

để tóm tắt, chưa biết cách suy luận để tìm ra cách giải, chưa trình bày được mộtbài giải toát lên tính chất Vật lí

+ Với các hoạt động thực hành, các em đang rất lúng túng khi tiến hành thínghiệm, khi thu thập thông tin, phân tích và xử lý số liệu

Những hạn chế này bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

+ Từ vai trò là anh cả chuyển sang làm em út nên học sinh có chút e dèkhông chỉ ngoài sân trường mà ngay cả trong tiết học

+ Học sinh tiểu học học sinh chỉ học vài môn nhưng lên lớp 6 số lượngcác môn tăng, mỗi giáo viên một môn, mỗi người một giọng nói, một phongcách giảng dạy khác nhau

+ Từ tiểu học, nắn nót từng chữ để vở sạch chữ đẹp nhưng khi lên lớp 6học sinh tự ghi kiến thức vào ở là yêu cầu bắt buộc

Từ những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân trên bản thân tôi đã cố gắngtìm cách tháo gỡ, cố gắng hóa giải phần nào những bế tắc mà mình gặp phải đểgiúp các em bước đầu làm quen và hình thành cách học bộ môn và từ đó yêuthích môn Vật lí

3 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề

3.1 Bước đầu làm quen bộ môn Vật lí

Sau khi làm quen với lớp, tôi sẽ đặt hệ thống câu hỏi 1 mà các em có thể trảlời như:

+ Để đo chiều dài của bàn học, em dùng dụng cụ nào?

+ Làm thế nào để tính thể tích của khối rubic này?

+ Tay cô đang cầm viên phấn, khi cô thả tay ra thì hiện tượng gì sẽ xẩy rađối với viên phấn

+ Các em nhìn ra mái tôn của nhà xe và cho cô biết mái tôn có hình dạngnhư thế nào?

Trang 5

5+ Vào mùa hè, muốn trong phòng học mát thì chúng ta phải sử dụng thiết

bị nào? Lắp đặt ở vị trí nào?

Với hệ thống câu hỏi đó, học sinh rất hào hứng và trả lời một cách thíchthú Bước này tác động khá lớn đến khả năng chú ý của các em Lúc này tiếp tụcthu hút các em bằng hệ thống câu hỏi 2 mà các em nhưng không đưa ra được cơ

sở giải thích như:

+ Tại sao người ta lại sản xuất nhiều loại thước như vậy?

+ Để tính thể tích của một cái ổ khóa thì làm thế nào?

+ Tại sao viên phấn lại rơi xuống đất mà không bay lên trời?

+ Mái tôn làm hình lượn sóng nhằm mục đích gì?

+ Tại sao điều hòa lại phải lắp ở trên cao?

Từ đó, tôi đi khái quát môn Vật lí một cách dễ hiểu nhất Học Vật lí là các

em đang đi tìm câu trả lời cho những hiện tượng tự nhiên đang diễn ra xungquanh ta và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn để cuộc sống trở nên tốtđẹp hơn

Sau đó, tôi sẽ đưa ra một số yêu cầu khi học bộ môn này:

+ Đối với đồ dùng học tập cần có: Sách giáo khoa và sách bài tập; mộtquyển vở kẻ ngang 200-220 trang chia làm đôi, nửa đầu dùng làm vở ghi trênlớp và bài tập, nửa sau dùng làm vở soạn; bút và thước kẻ Và khi ghi bài cần sửdụng bút đỏ hoặc bút dạ quang 2 đầu để đánh dấu những phần kiến thức cần ghinhớ

+ Phải tuân thủ việc làm bài tập và soạn bài trước khi đến lớp

+ Đối với các hoạt động trên lớp phải tham gia nghiêm túc và hiệu quả.Phải thực hiện các hoạt động theo đúng hiệu lệnh và thời gian của giáo viên quyđịnh

Với biện pháp này, việc dẫn dắt học sinh bước đầu làm quen bộ môn tươngđối nhẹ nhàng và hầu hết học sinh thích thú và tuân thủ đúng các yêu cầu khihọc bộ môn Tuy nhiên, sau một quá trình học tập thì một số học sinh có xuhướng không tuân thủ các yêu cầu đó nữa Vì thế đòi hỏi giáo viên phải luônbám sát việc học tập trên lớp cũng như ở nhà của học sinh

3.2 Cách lĩnh hội kiến thức

3.2.1 Hình thành cách ghi chép nhanh và dễ nhớ

Bộ não của chúng ta gồm hai phần: bán cầu trái và bán cầu phải Mỗi báncầu não có một vai trò khác nhau Não trái xử lý thông tin về lập luận, toán học,phân tích ngôn ngữ,…Não phải lại lo những việc như âm nhạc, sáng tạo, mơmộng, tưởng tượng, màu sắc, tình cảm,…Vì vậy khi ghi chép học sinh cần kếthợp bút dạ quang 2 đầu hoặc bút nhiều màu để đánh dấu những kiến thức trọng

Trang 6

tâm cần ghi nhớ Tuy nhiên không được lạm dụng, học sinh không nên nhầm lẫngiữa việc tô màu cho kiến thức với việc học tập thật sự.

Để học sinh ghi chép ngắn gọn, dễ nhớ và đầy đủ kiến thức tôi hướng dẫncho học sinh kĩ thuật ghi bài bằng sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duy tận dụng nguyêntắc của trí nhớ siêu đẳng, tận dụng hình ảnh màu sắc và từ khóa để liên kết ýtưởng thành một sơ đồ ngắn gọn chứa các dòng chảy thông tin giúp học sinh ghinhớ kiến thức một cách khoa học Thông tin được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên vàbiểu diễn bằng các từ khóa, hình ảnh Học sinh có thể sử dụng sơ đồ tư duy chomột mục, một bài hoặc có thể vẽ cho cả chương Chúng ta có thể vẽ sơ đồ tư duytrên giấy cùng với bút màu; có thể vẽ sơ đồ tư duy trên máy tính cùng một sốphần mềm chuyên dụng như iMindMap, Edraw Mind Map,… và có thể sử dụngmột số ứng dụng trực tuyến như minndmup (mindmup.com) Để thực hiện được

kĩ thuật này, tôi hướng dẫn học sinh tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề Bước 2: Vẽ các nhánh chính từ chủ đề trung tâm Trên mỗi nhánh chính

viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề Nên sử dụng từ khóa

và viết bằng chữ in hoa Có thể dùng các biểu tượng để mô tả thuật ngữ từ khóa

để gây hiệu ứng chú ý và ghi nhớ

Bước 3: Từ mỗi nhánh vẽ tiếp các nhánh phụ, viết tiếp những nội dung

thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

Bước 4: Tiếp tục thực hiện với các nhánh phụ tiếp theo.

Minh họa 1: Bài 11: Khối lượng riêng Trọng lượng riêng.

Sử dụng sơ đồ tư duy để ghi kiến thức phần khối lượng riêng theo tiến trìnhhọc trên lớp

Trang 7

Minh họa 2: Tổng kết chương I: Cơ học

Hoạt động của Gv Hoạt động của học sinh

* Gv chuyển giao nhiệm vụ và phát phiếu học

tập cho các nhóm

- Nhóm 1,2 hoàn thành yêu cầu 1 vào phiếu học

tập gồm các câu hỏi:

+ Có những phép đo nào? Đo bằng dụng cụ gì?

+ Hãy nêu kí hiệu và đơn vị của thể tích và khối

lượng

+ Khối lượng riêng của một chất là gì? Kí hiệu,

đơn vị và công thức tính khối lượng riêng

- Nhóm 3,4 hoàn thành yêu cầu 2 vào phiếu học

tập gồm các câu hỏi sau:

+ Lực là gì? Đơn vị của lực?

+ Trọng lực là gì? Nêu phương, chiều của trọng

lực

+ Trọng lượng riêng của một chất là gì? Kí hiệu,

đơn vị, công thức tính trọng lượng riêng

+ Nêu công thức liên hệ giữa trọng lượng và

* Hs hoạt động nhóm

- Nhóm 1,2 hoàn thành phiếuhọc tập số 1

- Nhóm 3,4 hoàn thành phiếuhọc tập thứ 2

Trang 8

khối lượng.

+ Nêu công thức liên hệ giữa trọng lượng riêng

và khối lượng riêng

+ Lực đàn hồi xuất hiện khi nào? Nêu mối quan

hệ giữa lực đàn hồi và độ biến dạng đàn hồi

+ Hai lực cân bằng là hai lực như thế nào?

- Nhóm 5,6 hoàn thành yêu cầu 3 vào phiếu học

tập gồm các câu hỏi sau:

+ Có mấy loại máy cơ đơn giản?

- Gv quan sát tổng quát các nhóm, động viên,

hướng dẫn, giải đáp những thắc mắc trong quá

trình thảo luận

- Các nhóm hoạt động trong 15 phút

* Gv chia đôi bảng, viết tên chủ để “CƠ HỌC” ở

cả 2 phần của bảng và yêu cầu

- Nhóm 1,3,5: lên treo phiếu học tập xung quanh

chủ đề của phần bảng bên trái

- Nhóm 2,4,6: lên treo phiếu học tập xung quanh

chủ đề của phần bảng bên phải

- Sau khi hoàn thành 2 sơ đồ tư duy của chương

“CƠ HỌC”, các nhóm nhận xét lẫn nhau

- Gv tổng hợp ý kiến và nhận xét chung về ý thức

hoạt động nhóm và nội dung

- Gv có thể chiếu sơ đồ tư duy của chương đã

chuẩn bị để học sinh tham khảo

- Nhóm 5,6 hoàn thành phiếuhọc tập thứ 3

- Các nhóm lên treo sảnphẩm

- Hs nhận xét

Trang 9

Sơ đồ tư duy “Tổng kết chương I: Cơ học”

Thực tế khi áp dụng biện pháp này, lúc đầu học sinh hơi ngỡ ngàng trongcách ghi chép, nhưng chỉ sau 4 tuần học thì học sinh bắt đầu thích thú và cónhiều sáng tạo trong cách ghi chép này Như vậy vở của học sinh không lànhững con chữ khô khan mà là tác phẩm nghệ thuật mang tính sáng tạo Đểkhuyến khích học sinh cẩn thận, sáng tạo trong cách ghi chép trên lớp giáo viêncần kiểm tra vở thường xuyên để kịp thời điều chỉnh, sửa sai tránh tình trạnggiao việc nhưng bỏ mặc học sinh

3.2.2 Hình thành kĩ năng làm thí nghiệm cho học sinh

Lớp 6 là học sinh đầu cấp, lần đầu được tiếp xúc với các dụng cụ thínghiệm và các thí nghiệm trong giờ học Do đó các em chưa biết cách sử dụngcác thiết bị thí nghiệm và có sự lúng túng trong quá trình làm thí nghiệm Vì thếngay từ buổi học đầu tiên giáo viên cần chú ý đến việc hướng dẫn cách sử dụngcác thiết bị, các thao tác thí nghiệm sao cho an toàn và có hiệu quả Ví dụ nhưcác dụng cụ đo thể tích chất lỏng, nhiệt kế cần sử dụng nhẹ nhàng, tránh va đập,

vệ sinh sạch sẽ sau khi làm xong thí nghiệm Với lực kế không được sử dụngquá giới hạn đo Các thí nghiệm trong chương II cần chú ý đến an toàn trong quátrình làm thí nghiệm vì có liên quan đến đèn cồn, các chất như rượu, dầu…

Trang 10

Cần phải chia nhóm học sinh một cách hợp lí Trong mỗi nhóm cần hội tụđầy đủ các đối tượng học sinh để học sinh được hổ trợ và giúp đỡ nhau trongquá trình học tập Vai trò của các thành viên trong nhóm được luân phiên chonhau.

Học sinh phải tiến hành các bước sau:

Bước 1: Hình thành nên cơ sở lý thuyết gồm mục đích thí nghiệm, dụng cụ

thí nghiệm và các bước tiến hành thí nghiệm

Bước 2: Các nhóm nhận dụng cụ và tiến hành lắp ráp thí nghiệm Nhóm

trưởng phân công nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm

Giáo viên cần phải bao quát lớp trong quá trình thực hành thí nghiệm Pháthiện và hướng dẫn kịp thời các nhóm còn lúng túng khi làm thí nghiệm cũngnhư quan sát kết quả và ghi kết quả

Bước 3: Khi hết thời gian thảo luận nhóm giáo viên yêu cầu các nhóm báo

cáo kết quả Dựa vào kết quả giáo viên phân tích để học sinh rút ra kết luận cầnthiết cho bài học

Minh họa 3: Bài 4: Đo thể thích chất lỏng.

Hoạt động luyện tập: Thực hành đo thể tích nước chứa trong 2 bình

a, Mục tiêu:

- Hệ thống hóa kiến thức về đo thể tích chất lỏng

- Vận dụng kiến thức để tiến hành đo thể tích một lượng nước bất kì

- Hình thành nên kĩ năng tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết quả

b, Phương thức thực hiện: Hoạt động nhóm

c, Sản phẩm hoạt động: Phiếu học tập của nhóm

d, Phương án kiểm tra đánh giá:

- Học sinh tự đánh giá và đánh giá các thành viên trong nhóm

- Giáo viên đánh giá

e, Tiến trình hoạt động:

*Giáo viên giao nhiệm vụ:

Hoạt động nhóm trình bày được các nội dung sau:

- Mục đích thí nghiệm là gì?

- Để tiến hành thí nghiệm cần những dụng cụ nào?

- Các bước tiến hành ra sao?

- Kết quả thí nghiệm phải hoàn thành vào phiếu học tập

Giáo viên yêu cầu nhóm trưởng lên nhận dụng cụ thí nghiệm và phát phiếu học

Trang 11

11tập cho các nhóm.

*Học sinh thực hiện nhiệm vụ:

- Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm, nghiên cứuSGK trả lời các câu hỏi và tiến hành thí nghiệm để hoàn thành phiếu học tập

- Giáo viên quan sát và phát hiện các nhóm còn lúng túng để hỗ trợ kịp thời.Sau 5 phút tiến hành thí nghiệm, giáo viên yêu cầu các nhóm dừng thí nghiệm

- Giáo viên yêu cầu đại diện nhóm lên trình bày kết quả

*Đánh giá kết quả hoạt động:

3.2.3 Hình thành kĩ năng giải bài tập Vật lí

Bài tập Vật lí 6 có nội dung rất phong phú và đa dạng Vì vậy phương pháp

để giải quyết bài tập Vật lí cũng muôn hình muôn vẻ Do đó giáo viên cần thựchiện các công việc sau:

- Lựa chọn các bài tập phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp học

Trang 12

- Lựa chọn các bài tập cơ bản, điển hình nhằm từng bước hướng dẫn họcsinh vận dụng kiến thức đã học để giải và trình bày các bài tập.

- Sắp xếp các bài tập đã lựa chọn thành một hệ thống, xác định rõ kế hoạch

và phương pháp dạy học hợp lý

Từ đó hình thành nên các bước để giải một bài tập Vật lí:

Bước 1: Tìm hiểu đề bài:

- Phân tích đề: Gạch chân những từ cụm từ quan trọng Bài tập cho biết đạilượng nào? Yêu cầu tìm đại lượng nào?

- Tóm tắt đề bài bằng những kí hiệu của các đại lượng đã quy ước và đưacác đại lượng về đơn vị chuẩn

Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa những cái đã cho và những cái cần tìm

- Đối chiếu các dữ kiện xem xét bản chất tình huống đã cho để nhận ra cáctính chất, đặc điểm, công thức có liên quan

- Xác lập và lựa chọn được mối quan hệ cụ thể để từ đó đưa ra kế hoạchtiến hành để đi tìm cái chưa biết

Bước 3: Trình bày bài theo kế hoạch đã vạch sẵn từ bước 2

- Thực hiện giải bài tập theo đúng kế hoạch

- Thiết lập công thức giữa đại lượng chưa biết và những đại lượng đã biếtrồi mới thay số liệu tính toán để tránh sai số

Bước 4: Kiểm tra và chốt kết quả

Minh họa 4: Bài tập định tính

Ví dụ: Tại sao người ta thường lắp điều hòa ở trên cao còn máy sưởi thì đặt

ở dưới thấp

- Tìm hiểu đề bài: Từ cần lưu ý: Điều hòa và trên cao, máy sưởi và dướithấp

- Xác định mối liên hệ:

+ Phòng để lắp 2 thiết bị này phải là phòng kín

+ Điều hòa cho khí lạnh, máy sưởi cho khí nóng

+ Dựa vào công thức D= m

V để trình bày sự khác nhau về khối lượng riêngcủa khí nóng và khí lạnh

- Trình bày: Trong phòng kín chứa một lượng khí xác định khối lượng (m)khí không đổi Điều hòa làm cho không khí trong phòng lạnh đi, còn máy sưởi

là cho không khí nóng lên Như ta đã biết chất khí nở ra khi nóng lên và co lạikhi lạnh Áp dụng công thức D= m

V ta có:

Ngày đăng: 05/03/2022, 15:13

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w