Mặc dù vậy, đàotạo nghề ở nước ta nói chung và ở Bộ Quốc phòng nói riêng hiện nay vẫn cònbộc lộ một số hạn chế như ngành nghề dạy còn ít, đơn điệu; chất lượng đào tạothấp, sự phối hợp gi
Trang 1NGUYỄN THỊ THU CHUNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN NHÂN XUẤT NGŨ
Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THU CHUNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN NHÂN XUẤT NGŨ
Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH
Trang 4MỤC LỤC
Tran g
Chương 1 ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN NHÂN XUẤT NGŨ
Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - CƠ SỞ LÝ
1.2 Khái niệm, nội dung, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng
đến đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở các trườngdạy nghề quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 161.3 Kinh nghiệm về đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN
NHÂN XUẤT NGŨ Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển các trường
dạy nghề quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 482.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong công tác
đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở các trường dạynghề quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 51
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY
MẠNH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN NHÂN XUẤT NGŨ Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN
3.1 Những quan điểm cơ bản đẩy mạnh đào tạo nghề cho
quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề quân đội
3.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh đào tạo nghề cho
quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề quân đội
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân lực là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững của đấtnước Vì vậy việc đầu tư để đào tạo nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhànước ta đặc biệt quan tâm Yêu cầu này đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải luônđổi mới và nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triểngóp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Một trong những vấn đề quantrọng để giải quyết vấn đề này là xây dựng chiến lược đào tạo nghề phù hợp
và khoa học Tuy nhiên, việc xây dựng chiến lược đào tạo nghề không chỉđơn thuần là việc định hướng cho sự phát triển của một lĩnh vực mà còn làyếu tố cấu thành góp phần thực hiện chiến lược phát triển giáo dục của Đảng
và Nhà nước ta
Ở Việt Nam, đào tạo nghề có lịch sử phát triển trên 30 năm và đã gópphần rất lớn vào sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước Nhận thức đượctầm quan trọng của công tác đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêngtrong phát triển nguồn nhân lực, các Trường dạy nghề quân đội trên địa bànthành phố Hà Nội luôn quan tâm chỉ đạo, có định hướng và giải pháp pháttriển đào tạo nghề đặc biệt cho đối tượng là Bộ đội xuất ngũ về địa phương
Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/6/2006 về “Quy hoạch
mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” là một giải pháp hợp lý giúp cho hệ
thống trường nghề phát triển Bởi vậy, cho đến nay cả nước đã có trên 100trường cao đẳng nghề (trong đó có hơn 40 trường chất lượng cao, một sốtrường tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực); gần 300 trường trung cấpnghề và 800 trung tâm dạy nghề trong đó có các trường dạy nghề của Quânđội Mỗi tỉnh (thành phố) có ít nhất một đến hai trường trung cấp nghề hoặctrường cao đẳng nghề Sự phát triển của các trung tâm dạy nghề hoặc các
Trang 6trường trung cấp nghề nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động họcnghề, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùngnông thôn Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhânlực, vấn đề đào tạo công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội đang trởthành nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của các cơ sở đào tạo nghề nhằm thựchiện mục tiêu phát triển đào tạo nghề hiện nay.
Thời gian qua, đào tạo nghề ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể, góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mặc dù vậy, đàotạo nghề ở nước ta nói chung và ở Bộ Quốc phòng nói riêng hiện nay vẫn cònbộc lộ một số hạn chế như ngành nghề dạy còn ít, đơn điệu; chất lượng đào tạothấp, sự phối hợp giữa địa phương với doanh nghiệp và cơ sở đào tạo trongviệc tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động sau học nghềchưa hiệu quả, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được thị trườnglao động và yêu cầu của xã hội
Trên thực tế, hàng năm trên địa bàn Hà Nội có một số lượng lớn quânnhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương (khoảng 8.000 –10.000 người) Lực lượng này có ưu thế là trẻ, khỏe, có văn hóa có tác phongchính quy; đã được rèn luyện kỷ luật quân đội Tuy nhiên, họ chưa có nghề ổnđịnh, vấn đề đặt ra là phải bảo đảm việc làm cho những quân nhân xuất ngũnày Do vậy, đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ở các Trường dạy nghềquân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội là sự đáp ứng nhu cầu của thực tiễnchuẩn bị nguồn lao động cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố
Hà Nội và các tỉnh lân cận, góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làmcho quân nhân xuất ngũ trên địa bàn, là một vấn đề bức xúc hiện nay Do vậy
tác giả chọn đề tài “ Đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ở các Trường dạy
nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp Thạc
sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị
Trang 72 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về đào tạo nghề nói chung vànhững vấn đề liên quan đến quân nhân xuất ngũ nói riêng như:
- Giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, tác giả
Trần Khánh Đức, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2002 Nội dung cuốn sách tậptrung nghiên cứu cơ sở lý luận và giải pháp giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp
và phát triển nguồn nhân lực
- Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Phát triển lao động kỹ thuật ở
Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010” của PGS.TS Đỗ Minh Cường Tổng cục
Dạy nghề - Bộ lao động – Thương binh và Xã hội
- Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu
nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH Luận án tiến sỹ kinh tế, tác giả Phan
Chính Thức, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003 Luận án đi sâu nghiên cứu đềxuất những khái niệm, cơ sở lý luận mới về đào tạo nghề, về lịch sử đào tạonghề và giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lựccho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta
- Quản lý Nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta- thực trạng và giải pháp, tác giả Nguyễn Đức Tỉnh, luận án Tiến sỹ Kinh tế, 2011.
Nội dung luận án đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước vềđầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền kinh tế thị trường Phân tích, đánhgiá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về đầu tưphát triển đào tạo nghề ở Việt Nam
- Giáo dục nghề nghiệp – Những vấn đề và giải pháp, tác giả Nguyễn
Viết Sự, NXB Giáo dục, Hà Nội Nội dung cuốn sách tập hợp các bài viết
đã đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học về lýluận, thực tiễn kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dụcnghề nghiệp
- Quản lý Nhà nước về Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta, tác
giả Nguyễn Đức Tĩnh, luận án tiến sỹ kinh tế, Hà Nội – 2007 Nội dung luận
Trang 8án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý Nhà nước vềđầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta.
- Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam, tác giả Bùi
Đức Tùng, luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị (2007) Nội dung luận văn tậptrung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước trong lĩnh vựcdạy nghề
- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn, tác giả
PGS.TS Đỗ Văn Cương, TS Mạc Văn Tiến, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội– 2004 Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn vềphát triển lao động kỹ thuật ở nước ta
- Giải quyết việc làm cho Quân nhân xuất ngũ ở Quân khu 4 hiện nay,
tác giả Nguyễn Văn Dũng, luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị,Học Viện Chính trị, 2006 Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu việc làm
rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như các quan điểm, giải pháp để giải quyếtviệc làm cho quân nhân xuất ngũ trên địa bàn Quân khu
- Phát triển thị trường lao động và tác động của nó đến đảm bảo nguồn
nhân lực cho Quân đội nhân dân Việt Nam, tác giả Trần Văn Ba, luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị, 2006 Nội dungluận văn tập trung phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sựphát triển của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, gắn với đảm bảo nguồn nhân lực cho Quân đội nhân dân Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
- Vai trò của Quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay, tác giả Hoàng Văn Phai, luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Kinh tế chính trị Học viện Chính trị, 2008 Nội dung luận văn làm rõ
cơ sở lý luận về vai trò của Quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụCNH, HĐH Từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai tròcủa Quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
ở nước ta hiện nay
Trang 9- Đào tạo lao động kỹ thuật trong phát triển kinh tế - xã hội ở các cơ sở
dạy nghề trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tác giả Võ Xuâ Linh, luận văn Thạc sỹ
Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2011 Luận văn
đã luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo lao động kỹ thuậttrong phát triển kinh tế- xã hội Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạngđào tạo lao động lao động kỹ thuật ở các cơ sở dạy nghề ở Hà Tĩnh trong thờigian qua, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh đào tạolao động kỹ thuật ở các cơ sở dạy nghề ở Hà Tĩnh trong thời gian tới
- Nguồn nhân lực là quân nhân xuất ngũ trong phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam, TS Nguyễn Đình Thiện, luận án tiến sỹ, 2011 Tác giả của
luận án khẳng định; nguồn nhân lực là QNXN là số lượng và chất lượng quânnhân rời khỏi quân đội, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,năng lực, phẩm chất đạo đức cùng khả năng thích ứng xã hội Đó là tổng thểnhững yếu tố của QNXN hiện có và tiềm năng sẵn sàng tham gia phát triểnkinh tế - xã hội, từ đó đưa ra những ưu thế và hạn chế của nguồn nhân lực làQNXN Việt Nam Luận án đã đưa ra những giải pháp nhằm sử dụng hiệu quảnguồn nhân lực là QNXN trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước, Thạc sỹ Nguyễn Trọng Mật (2009), tạp chí Lý luận chính trị số 7.
Nội dung bài báo đã làm rõ những thành tựu trong công tác đào tạo nghề ởnước ta thời gian qua và những mặt hạn chế Từ đó đưa ra một số giải phápchủ yếu để nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Thông tin liên tịch số 04/TTLT-BQP-BTC ngày 04/01/2010 của BộQuốc phòng và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ bộ độixuất ngũ học nghề Quyết định về cơ chế hoạt động của cơ sở dạy nghề thuộc
Bộ quốc phòng và chính sách hỗ trợ bộ đội xuất ngũ học nghề
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiêncứu khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Nhữngnghiên cứu trên có cách tiếp cận khác nhau về đào tạo nghề, trong đó có đào
Trang 10tạo cho đối tượng là QNXN Các công trình khoa học trên có ý nghĩa to lớntrong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu: Đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ trong các Trường dạynghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, đề tài không trùng lặpvới bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề cho Quânnhân xuất ngũ trong các Trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố HàNội Trên cơ sở đó, đề ra một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đẩymạnh đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ở các Trường dạy nghề Quân độitrên địa bàn thành phố Hà Nội
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tậptrung vào những vấn đề sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận và kinh nghiệm về đào tạo nghề choQNXN trong các trường dạy nghề quân đội
- Phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho QNXN ở các trườngdạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh đào tạonghề cho QNXN ở các trường dạy nghề quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ởgóc độ Kinh tế chính trị
* Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian:
Luận văn nghiên cứu đào tạo nghề cho QNXN ở các trường dạy nghềQuân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội cụ thể là ở 3 trường:
Trang 11- Trường Trung cấp nghề số 10- Bộ Tư lệnh Thủ đô- Bộ Quốc Phòng.
- Trường Trung cấp nghề số 17- Tổng cục Kỹ thuật- Bộ Quốc phòng
- Trường Trung cấp nghề số 18- Binh đoàn 11- Bộ Quốc phòng
+ Về thời gian:
Luận văn nghiên cứu đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở cáctrường dạy nghề quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008-2013
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội và củathành phố Hà Nội về công tác đào tạo nghề nói chung, QNXN nói riêng
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trịMác – Lênin như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lịch
sử kết hợp logic; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
6 Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề choQNXN ở nước ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạonghề, các cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văngồm có 3 chương, 7 tiết
Trang 12Chương 1ĐÀO TẠO NGHỀ CHO QUÂN NHÂN XUẤT NGŨ Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM 1.1 Quan niệm về nghề và đào tạo nghề
1.1.1 Quan niệm về nghề
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một tài nguyên đặc biệt,một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người,phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệthống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảođảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tưcho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở vững chắc nhất cho sựphát triển bền vững Vì vậy, nguồn nhân lực luôn phải được định hướng cho quátrình đào tạo
Nghề là công cụ đầu tiên để con người tham gia hoạt động lao động sảnxuất, đây là hoạt động đầu tiên gắn liền với con người và xã hội loài người Từ
xa xưa, tổ tiên của loài người đã biết tìm kiếm trong thế giới xung quanh nhữngvật phẩm tự nhiêm để phục vụ cho sự sinh tồn và phát triển Hoạt động đókhông đơn thuần là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nócòn bao gồm cả yếu tố xã hội và việc làm cũng phản ánh mối quan hệ giữangười lao động với tự nhiên Do vậy, việc làm cũng chịu sự tác động bởi nhữngquy luật và điều kiện tự nhiên Mặt khác, việc làm cũng phản ánh tính chủđộng, sáng tạo của lao động Người lao động với kỹ năng của bản thân, kết hợpvới tư liệu sản xuất, hoạt động trong một lĩnh vực nhất định để tạo ra của cảivật chất; đồng thời giữa những người lao động còn có quan hệ với nhau- quan
hệ xã hội Do đó, việc làm chịu sự tác động của các quy luật kinh tế, xã hội.Như vậy, giữa người lao động và việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 13Xét về phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nhiều người làm việc mà khôngđược qua đào tạo nghề vì vậy công việc của họ chỉ là những công việc laođộng phổ thông, cuộc sống bếp bênh, không ổn định Vì vậy nghề nghiệp nóilên mối quan hệ của con người với tư liệu sản xuất và những quan hệ xã hộicần thiết trong quá trình lao động.
Như vậy, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó đáp ứng những nhu cầu của xã hội.
Nghề trong xã hội không phải là một cái gì cố định cứng nhắc Nghềnghiệp cũng giống như một cơ thể sống có sinh thành, phát triển và tiêu vong
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực laođộng mà ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ranhững giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động ) hoặc giátrị tinh thần (sách báo, phim ảnh ) với tư cách là những phương tiện sinh tồn
và phát triển của xã hội
Qua ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý thì trong điều kiệnnước ta hiện nay, thời gian để có thể truyền đạt kiến thức và kỹ năng nghềđơn giản cũng phải cần tối thiểu một tháng Nếu đào tạo theo chương trình môđun thì thời lượng để truyền tải cho người học các kiến thức, kỹ năng của các
mô đun trong khóa học tối thiểu cũng từ một tháng trở lên Kết thúc khóa học,người học đã được thi hoặc kiểm tra đánh giá về kiến thức và kỹ năng nghề đãđược học, đạt kết quả và được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề theo quy địnhđối với khóa đào tạo
Với những người đã có kỹ năng nghề (qua kèm cặp, truyền nghề hoặcqua hoạt động thực tiễn) khi tham gia các khóa đào tạo nghề ngắn hạn đượckiểm tra kỹ năng đã đạt được trước khi vào học để xác định nội dung cần đàotạo, bổ sung đảm bảo kiến thức, kỹ năng của nghề cần đào tạo Kết thúc khóa
Trang 14đào tạo, người học nghề được kiểm tra sát hạch, nếu đạt yêu cầu thì được cấpchứng chỉ nghề Sau khi tốt nghiệp, người học nghề có khả năng tìm đượcviệc làm hoặc tự tạo việc làm và đảm bảo thu nhập bằng nghề đã học.
1.1.2 Quan niệm về đào tạo nghề
Theo tài liệu của Bộ lao động Thương binh và xã hội: Đào tạo nghề là
hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học có được một nghề trong xã hội.
Tack Soo Chung (1982) cho rằng: Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo
phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái đội nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc đối với những người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, trường dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội làm việc và cải thiện địa vị cho người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm
cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là:
- Dạy nghề: Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lýthuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sựkhéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thựchành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân thì : “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến
Trang 15thức và kỹ năng cầm thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai ” [37, tr.91].
Khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kỹnăng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản Điều này thể hiệntính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trongquan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn nhânlực, coi công nhân như cái máy sản xuất Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn vềvấn đề tinh thần và kỷ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng tronghoạt động sản xuất với công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện nay
Như vậy, tác giả luận văn cho rằng: đào tạo nghề là hoạt động nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để họ đảm nhận công việc được giao.
Vậy lao động qua đào tạo nghề được hiểu như thế nào?
Một lao động được tính là lao động đã qua đào tạo nghề khi lao động
đó hoàn thành ít nhất một khóa đào tạo nghề với các tiêu chí sau :
+ Về nghề đào tạo: đã qua khóa đào tạo nghề thuộc danh mục nghề đàotạo theo quy định hiện hành
+ Về chương trình và thời gian đào tạo nghề: chương trình đào tạo nghề
là chương trình chuẩn được ban hành theo quy định, có thời gian đào tạo phùhợp Để đảm bảo đạt được kiến thức và kỹ năng nghề cần thiết quy định thờigian tối thiểu đối với một khóa đào tạo nghề để được coi là đã qua đào tạo nghề
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển kinh tế thị trường
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đang tạo ra cả những cơ hội vàthách thức về lao động có trình độ tay nghề, việc làm cho người lao động.Trong điều kiện mới, đảm bảo ổn định việc làm cho người lao động là mộttrong những yếu tố cơ sở cho xây dựng chủ trương, chính sách, biện pháp đàotạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách
Trang 16Trong mỗi thời kỳ, quan niệm về đào tạo nghề và các chính sách giảiquyết việc làm không cố định mà nó được xem xét dựa trên nền tảng của mỗichế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộicủa mỗi một quốc gia.
Trên cơ sở tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu, có thể hiểu: Lao
động qua đào tạo nghề là những người đã hoàn thành ít nhất một chương trình đào tạo của một nghề tại một cơ sở đào tạo nghề đã được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề theo các quy định hiện hành, giúp cho người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định trong khuôn khổ của pháp luật.
Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sựphát triển nền kinh tế đất nước Họ là những người đưa lý thuyết đến thựchành, đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,người lao động nói chung và lao động qua đào tạo nghề nói riêng có thể thamgia lao động ở bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì mà pháp luật cho phép để manglại thu nhập cho bản thân và gia đình
* Các hình thức, loại hình đào tạo nghề
+ Các hình thức đào tạo nghề:
- Đào tạo chính quy: đào tạo chính quy được thực hiện với vác chươngtrình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tạo các cơ sở dạy nghềtheo các khóa học tập trung và liên tục Đào tạo chính quy được thực hiện ởcác trung tâm dạy nghề, các trường dạy nghề với quy mô đào tạo tương đốilớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề cao
- Đào tạo nghề tại nơi làm việc: là hình thức đào tạo trực tiếp trong đógiờ học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thôngqua thực tế thực hiện công việc và thường được sự hướng dẫn của nhữngngười lao động có trình độ cao hơn Hình thức này thực hành tại chỗ vàthường do doanh nghiệp (hoặc cá nhân) tự tổ chức
Trang 17- Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp: đó là hình thức kháphổ biến trên thế giới, nhưng ở Việt Nam mới xuất hiện trong những năm gầnđây Có thể hiểu, đó là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học có haichỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chungcủa hệ thống.
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp: là hình thức đào tạo gồm haiphần lý thuyết và thực hành Nó chủ yếu áp dụng cho những nghề phức tạp,đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao
+ Các loại hình đào tạo:
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp haykiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắmvững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một các có hệ thống để chuẩn bịcho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một côngviệc nhất định
Căn cứ vào thời gian, đào tạo nghề thường có các loại hình đào tạo:
- Đào tạo nghề ngắn hạn là đào tạo nghề bán chính quy với chươngtrình đào tạo linh hoạt theo nhu cầu thị trường với thời gian ngắn, đối tượnghọc nghề mở rộng từ phổ cập đến bồi dưỡng nâng cao tay nghề, thời gian đàotạo từ ba tháng đến dưới một năm đối với người có trình độ học vấn, sức khỏephù hợp với nghề cần học, mục đích đào tạo nhằm trang bị cho người họcnghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một sốcông việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khitốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lêntrình độ cao hơn
- Đào tạo nghề dài hạn là đào tạo nghề trong khu vực các trường dạynghề chính quy bao gồm các trường Trung cấp nghề, Trường công nhân kỹthuật, cao đẳng nghề, là loại hình đào tạo trên một năm bao gồm đào tạo trình
Trang 18độ Trung cấp nghề, cao đẳng nghề, nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khảnăng làm việc độc lập và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào côngviệc; có khả năng sáng tạo; giải quyết được các tình huống phức tạp trongthực tế, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện chongười học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làmhoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
Căn cứ vào nghề đào tạo gồm có:
- Đào tạo mới: là loại hình đào tạo áp dụng cho những người chưa cónghề nghiệp, chuyên môn để họ có được nghề, chuyên môn nhất định, đápứng được yêu cầu lao động có tay nghề
- Đào tạo lại: là quá trình đào tạo áp dụng cho những người đã có nghềsong nghề của họ không còn phù hợp với thực tại
- Đào tạo nâng cao: là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinhnghiệm làm việc cho người lao động để họ đảm nhận được công việc phức tạp hơn
1.2 Khái niệm, nội dung, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2.1 Khái niệm đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Để hiểu được khái niệm đào tạo nghề cho QNXN ta cần phải hiểu thế nào là QNXN:
Về quan niệm quân nhân, theo từ điển Bách khoa quân sự Viêt Nam:Quân nhân gọi chung là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyênnghiệp hoạt động trong quân đội theo luật định Như vậy, quân nhân chính lànhững người đang hoạt động trong quân đội và họ là lực lượng cơ bản, chủyếu phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Trang 19Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam khẳng định: “xuất ngũ, việc quân
nhân rời khỏi lực lượng thường trực của quân đội theo quy định của pháp luật” Theo Luật Nghĩa vụ quân sự Việt Nam, đối tượng xuất ngũ bao gồm hạ
sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp có thời hạn phục vụ tại ngũ: đối vớinam chưa đủ 5 năm, nữ chưa đủ 3 năm trừ thương binh hạng ¼ và nhữngngười có 3 năm hoạt động chiến đấu ở nước bạn hưởng chế độ phục viên.Xuất ngũ được phân thành 3 loại:
- Xuất ngũ theo hạn định: đây là lực lượng xuất ngũ đúng thời hạn theoquy định của Luật nghĩa vụ quân sự Hiện tại, theo quy định của Luật nghĩa
vụ quân sự, thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ của công dân trong độ tuổi thựchiện Luật là 18 tháng, hết 18 tháng quân nhân có quyền xuất ngũ
- Xuất ngũ trước hạn định: là loại xuất ngũ trước thời hạn luật định vì lý
do sức khỏe, gia đình, v.v…
- Xuất ngũ trên hạn định: là loại xuất ngũ sau khi phục vụ thêm mộtthời gian theo luật định
Từ cách tiếp cận trên cho thấy, bộ phận những người tham gia thực
hiện nghĩa vụ quân sự khi được rời khỏi quân đội theo những quy định của Luật được gọi là quân nhân xuất ngũ Trong bộ phận quân nhân xuất ngũ, lực
lượng quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự chiếm tỷ lệ chủ yếu Đây làlực lượng lao động trong độ tuổi 20, cơ bản chưa xây dựng gia đình, họ có sựtrưởng thành về bản lĩnh, ý chí, ý thức tổ chức kỷ luật, tràn đầy nhiệt huyết vànguyện vọng, nhưng đa số chưa định hướng được việc làm và 100% quânnhân xuất ngũ đều có nhu cầu tìm kiếm việc làm
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ chỉ là một
bộ phận, một phần công việc trong đào tạo nghề để giải quyết việc làm nóichung trong nền kinh tế, đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ cũng phải tuânthủ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời chịu sự tác
Trang 20động của những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình đào tạo nghề cho người laođộng trong nền kinh tế Tuy nhiên, đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ cónhững đặc điểm đặc thù Bởi, đây là lực lượng lao động đã hoàn thành xongquyền lợi, nghĩa vụ của một công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Theo quy định của Luật, thường lệ hàng năm nước ta luôn có một lựclượng thanh niên bổ sung thực hiện nghĩa vụ quân sự thông qua các kỳ tuyểnquân của quân đội, song hành với quá trình đó có một lực lượng tương ứngquân nhân xuất ngũ có nguyện vọng muốn làm việc để ổn định cuộc sống bảnthân và gia đình Do vậy, vấn đề đào tạo nghề để giải quyết công ăn việc làmcho quân nhân xuất ngũ phải được xác định là một chiến lược góp phần tạodựng cuộc sống ổn định, lâu dài cho quân nhân; góp phần xây dựng nền quốcphòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân Để thực hiện những mụctiên trên, cần xác định rõ, sau khi quân nhân xuất ngũ trách nhiệm của Đảng,Nhà nước, Bộ Quốc phòng, cán bộ, ban, ngành và địa phương phải có nhữngchủ trương, chính sách đào tạo cho họ một nghề nhất định để có công ăn việclàm ổn định
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng: Đào tạo nghề cho quân
nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho bản thân quân nhân xuất ngũ để tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho mọi quân nhân sau khi xuất ngũ về địa phương có tay nghề lao động nhất định, đủ khả năng tìm kiếm, thực hiện cho mình một công việc phù hợp và ổn định.
1.2.2 Nội dung của đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với công tác đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ.
Trang 21Chủ trương, chính sách về đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề choquân nhân xuất ngũ nói riêng phải luôn được hoàn thiện cho phù hợp với điềukiện cụ thể, nhằm đảm bảo cho sự phát triển cả về số lượng và chất lượng hệthống giáo dục quốc dân.
Hệ thống chính sách cơ bản như: chính sách đối với cơ sở đào tạo,chính sách đối với người sử dụng lao động, chính sách đối với xã hội hóa giáo dục
Hệ thống chính sách về đào tạo nghề sẽ là cơ sở pháp lý để các cơ sởdạy nghề tiến hành các hoạt động đào tạo nghề, giúp người học thực hiệnđược công việc được giao, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Hoàn thiện chủ chương, chính sách về đào tạo nghề đầy đủ, thống nhất,đồng bộ có giá trị pháp lý cao, ban hành kịp thời, phản ánh đúng yêu cầu củathực tiễn
Chủ trương, chính sách về đào tạo nghề đúng đắn sẽ có tác động tíchcực đến quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo nghề Ngược lại, chủ trương,chính sách về đào tạo nghề thiếu, chưa đồng bộ thì các các cơ sở đào tạo sẽgặp khó khăn do thiếu chính sách và cơ chế pháp lý
Thứ hai, xây dựng hệ thống cơ cấu các ngành nghề; nội dung chương trình; phương pháp đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ.
- Hệ thống cơ cấu ngành nghề: Cơ cấu ngành nghề hợp lý có tác dụngquan trọng góp phần vào sự phát triển KT-XH Cơ cấu ngành nghề phải đảmbảo nhu cầu của thị trường, nhu cầu của xã hội
Quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự được xuất ngũ, về cơ bản chưa
có nghề nghiệp khi nhập ngũ, họ mới tốt nghiệp phổ thông cơ sở, phổ thôngtrung học và phần lớn chỉ có một lượng tri thức nhất định về các ngành nghềnông, lâm, ngư nghiệp Với đặc điểm trên, giải pháp đơn giản để giải quyếtviệc làm cho quân nhân xuất ngũ là các địa phương chủ động đào tạo nghề để
họ phát huy những lợi thế đã có tiến hành sản xuất, kinh doanh và ổn định
Trang 22cuộc sống Trên thực tế, phương án giải quyết trên chỉ phù hợp với một số ítđịa phương ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa v.v… Còn lại, phần lớn các địaphương không thể thực hiện được vì diện tích đất đã có hạn, dân số lại đông;khi chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề cùng với quy hoạch, pháttriển đô thị khiến diện tích ruộng đất ngày càng thu hẹp hơn Để giải quyếtviệc làm cho quân nhân xuất ngũ ở các địa phương đó cần thực hiện phương
án chuyển đổi ngành nghề cho họ phù hợp với thực tiễn Muốn như vậy,Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng phải có những biện pháp, chủtrương để đào tạo nghề cho phù hợp đối tượng ở địa phương mà cụ thể là đốitượng quân nhân xuất ngũ
- Nội dung chương trình: Chương trình là yêu cầu không thể thiếu đượcđối với hoạt động đào tạo của các cơ sở dạy nghề nói chung và lĩnh vực dạynghề nói riêng Trong lĩnh vực dạy nghề, chương trình đào tạo chung cho cácnghề mà mỗi loại nghề, nhóm nghề đều có chương trình riêng Do vậy một cơ
sở dạy nghề có thể có nhiều chương trình đào tạo nếu như cơ sở đó đào tạonhiều nghề
Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt độngđào tạo Bản thiết kế đó cho biết mục tiêu; phạm vi, mức độ và cấu trúc nộidung; các phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo; cách thức kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập và tất cả được sắp xếp theo một tiến trình và thời gian biểuchặt chẽ
- Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo có vai trò quan trọng giúpngười học tiếp thu kiến thức Do vậy, đa dạng hóa phương pháp đào tạo nghềnhằm nâng cao chất lượng tiếp thu tri thức về công việc, nghề nghiệp màmình lựa chọn
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa người học,phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và tinh thần hợp tác của người học,
Trang 23sử dụng các loại phương tiện dạy học phù hợp với yêu cầu của mô –đun mônhọc phương pháp giảng dạy luôn được đổi mới phù hợp với người học.
Nghề được đào tạo phù hợp với công việc đảm nhận, đáp ứng nhu cầu
xã hội, yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là nângcao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đòi hỏi cấp bách phải nâng caochất lượng lao động Những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng lao độngthể hiện ở: phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghề nghiệp, khả năngthích ứng giữa làm việc theo nhóm và kỹ thuật lao động, lề lối tác phong làm việc
Thứ ba, bảo đảm các yêu cầu cho công tác dạy nghề.
- Giáo trình, tài liệu có vai trò quan trọng trong dạy nghề Giáo trình,tài liệu phải đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng phù hợp với yêu cầu thựctiễn của sự phát triển
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Chất lượng đào tạo, đặc biệt là chất lượng kỹ năng nghề phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy có vai trò hếtsức quan trọng Trang thiết bị giảng dạy là một trong những yếu tố quyết địnhhình thành kỹ năng thực hành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hìnhthành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người học
Cơ sở vật chất trong trường dạy nghề thường có giá trị và chiếm tỷ trọnglớn trong tài sản của nhà trường Cơ sở vật chất trong trường dạy nghề được chiathành hai loại:
Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ đào tạo bao gồm: Đất cho xâydựng và thực hành thực tập; nhà cửa (phòng làm việc, nhà ở cho giáo viên vàhọc sinh, nhà giáo dục thể chất…); phương tiện đi lại, trang thiết bị vănphòng; phòng học lý thuyết, phòng học chuyên môn, phòng thí nghiệm;xưởng thực hành, thực tập; các trang thiết bị, máy móc cho học sinh thực tậptheo nguồn nghề đào tạo Đây là các trang thiết bị rất quan trọng, cần thiết đểcho học sinh thực tập, hình thành và rèn luyện kỹ năng hành nghề theo mục
Trang 24tiêu đào tạo; vật tư, nhiên liệu thực hành, thực tập: là các loại vật tư, nhiênliệu hao phí trực triếp trong quá trình thực hành, thực tập.
Việc quản lý, sử dụng, khai thác, đầu tư cơ sở vật chất của trường dạynghề là rất quan trọng và cần thiết, vì đó là một trong những yếu tố trực tiếpquyết định đến chất lượng đào tạo cùa nhà trường
Hiện nay, cơ sở vật chất, đặc biệt là các trang thiết bị dạy nghề tiêntiến, hiện đại là rất cấn thiết cho học sinh rèn nghề nhưng cũng rất đắt và luônthay đổi theo thị trường sản xuất kinh doanh; vì vậy, việc đầu tư, trang bịcũng cần được xem xét, cân nhắc, tính toán phù hợp với sự phát triển bềnvững của từng nghề, từng lĩnh vực
- Đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên, quản lý dạy nghề phải đảm bảo
về số lượng và nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của dạy nghề Chấtlượng đội ngũ giáo viên, quản lý dạy nghề phải được nâng cao về trình độchuyên môn, về nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ,tin học và phẩm chất đạo đạo đức
Thứ tư, có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các trường dạy nghề với các
bộ, ngành, người sử dụng lao động và quân nhân xuất ngũ.
Thanh niên được gọi nhập ngũ và được tổ chức biên chế trong các đơn
vị quân đội để huấn luyện học tập… được gọi là quân nhân, họ là nhữngngười trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ Đảng,bảo vệ nhân dân và chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ khôiphục và phát triển kinh tế, họ là những người luôn đứng ở đầu sóng, ngọn gió
để bảo vệ môi trường bình yên, ổn định để các chủ thể tiến hành sản xuất kinhdoanh thuận lợi
Như vậy thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự của các thế hệ thanh niên
có một ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo bệ Tổ quốc.Với tầm quan trọng đó, để đảm bảo lợi ích cho quân nhân, lợi ích chung củatoàn bộ nền kinh tế, trong giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ cần có
Trang 25sự phối hợp chặt chẽ giữa các Trường dạy nghề với người sử dụng lao động
và người lao động
Việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũkhông chỉ đơn thuần là trách nhiệm tự thân của quân nhân sau khi đã hoànthành nghĩa vụ quân sự, mà còn là trách nhiệm của Nhà nước và của các chủthể sử dụng người lao động đã được hưởng từ quá trình bảo vệ Tổ quốc củachính những quân nhân đem lại
Trên thực tế, có một số quân nhân xuất ngũ sau khi nhận một số tiền hỗtrợ để ổn định cuộc sống ban đầu và tìm kiếm việc làm nhưng không biết sửdụng có hiệu quả, đem sử dụng cho mua sắm tiêu dùng hưởng thụ trước mắt,thậm chí đem đầu tư tìm kiếm vận may v.v… Để hạn chế những hậu quảkhông hay xảy ra, trên cơ sở những chính sách, quy định đã ban hành cầnnâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa Nhà nước, người sử dụng lao động vàquân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ trong giải quyết việc làm cho chính quânnhân xuất ngũ Thực hiện tốt được điều này không những ngăn ngừa quânnhân tham gia các tệ nạn xã hội, mà còn nâng cao chất lượng sử dụng lựclượng lao động là quân nhân xuất ngũ trong tiến trình CNH, HĐH, hội nhậpkinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
1.2.3 Vai trò của đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đào tạo nghề cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sự pháttriển nền kinh tế đất nước Họ là những người đưa lý thuyết đến thực hành,đưa khoa học - công nghệ tới các vùng chậm phát triển
Công tác đào tạo nghề cho QNXN trên địa bàn thành phố Hà Nội làmột trong những vấn đề cần thiết và rất quan trọng, đây là một lực lượng rấtlớn sau khi xuất ngũ trở về địa phương cần học một nghề để giải quyết công
ăn việc làm cho bản thân họ Vì vậy, Nhà nước đã có những chính sách đặc
Trang 26biệt cho đối tượng là QNXN Thực chất của việc đào tạo nghề cho QNXNmục đích cuối cùng là giải quyết việc làm cho họ, nhằm đảm bảo cho họ cóviệc làm và có thu nhập ổn định.
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho QNXN là trách nhiệm của cảcộng đồng và hệ thống chính trị, nhưng chủ yếu trực tiếp là Nhà nước vàQuân đội, người sử dụng lao động (các doanh nghiệp trong và ngoài quân đội)
và của chính những QNXN trong việc luật hóa đường lối, quan điểm củaĐảng về phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đào tạo nghề và giải quyết việclàm cho QNXN nói riêng
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế phát triển, vấn đề đào tạonghề luôn được sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; đặcbiệt đào tạo nghề cho đối tượng sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở vềđịa phương đóng vai trò hết sức quan trọng
Thứ nhất, đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ là để toàn dụng lực lượng lao động trẻ, khỏe đã được rèn luyện trong môi trường kỷ luật quân sự,
sẽ tạo ra được đội ngũ lao động có chất lượng, có tác phong công nghiệp
QNXN là một lực lượng bổ sung quan trọng, thường xuyên vào nguồnnhân lực quốc gia Theo thống kê ngày 1 tháng 9 năm 2009 dân số Việt Nam
là 85.789.573 người Trong đó, 49.187.222 người đang trong độ tuổi laođộng So với các nước trên thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Namtương đối thấp về cả mặt thể lực và trí lực Về phương diện thể lực, QNXN làlực lượng có ưu thế Tiêu chuẩn sức khỏe của QNXN hàng năm của quân đội
đã không ngừng thay đổi theo chiều hướng tích cực Do yêu cầu không nhiều
về thời gian phục vụ trong quân đội càng có điều kiện để sàng lọc, lựa chọnnhững thanh niên có sức khỏe tốt đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quân sự
Về phương diện trí lực, QNXN là bộ phận có học vấn cao hơn so với trình độchung của nguồn nhân lực Theo thống kê từ Tổng cục Chính trị, trình độ
Trang 27thanh niên nhập ngũ vào quân đội đã không ngừng tăng lên: trên 98% đã tốtnghiệp từ trung học cơ sở trở lên, nếu chỉ tính riêng số có trình độ trung họcphổ thông trở lên con số này trên 47% Trong quân đội có hệ thống trườngquân sự ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, các học viện, nhàtrường quân đội, cũng như các trường đại học trong cả nước Nếu so với25,6% lực lượng lao động cả nước có trình độ trung học phổ thông trở lên thìQNXN được xem là bộ phận có trình độ học vấn cao Như vậy, QNXN chiếmmột vị trí quan trọng, là bộ phận có chất lượng cao bổ sung thường xuyên chotổng nguồn nhân lực Vai trò đó được quy định bởi chính lực lượng này trên
cả phương diện vi mô và vĩ mô, cả phương diện phát triển kinh tế xã hội vàcủng cố sức mạnh quốc phòng- an ninh nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhânlực này là một yêu cầu cần thiết QNXN có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngnguồn nhân lực khác của cả gia đình và xã hội Hầu hết QNXN đều là namgiới sau khi rời khỏi quân ngũ những người này mới tìm việc làm, lập giađình và ổn định cuộc sống Họ trở thành lực lượng lao động cơ bản, là trụ cộttrong công việc của gia đình và xã hội Vì vậy, nên sử dụng hiệu quả nguồnnhân lực này không chỉ có ý nghĩa thuần túy với bản thân họ mà còn có ýnghĩa hết sức quan trọng khi sử dụng nguồn nhân lực khác của gia đình, các
tổ chức kinh tế, chính trị xã hội Nguồn nhân lực đó là các thành phần kháccủa lực lượng lao động như vợ, con, bố mẹ, anh chị em trong gia đình; là tiềmlực tài chính; là tinh thần đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau để ổn địnhcuộc sống Để các nguồn lực khác của gia đình và xã hội được sử dụng cóhiệu quả thì QNXN là một trong những vấn đề them chốt Việc hướng nghiệp
và tạo việc làm giúp họ trở thành nhân tố tích cực, là hạt nhân trong lao độngsản xuất kinh doanh và là điều kiện để các nguồn lực khác phát huy một cách
có hiệu quả cao
Trang 28Thứ hai, đào tạo nghề cho QNXN là giữ lại địa phương lực lượng lao động, tránh được luồng di cư lao động đi nơi khác, đồng thời là lực lượng dự
bị động viên; có nguồn tại chỗ để đào tạo trở thành đội ngũ cán bộ địa phương sau này.
Trong các bộ phận tham gia lực lượng dự bị động viên, quân nhân xuấtngũ là lực lượng chủ yếu và giữ vai trò quan trọng Nếu chỉ tính từ năm 1995trở lại đây, với giả định lực lượng thanh niên nhập ngũ và lực lượng quânnhân xuất ngũ là tương thích, thì số lượng quân nhân xuất ngũ tính đến hếtnăm 2010 (theo thống kê của Tổng cục Chính trị) sẽ khoảng 1,5 triệu và đây
là lực lượng đã được trang bị kỹ, chiến thuật bộ binh , có ý thức tổ chức kỷluật và đủ khả năng chiến đấu khi có chiến tranh xảy ra Trong điều kiện hiệnnay lực lượng quân nhân xuất ngũ hàng năm vẫn tiếp tục được tăng cường bổsung và lực lượng dự bị động viên, tạo nên thế tầng tầng lớp lớp giữa các thế
hệ với nhau cùng thực hiện mục tiêu chung là vừa xây dựng đất nước, vừa sẵnsàng bảo vệ Tổ quốc
Do vậy việc đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ, tạo điều kiện choquân nhân, nhất là các quân nhân sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng biêngiới Nếu QNXN được chăm lo đầy đủ, được quan tâm tạo điều kiện pháttriển và có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc sẽ trở thành động lực cho cáctầng lớp thanh niên làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ tổ quốc; ngược lại nếukhông phù hợp sẽ gây ra những hậu quả và bất cập khó lường… Quan tâmgiải quyết tốt việc làm cho quân nhân xuất ngũ, còn góp phần tạo niềm tin chonhân dân, cho quân nhân đang tại ngũ và sắp tham gia nhập ngũ Tổng hợpnhững kết quả tích cực do quá trình giải quyết việc làm cho quân nhân xuấtngũ đem lại tạo nên sức mạnh quốc phòng an ninh đáp ứng yêu cầu và xâydựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Quân nhân xuất ngũ góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở để thựchiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội trên từng địa
Trang 29bàn Quân nhân xuất ngũ, đặc biệt là bộ phận quân nhân xuất ngũ chủ yếu đã
là những Đảng viên được tôi luyện trưởng thành trong môi trường quân độikhi trở về địa phương sẽ là nguồn nhân lực có sức khỏe sự nhiệt tình và phẩmchất chính trị cao để bổ sung cho các cơ quan trong bộ máy chính quyền cơ sở
Sự thực hiện nhiệm vụ của các quân nhân xuất ngũ gắn với các cương
vị trưởng thôn, trưởng bản, bí thư, chủ tịch và ở các tổ chức chính trị xã hộinhư Đảng, Đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân v.v…, sẽ tạo điều kiệncho những quân nhân phát huy những ưu thế trong bảo vệ chính trị nội bộ;củng cố khối đoàn kết, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong từng cơ quan, tổchức thông qua nhiệm vụ, chức trách được giao Những ưu thế của quân nhânxuất ngũ được phát huy hiệu quả sẽ góp phần tham gia bảo vệ và xây dựngcác tổ chức đoàn thể, chính quyền, quần chúng, góp phần củng cố hệ thốngchính trị cơ sở vững mạnh để thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội ở từng địa phương
Thứ ba, góp phần giữ vững ổn định kinh tế, chính trị, xã hội hạn chế nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp.
Lực lượng lao động được sắp xếp công ăn việc làm với số lượng ngàycàng tăng cũng có nghĩa là tăng nguồn lực cho hoạt động sản xuất của cải vậtchất và thực hiện các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của xã hội Khi số lượng việclàm trong nền kinh tế tăng lên thì lượng lao động thất nghiệp trong nền kinh tếgiảm xuống Điều này không những hạ nhiệt áp lực chính trị- xã hội mà còngiảm bớt gánh nặng cho Chính phủ trong thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hộinhư trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác cho đối tượng chính sách
- Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ gópphần ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường, quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sựkhi trở về với gia đình, địa phương và xã hội hầu như đều chưa có tay nghề,
Trang 30để lực lượng nàycó cuộc sống ổn định thì phải có nghề để họ có công ăn việclàm ổn định, nếu trong thời gian dài không tìm kiếm được công ăn việc làm,
sẽ trở thành gánh nặng đối với gia đình và xã hội Trong điều kiện đó, trước
áp lực của xã hội, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của lốisống thực dụng, thì một số bộ phận quân nhân xuất ngũ không tránh khỏi sựtha hóa biến chất, sa ngã vào các tệ nạn tiêu cực Đặc biệt với những ưu điểmđược quân đội đào tạo như: sự am hiểu về nguồn gốc, tính năng tác dụng của
vũ khí trang bị, sự am hiều về tổ chức biên chế quân đội, khả năng tuyêntruyền vận động quần chúng v.v…, những hiểu biết đó nếu bị các phần tửxấu, nhất là các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng thì mức độ ảnh hưởngtới an ninh chính tri, trật tự an toàn xã hội của địa phương, đất nước sẽ vôcùng nguy hại không lường tính được
- Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ gópphần thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội
Hiện nay, theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, 100% quân nhânxuất ngũ đều là thanh niên và chủ yếu là nam giới Lực lượng quân nhân nàyphần lớn sau khi xuất ngũ mới có nhu cầu tìm kiếm việc làm, ổn định cuộcsống, xây dựng gia đình Về lâu dài, đây là lực lượng lao động chính giữ vaitrò trụ cột trong công việc của gia đình và xã hội Do vậy, việc đào tạo nghềcho họ không chỉ giải quyết tốt nhất việc làm cho quân nhân xuất ngũ cócông ăn việc làm, thu nhập và hòa nhập với cuộc sống, mà còn góp phần ổnđịnh đời sống kinh tế, chính trị, tinh thần của cả gia đình quân nhân
Điều quan trọng cần nhận thức khi giải quyết tốt việc làm cho quânnhân xuất ngũ sẽ có tác động tích cực tới tư tưởng tình cảm, niềm tin của cácgia đình có con em đang phục vụ trong quân đội, đặc biệt là đối với các giađình về tương lai sẽ có con em thực hiện nghĩa vụ quân sự Những ảnh hưởngtích cực từ quá trình giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ đem lại sẽ
Trang 31góp phần quan trọng trong củng cố vững chắc hậu phương quân đội Đây là
cơ sở quan trọng để ổn định chính trị xã hội ở từng địa bàn, đồng thời gópphần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân về thế trận an ninh nhân dântrong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ tư, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức.
Đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ góp phần thực hiện thắng lợi sựnghiệp CNH, HĐH được thể hiện:
- Đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ góp phần bổ sung nguồn nhânlực để thực hiện CNH, HĐH.Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự,thông qua quá trình huấn luyện, học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ,người quân nhân đã được tôi luyện trở thành lực lượng lao động đặc thù, họ
có sức khỏe dẻo dai, kiên trì bền bỉ, đây là những lợi thế có ý nghĩa hàng đầu
Hiện nay trong điều kiện cách mạng khoa học quân sự phát triển mạnh,
để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ từng bước hiệnđại đòi hỏi việc tuyển chọn thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sựtrước hết phải có sức khỏe tốt đồng thời phải có trình độ văn hóa cao Với đầuvào có chất lượng, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, quân nhânđược học tập rèn luyện những kiến thức kỹ năng quân sự để thực hiện nhiệm
vụ và để thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, độiquân sản xuất, quân nhân còn được trang bị những kiến thức chung về kinh tế,chính trị, xã hội Cùng với quá trình đó, quân nhân được bồi dưỡng, xây dựng
ý chí, niềm tin, ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Với những ưu thế nói trên và thời gian định hướng đào tạo nghềthực sự có hiệu quả, quân nhân xuất ngũ sẽ là lực lượng lao động quan trọng,
có chất lượng bổ sung thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ góp phần sử dụng hiệu quả vốnđầu tư và tạo vốn tích lũy cho quá trình CNH, HĐH Trong thời gian thực
Trang 32hiện nghĩa vụ quân sự, người quân nhân được học tập, đào tạo bồi dưỡng đểxây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ năng làm việc nhóm, những kiến thức kỹnăng có tính hữu dụng có thể vận dung trực tiếp vào hoạt động của nền kinh
tế Để quân nhân có được ưu thế đó, Đảng, Nhà nước, quân đội đã đầu tư mộtlượng vốn lớn Đồng thời khi hết thời hạn nghĩa vụ quân sự, mối quân nhânxuất ngũ được Nhà nước đầu tư cho đầu tạo nghề, tìm kiếm việc làm ổn địnhcuộc sống Khoản kinh phí đầu tư này cũng là một lượng vốn đầu tư đào tạonguồn nhân lực cho quá trình CNH, HĐH và với giả định đầu vào và đầu ranhư nhau, thì lượng vốn đầu tư cho quá trình đào tạo nghề cho quân nhân xuấtngũ sẽ là 100 ngàn người x 6 triệu = 600 tỉ/ 1 năm Những sự đầu tư trên sẽthực sự được sử dụng có hiệu quả khi lực lượng lao động là quân nhân đượcgiải quyết việc làm với số lượng lớn
Quân nhân xuất ngũ khi họ trở về địa phương phần lớn đều không cónghề, vì vậy việc đào tạo cho họ một nghề là cần thiết bởi vì, có một nghề ổnđịnh đồng nghĩa với việc họ sẽ kiếm được một công việc có thu nhập ổn định,như vậy mới đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho Quân nhân xuất ngũ ở các trường dạy nghề Quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thứ nhất, chế độ, chính sách dạy nghề đối với quân nhân xuất ngũ của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, của Thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp.
Chế độ, chính sách dạy nghề đối với QNXN là một trong những chế độ,chính sách tác động lớn đến việc thực hiện tuyển quân, tuyển sinh quân sự, anninh quốc phòng và hậu phương quân đội, là một trong những hoạt động thểhiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân,xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần phát triển nguồn nhân lực kỹthuật phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đưa nước ta về cơ bản trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Thực hiện chế
Trang 33độ, chính sách dạy nghề đối với bộ đội xuất ngũ nếu phù hợp sẽ tạo động lựckích thích QNXN, các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp tích cực tham giavào quá trình đào tạo nâng cao chất lượng lao động ; đồng thời, sẽ kích thíchquân nhân tự tạo việc làm mới cho mình và người khác Mặt khác, nếu chế
độ, chính sách dạy nghề cho QNXN phù hợp (đảm bảo kết hợp hài hòa lợi íchcủa các địa phương, các doanh nghiệp và QNXN) thì sẽ tạo động lực khuyếnkhích các thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu về lao động tăng, theo đóquy mô việc làm được mở rộng và thu hút nhiều lao động Ngược lại, nếu chế
độ, chính sách dạy nghề không phù hợp, chẳng những không tạo động lực choquân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong thời gian tại ngũ và khó khăntrong công tác tuyển sinh quân sự hàng năm mà còn không tạo động lực cho
hệ thống các trường nghề và các doanh nghiệp khai thác, sử dụng các nguồnlực quân nhân và con người trong việc kết hợp tư liệu sản xuất và sức laođộng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu hút nhiều lao động
Thứ hai, năng lực của các trường dạy nghề quân đội.
Nâng cao năng lực của các trường, các cơ sở dạy nghề trong quân đội
góp phần đào tạo nghề, tạo việc làm cho quân nhân xuất ngũ Đẩy mạnh xuấtkhẩu lao động và phát triển thị trường lao động đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế
Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề, đầu tư xây dựng bảođảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề theo quy định choviệc dạy các nghề trọng điểm quốc gia, đầu tư xây dựng bảm bảo tiêu chuẩn
cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề tối thiểu theo quy định của Bộ laođộng thương binh và xã hội cho việc dạy các nghề không thuộc danh mục cácnghề trọng điểm
Có các chính sách ưu đãi để thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũcán bộ, giáo viên dạy nghề vào các cơ sở dạy nghề đảm bảo số lượng biên chế
Trang 34cơ hữu theo quy định đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và tínhchuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề…
Thứ ba, quan hệ cung cầu trên thị trường sức lao động.
Nâng cao chất lượng cung về lao động: ở giai đoạn đầu sau khi xuấtngũ, lực lượng lao động là quân nhân xuất ngũ về cơ bản chưa thể tìm kiếmngay được việc làm, vì đa số số quân nhân xuất ngũ này đều chưa có taynghề, điều này làm cho nền kinh tế tăng dư cung về lao động, đặc biệt là dưcung về lao động trên địa bàn nông thôn, địa bàn đang dư một lực lượng lớn
về lao động nông nghiệp Bên cạnh đó, phần lớn họ lại là lực lượng chưa từngđược trang bị nghề nghiệp, chưa có kinh nghiệm trong tìm kiếm việc làm Bấtcập trên đòi hỏi quân nhân xuất ngũ muốn có việc làm phải có nghề nghiệp,
tự tạo việc làm mới và muốn vậy họ phải đầu tư thời gian, công sức học mộtnghề nghiệp chuyên môn nhất định phù hợp với cầu lao động của thị trường.Điều đó có nghĩa phải nâng cao chất lượng cung về lao động
Cung lao động là khả năng cung ứng sức lao động của một quốc gia,đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động cho tất cả những ngành nghề trong nềnkinh tế Số lượng cung lao động thể hiện ở quy mô dân số, lực lượng lao độngtrong độ tuổi Về chất lượng, cung lao động thể hiện ở thể lực, trí lực củangười lao động, tức là thể hiện ở sức khỏe, số lượng lao động có trình độ họcvấn, tay nghề, sự thích ứng của người lao động trước nhu cầu của thị trường
Đối với lực lượng lao động là quân nhân xuất ngũ, về số lượng cungphụ thuộc vào chỉ tiêu tuyển quân trong năm Theo Luật, hàng năm có khoảng
100 nghìn thanh niên lên đường nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự và theo
sự luân chuyển, cứ 18 tháng có một lực lượng quân nhân tương ứng hoànthành nghĩa vụ quân sự được xuất ngũ trở về đời sống bình thường của mộtcông dân và tham gia hoạt động ở các ngành nghề trên mọi miền của đấtnước Hiện tại, chất lượng cung lao động là quân nhân xuất ngũ có những lợi
Trang 35thế là lực lượng lao động đã được tuyển chọn cả về phẩm chất đạo đức, sứckhỏe và trình độ văn hóa; cơ bản là những thanh niên trong độ tuổi 20-23.Quá trình học tập, huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ trong môi trường quân sự
họ đã được tôi luyện, có sức khỏe dẻo dai, kiên trì, bền bỉ có tính tổ chức, tính
kỷ luật cao; có tinh thần đồng đội, thuận lợi cho làm việc theo nhóm và sảnxuất công nghiệp
Quá trình tuyển quân đã quan tâm chú ý đến trình độ học vấn và nhậnthức của thanh niên tham gia nhập ngũ Với đầu vào đã được chọn lọc ( phùhợp với từng địa phương) Trong thời gian hoạt động ở môi trường quân ngũngoài việc được trang bị những kiến thức về kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, pháp luật Trong đó có một bộ phận quân nhân được huấn luyện, học tậpcác nghề nghiệp mang tính lưỡng dụng: công binh, thông tin, ôtô, xe máy, hậucần, tài chính, không quân v.v…
Quân nhân xuất ngũ là lực lượng lao động có lập trường chính trị, đạođức tốt, có ý chí chiến đấu; tính tổ chức kỷ luật và tác phong chính qua, cótinh thần thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong công việc, có ý thức tập thể và kỹnăng làm việc nhóm v.v…
Bên cạnh những lợi thế, chất lượng cung lao động quân nhân xuất ngũtồn tại những vấn đề bất cập Khi nhập ngũ quân nhân chủ yếu học tập, rènluyện trong môi trường quân sự nên thời gian để cập nhật những thông tin,kiến thức kinh tế- xã hội hạn chế và do thời gian đào tạo, huấn luyện, công tácngắn nên chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành không sâu, khôngđồng bộ, không tương thích với sự phát triển; trình độ ngoại ngữ hầu nhưchưa có, phần lớn chưa được định hướng, đào tạo nghề v.v…
Qua tiếp cận chất lượng cung lao động, cho thấy những lợi thế về chấtlượng cung lao động quân nhân xuất ngũ cho thấy chỉ xét trong mối quan hệ
so sánh với chất lượng lao động ở khu vực nông thôn, nhưng so với cầu lao
Trang 36động trên thị trường, vấn đề nâng cao chất lượng cung lao động là lực lượngquân nhân xuất ngũ cần thực sự được quan tâm và có lộ trình giải quyết cănbản Trước hết, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chủ trương,chính sách trong việc đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ; đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo của các loại hình đào tạo nghề ởcác trường dạy nghề trong cả nước v v Những vấn đề trên được thực hiệntốt, chất lượng cung lao động là quân nhân xuất ngũ sẽ được nâng lên Nângcao chất lượng cung tức là nâng cao chất lượng đào tạo nghề quyết định tớiviệc tạo công ăn việc làm ổn định cho quân nhân xuất ngũ ở nước ta hiện nay
Thứ tư, sự phát triển của Khoa học- công nghệ
Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, ngày nay các quốc gia đã điềuchỉnh cấu trúc lại nền kinh tế dựa trên những lợi thế của nguồn nhân lực vớihàm lượng trí tuệ ngày càng gia tăng và chính quá trình ứng dụng nhữngthành tựu KH-CN trong quá trình sản xuất kinh doanh làm cho hàm lượng trithức kết tinh vào giá trị sản phẩm ngày càng tăng, hao phí sức lao động thôngqua lao động chân tay kết tinh vào giá trị sản phẩm có xu hướng giảm xuống
Như vậy sự phát triển của tiến bộ KH-CN đem lại đòi hỏi người laođộng cần có chuyên môn sâu, tay nghề giỏi, có năng lực sáng tạo, linh hoạt ápdụng những tiến bộ KH-CN để đạt được hiệu quả tối ưu trong công việc vàtrong sản xuất kinh doanh
Thứ năm, giáo dục- đào tạo có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề nói chung và quân nhân xuất ngũ nói riêng.
Giáo dục- đào tạo có ảnh hưởng đến đào tạo tay nghề và việc làm, giảiquyết việc làm Giáo dục- đào tạo có lộ trình kế hoạch tốt và sát với yêu cầuthị trường, sẽ tạo ra được nguồn lao động có phẩm chất đạo đức tốt, trình độhọc vấn, chuyên môn kỹ thuật cao, có cơ cấu lao động theo trình độ, nghềnghiệp phù hợp với cầu lao động, điều này tạo điều kiện sắp xếp công ăn việc
Trang 37làm cho người lao động Ngược lại lộ trình kế hoạch, nội dung, chương trìnhđào tạo không bám sát được so với yêu cầu phát triển thực tiễn thì chất lượngnguồn nhân lực đào tạo thấp, cơ cấu lao động chưa hợp lý, khi đó người laođộng không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, gây cản trở choquá trình tự tìm kiếm việc làm và chủ trương giải quyết việc làm của Đảng, Nhà nước.
Đối với nước ta, những tồn tại trong giáo dục đào tạo những năm quaphản ánh rõ những vấn đề nêu trên Thực tế do chương trình, nội dung đào tạođược thiết kế thiên về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành nên nguồn nhânlực khi đã tốt nghiệp ở các trường kỹ thuật, các trường dạy nghề thường lúngtúng trước công việc thực tiễn, hiệu quả làm việc không cao, buộc các doanhnghiệp phải tiến hành đào tạo lại từ 6 tháng đến 12 tháng để lao động đượctuyển dụng thích ứng với công việc mới Ngoài những vấn đề nêu trên, quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyểndịch cơ cấu kinh tế làm nảy sinh những bất cập về cơ cấu lao động Thịtrường lao động đang cần nguồn lao động về công nhân nghề về các ngành cơkhí, điện, điện tử, điện dân dụng v.v…, các kỹ sư ngành hóa, công nghệ sinhhọc, môi trường, công nghệ thông tin, các chuyên gia tài chính tiền tệ v.v…Tuy nhiên, giáo dục đào tạo chưa đáp ứng được những yêu cầu đó Điều nàyđược bộc lộ rõ qua các hội chợ việc làm được tổ chức trong thời gian vừa qua
Quân nhân xuất ngũ phần lớn xuất thân từ nông dân nông thôn Trongthời gian tại ngũ, một số ít quân nhân được đào tạo nghề mang tính lưỡngdụng, có thể thích ứng với môi trường bên ngoài, nhưng phần lớn lực lượngnày chuyển thành công nhân viên quốc phòng và quân nhân chuyên nghiệpphục vụ lâu dài trong quân đội Như vậy, đại đa số quân nhân xuất ngũ lànhững người chưa có chuyên môn, nghề nghiệp Vì thế, giải quyết việc làm choquân nhân xuất ngũ thường gặp phải những khó khăn Để cho lực lượng quânnhân xuất ngũ được thị trường lao động chấp nhận, Đảng và Nhà nước phải
Trang 38trực tiếp quan tâm trong việc xây dựng chủ trương, chính sách, định hướng,đào tạo ngành, nghề cho những quân nhân bắt đầu xuất ngũ Định hướng vàđào tạo nghề cho quân nhân gắn với phương châm ổn định, bền vững lâu dài vàgắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức.
1.3 Kinh nghiệm về đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ ở một số trường trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm của trường Trung cấp nghề số 2/Bộ Quốc phòng
Trường Trung cấp nghề số 2/BQP là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
hệ thống các trường dạy nghề quân đội, chịu sự quản lý nhà nước về dạy nghềcủa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng, cấp trên trựctiếp là Bộ tư lệnh Quân khu 2 Nhà trường có chức năng đào tạo nghề theo haicấp trình độ là trung cấp nghề và sơ cấp nghề theo quy định cho bộ đội xuấtngũ và nhu cầu học nghề của xã hội; ngoài ra, còn bồi dưỡng nâng cao trình
độ kỹ năng nghề cho người lao động theo yêu cầu của cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ và người lao động cũng như nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật –công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo; tổ chức sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật
Những năm qua, Trường đã làm tốt công tác tuyên truyền về chínhsách hỗ trợ của Nhà nước và quân đội cho đối tượng là Quân nhân xuất ngũhọc nghề; tư vấn về nghề nghiệp, việc làm và đào tạo nghề cho QNXN Đểlàm tốt việc đào tạo nghề cho QNXN, Nhà trường đã tập trung thực hiện tốt 3khâu chủ yếu sau:
Một là, Nhà trường chú trọng làm tốt công tác tư vấn, tuyên truyền.
Căn cứ vào kế hoạch xuất ngũ từng đợt trong năm, Nhà trường lập kếhoạch trình Quân khu phê duyệt về công tác tư vấn hướng nghiệp và tuyểnsinh đào tạo nghề cho QNXN Trên cơ sở đó, Nhà trường phối hợp chặt chẽvới các đơn vị tổ chức tuyên truyền về chính sách của Nhà nước, quân đội hỗ
Trang 39trợ học nghề; tư vấn về nghề nghiệp, việc làm cho QNXN với nhiều hình thứcnhư: Tọa đàm, diễn đàn, tổ chức tư vấn tập trung, giúp bộ đội định hướng vàlựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, sở thích và định hướng lậpnghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự… Ngoài ra, Nhà trường cũng phổbiến, cam kết các hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các học viên làBĐXN được học nghề theo nguyện vọng Với năng lực và kinh nghiệm củamình, Nhà trường có đủ khả năng đào tạo đạt chất lượng tốt, bảo đảm cho họcviên sau khi tốt nghiệp có kiến thức và kỹ năng nghề đáp ứng nhu cầu sửdụng lao động và đủ khả năng tự tạo việc làm Học viên sau khi tốt nghiệpđược cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp quốc gia Đồng thời, Nhà trường cũng
ưu tiên giới thiệu việc làm và tạo nguồn xuất khẩu lao động; các học viên làđối tượng BĐXN sẽ được ở nội trú miễn phí bao gồm cả điện, nước sinh hoạt,được hỗ trợ một phần sinh hoạt phí trong quá trình học tập và được tham giacác hoạt động xã hội, ngoại khóa, các hoạt động bổ trợ khác để phát triển toàn diện
Hai là, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo.
Nhà trường xác định yếu tố chất lượng đào tạo phải được đặt lên hàngđầu mà cốt lõi là sự chấp nhận và hài lòng của các doanh nghiệp, người sửdụng lao động do Nhà trường đào tạo, là kỹ năng tự tạo việc làm của ngườihọc và thu nhập của người học khi hành nghề, lập nghiệp… Để đạt được mụctiêu trên, Nhà trương đã thường xuyên tiến hành đồng bộ các biện pháp, trong
đó tập trung giải quyết tốt những vấn đề trọng tâm sau:
- Xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý đào tạo chuẩn, đủ về số lượng , hợp lý về cơ cấu, có tay nghề cao, đápứng cả yêu cầu trước mắt và phù hợp với định hướng phát triển dài hạn củaNhà trường Việc nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên được tiến hànhbằng nhiều hình thức phù hợp với thực tế Nhà trường Trên cơ sở quy hoạchđội ngũ cán bộ, giáo viên, Nhà trường đưa giáo viên đi đào tạo ở các trường
Trang 40trong và ngoài quân đội , thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp
vụ sư phạm, phát triển kỹ năng dạy học, gửi giáo viên đi tập huấn tại các cơ
sở đào tạo nghề chất lượng cao, có uy tín trong và ngoài quân đội; tích cựcđổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trọng tâm
- Trên cơ sở chương trình chuẩn quốc gia, quân đội ban hành, Nhàtrường thường xuyên rà soát, chỉnh lý, bổ sung chương trình, nội dung đào tạophù hợp với điều kiện thực tế của Trường, địa phương trên địa bàn Quân khu
- Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo Nhà trường đã đầu tưmua sắm các loại trang thiết bị, phương tiện phục vụ thực hành, thực tập; bảođảm tốt về cơ sở vật chất cũng như các dịch vụ cho người học như: nhà ở nộitrú, điện, nước sinh hoạt, trang thiết bị vật tư, tài liệu, đồ dùng cho học tập
- Phối hợp với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ để học viên có điều kiện thực hành, cọ xát với thực tế Kết hợp đào tạo vớisản xuất, dịch vụ, các hoạt động ngoại khóa, nhằm trang bị kiến thức, kỹnăng, thái độ cho học viên để sau khi ra trường có thể hành nghề được ngay.Thực tế đã có một tỷ lệ không nhỏ học viên, sau khi thực tập đã được các cơ
sở tiếp nhận vào làm việc
Ba là, quan tâm giải quyết việc làm sau đào tạo cho BĐXN
Với quan điểm dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, trong và sau quátrình học nghề, Nhà trường tổ chức các hoạt động trợ giúp việc làm cho họcviên như: Tư vấn kỹ năng để học viên sau khi ra trường có thể tự giải quyếtviệc làm, xin việc làm; cung cấp thông tin tuyển dụng lao động, sàn giao dịchviệc làm; mời các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động đến tuyển dụngtrực tiếp Nhờ thực hiện tốt 3 khâu trong công tác đào tạo, tuyển sinh trên,năm 2010, Nhà trường đã đào tạo được 2.184 học viên là QNXN, năm 2011
là 2,318 học viên và đầu năm 2012 đào tạo được 1.062 học viên; đã có trên80% học viên tìm được việc làm ngay sau khi ra trường; nhiều học viên sau