Để mỗi học sinh hoàn thành tốt được những tiết học có vận dụng bài tập hay có thể tự mình hoàn thành những bài tập ở nhà, nâng cao năng lực tự học thì điều đầu tiên cần làm là giáo viên cần hệ thống lại kiến thức chuyên môn một cách khoa học, dễ hiểu để làm nền tảng, làm cơ sở cho việc giải bài học. Khi hệ thống lại kiến thức cũng như trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với các đối tượng học sinh ở từng lớp, cụ thể là phù hợp với học sinh khối 7 trường THCS ABC Đồng thời đó cần phải cung cấp cho học sinh cách phân loại bài tập, trình tự giải một bài tập vật lý cũng như giới thiệu cho học sinh một sô dạng bài tập cơ bản trong môn vật lý 7 và cách giải, để từ đó học sinh có thể tự tích lũy thêm cho mình một số kinh nghiệm khi giải bài tập, làm cơ sở cho việc tự học, tự giải các dạng bài tập nâng cao khi học ở nhà. Đó là nội dung chính của bài viết này.
Trang 1Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Hòa chung cùng với xu hướng đổi mới của nhiều ngành nghề, giáo dục Việt
Nam cũng đang có nhiều sự đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Trong
đó, bên cạnh việc đẩy mạnh đổi mới chương trình, tổ chức biên soạn một bộ sáchgiáo khoa đảm bảo yêu cầu giảm tải, khoa học, thiết thực, khả thi thì đổi mớimục tiêu dạy học, phương pháp dạy học luôn được quan tâm hàng đầu nhằmnâng cao chất lượng nguồn lực xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Theo đó, trong chương trình giáo dục phổ thông, môn học Vật Lý cũng khôngphải là ngoại lệ bởi những kiến thức chuyên môn của Vật Lý là vô cùng quantrọng, là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật, những kiến thức vật lí mang lại có sựgắn kết chặt chẽ với thực tế đời sống
Đồi với môn học Vật lý, cũng như các bộ môn khoa học xã hay các bộ môn tự
nhiên khác như Toán học, Hóa học, Sinh học, để nâng cao được chất lượng thìngười học không những cần nắm vững được những kiến thức lý thuyết chuyênmôn, biết áp dụng công thức để tính các bài tập cơ bản mà còn phải hiểu để giảithích được các hiện tượng Vật lý đã và đang xảy ra trong tự nhiên cũng như cuộcsống thường ngày Bởi suy cho cùng, công việc giáo dục muốn đạt được hiệu quảthì việc dạy và học cần phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hànhđộng, tự phát triển nhận thức và năng lực tư duy Đây là con đường phát triểntích cực nhất, bền vững nhất
Trong việc học vật lý, mỗi kiến thức chuyên môn đều cần được nhắc lại, củng cốsau mỗi bài học, theo đó bài tập là một phương thức cực kỳ hữu hiệu Bài tậpgiúp người học củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, mở rộng thêm những kiếnthức cơ bản của những bài học trên lớp, củng cố thêm kỹ năng vận dụng nhưngcái đã biết để giải quyết vấn đề cụ thể và đặc biệt hơn là qua đó phát triển nănglực tư duy, giải quyết vấn đề của học sinh, có giá trị to lớn trong việc giáo dụcđạo đức, tư tưởng cho học sinh Chính vì vậy, đối với người học Vật lý việc nắmđược các phương pháp để vận dụng kiến thức chuyên môn để giải quyết các bàitập là rất cần Mỗi bài tập không đơn thuần chỉ là con số, là áp dụng công thức vàtính ra đáp án, mà đó còn là cả một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và đào sâukiến thức, các khái niệm, các định luật và vận dụng vào những vấn đề trong thựctiễn
Bài tập Vật lí giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giúp các em học sinh hoànthành tốt các nhiệm vụ học tập của bản thân Xét về mặt định hướng phát triểnnăng lực của học sinh, đặc biệt là về mặt rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã
1
1
Trang 2lĩnh hội được thì vai trò của việc giải bài tập vật lí trong quá trình học tập có mộtgiá trị rất lớn, nắm vai trò bản lề giữa việc học lý thuyết và vận dụng vào thực tế Việc giải bài tập giáo dục ý chí, tính kiên trì vượt khó, phát triển tư duy lô gíc,
sự nhanh trí Trong quá trình tư duy sâu sắc ấy, có sự phân tích và tổng hợpnhững mối liên hệ giữa các hiện tượng và đại lượng vật lí đặc trưng cho chúng.Bài tập giúp các em hiểu được nhiều mối liên hệ giữa vật lí và kĩ thuật
Qua thực tế trong giảng dạy bộ môn Vật Lý tại trường THCS, cụ thể đối với
khối lớp 7 thì bài tập là một trong những khó khăn mà đa số học sinh mắc phải.Học sinh nắm được nội dung lý thuyết của bài học, thuộc lòng các đại lượng vàcông thức nhưng lại gặp khó khăn khi giải quyết các bài tập, đặc biệt là các bàitập suy luận logic, bài tập mang tính thực tiễn, gắn liền với cuộc sống Bài tậpvật lý rất đa dạng và phức tạp, nhiều bài tập có sự liên quan đến kiến thức chuyênmôn của nhiều bộ môn khác Chính vì vậy, mỗi giáo viên khi giảng dạy cần phải
có sự đầu tư cho mỗi dạng bài tập, có sự kiên nhẫn giúp đỡ học sinh hiểu mộtcách cặn kẽ về mỗi dạng bài, nắm vững kiến thức và tự tin mỗi khi giải bài tậpvật lý để từ đó các em yêu thích hơn đối với sự học bộ môn Vật Lý
Chính vì tầm quan trọng của bài tập, là một giáo viên Vật lý tôi cũng mong
muốn học sinh của mình có những bài giải tốt Vì vậy tôi chọn đề tài “Một số
kinh nghiệm trong việc định hướng giải bài tập vật lý cho học sinh khối lớp
7 trường THCS ABC” nhằm mục đích nâng cao chất lượng làm bài, chất lượng
giáo dục của bộ môn Vật Lý 7 tại nhà trường
II Mục đích nghiên cứu
Nhằm phát huy của vai trò của người giáo viên trong việc nâng cao chất lượnggiáo dục, là người định hướng việc học, hình thành kĩ năng vận dụng kiến thứcchuyên môn giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực tự học của học sinh Giúpnâng cao chất lượng các tiết học có vận dụng bài tập, hình thành kĩ năng kĩ xảocho mỗi học sinh khi giải quyết các dạng bài tập vật lý, qua đó nâng cao chất
lượng giáo dục bộ môn vật lý 7
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận
Nghị Quyết hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng ta lần thứ 2 khóa VIII
(Nghị quyết TW 2) đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới: “Nhiệm vụ
cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ýchí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc giữ gìn và phát huy các giá trị văn
2
2
Trang 3hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phát huy tiềm năngcủa dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tíchcực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sángtạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật,
có sức khỏe là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừachuyên”
Từ những vấn đề trên Quốc hội khóa X có Nghị quyết số 40, Chính phủ có chỉthị 14 và Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số 43 nói về đổi mới chươngtrình giáo dục phổ thông Là giáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhà trường trunghọc cơ sở, hơn nữa môn vật lý mà tôi đang giảng dạy là môn học thực nghiệm,bên cạnh việc đòi hỏi kỹ năng thực hành rất cao, sức sáng tạo lớn còn đòi hỏi kĩnăng vận dụng những kiến thức lý thuyết trên lớp để giải quyết các bài toán, cáchiện tượng thực tế Song trong quá trình dạy học tại trường, tôi nhận thấy họcsinh còn chưa nhận thấy được sự quan trọng của việc vận dụng kiến thức để giảiquyết các hiện tượng vật lý được cụ thể hóa trong các bài tập, mà đối với họcsinh bài tập chỉ đơn giản là đáp án, là con số, giải bài tập còn rập khuôn, máymóc, chưa chủ động sáng tạo, chưa tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới
sự điều khiển của giáo viên, nhiều học sinh chưa có kỹ năng vận dụng toán học
để giải bài tập vật lý
1.1 Bài tập là phương thức hữu hiệu để củng cố và mở rộng kiến thức
Vật lý là môn học lý thuyết, trong đó các kiến thức là các lý thuyết trừu tượng Chính vì vậy việc nắm bắt được kiến thức chuyên môn cũng như hiểu rõ được bản chất của các khái niệm, định luật, các hiện tượng Vật lý là điều quan trọng
Trong thực tế, mỗi khái niệm, mỗi định luật Vật lý lại có những biểu hiện rất cụthể, đơn giản thông qua các hiện tượng thường ngày và bài tập là sự ghi chép lại
mỗi hiện tượng đó Khi giải bài tập, mỗi học sinh phải vận dụng những kiến
thức trừu tượng đó để giải, qua đó nắm được bản chất của kiến thức, của các hiệntượng vật lý đã được học, thấy được sự đa dạng muôn hình muôn vẻ của các hiệntượng đang diễn ra trong thực tế và rèn luyện cho mình kỹ năng quan sát, phântích các hiện tượng vật lý thú vị đã và đang xảy ra trong cuộc sống thường ngày.Bài tập sẽ là phương thức khắc họa kiến thức đơn giản và hữu hiệu nhất, từ đó
giảm đi sự e dè, nhàm chán của mỗi học sinh khi họcbộ môn Vật lý
1.2 Bài tập giúp rèn luyện kỹ năng tự vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề thực tế, tự đánh giá và kiểm tra kiến thức
Khi tiếp cận với mỗi bài tập, học sinh phải tự bản thân mình phân tích các dữliệu của đề bài đưa ra, tự đào sâu lại những kiến thức đã học, xây dựng những lập
3
3
Trang 4luận để từ đó đưa ra phương án giải quyết tình huống tốt nhất Chính vì vậy bàitập không chỉ là phương tiện tốt nhất để mỗi học sinh rèn luyện kĩ năng vận dụngnhững kiến thức chuyên môn đã được học để phân tích và giải quyết các tìnhhuống thực tế, mà còn là hình thức rèn luyện khả năng tự học, tự kiểm tra vàđánh giá kiến thức của bản thân, xây dựng cho mình đức tính tự tìm tòi và họchỏi, qua đó hình thành cho mỗi học sinh kĩ xảo khi tiếp xúc với các bài tập ở bộmôn Vật lý nói riêng và các bộ môn khác nói chung
1.3 Bài tập là phương tiện tốt nhất để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
Sự đa dạng của bài tập, từ trắc nghiệm đến tự luận, từ áp dụng công thức để tínhđến suy luận logic, từ nhận biết đến vận dụng chính là công cụ để giáo viên kiểmtra, đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức của từng học sinh, qua đó phânloại được các đối tượng học sinh và có phương pháp giảng dạy phù hợp đối vớitừng đối tượng để nâng cao chất lượng giáo dục
II Thực trạng vấn đề
Trong giảng dạy, có một thực tế đang diễn ra đó là phần lớn học sinh chỉ “học
vẹt” các khái niệm, các định luật và đặc biệt là số lượng lớn các đại lượng vật lý,các công thức tính toán trong mỗi bài học Các kiến thức lý thuyết, các đại lượng,các công thức thực sự là một mớ hỗn độn khi các em chưa biết cách hệ thống cáckiến thức đã học một cách có khoa học Chính điều đó là khó khăn bước đầu củahọc sinh khi giải bài tập
Ngoài ra sự đa dạng của các hiện tượng vật lý, của các dạng bài tập thực sự làmột rào cản lớn của học sinh cần phải vượt qua nếu muốn làm tốt được các bàitập trong chương trình bộ môn Vật lý 7 Học sinh nắm vững lý thuyết nhưngkhông có khả năng đọc, tìm hiểu, phân tích đề bài không thể nào làm tốt đượccác bài tập suy luận, dẫn đến tình trạng áp dụng phương pháp giải, áp dụng côngthức một cách máy móc; hoặc trong nhiều trường hợp các em còn chưa biết cáchtrình bày một bài giải sao cho hợp lý mà chỉ quan tâm đến đáp án cuối cùng.Bên cạnh đó, thời gian dành cho môn học vật lý, đặc biệt là thời gian dành chobài tập Vật lý ở nhà trường rất hạn chế Đa số thời gian các tiết học là học lýthuyết, về những khái niệm trừu tượng Chính vì vậy, các em chưa được rènluyện hết với các dạng bài tập, chưa nắm vững và hệ thống được các phươngpháp giải bài tập Chính thực trạng đó dẫn đến việc hầu hết các em học sinh chỉ
“học suông” các lý thuyết mà thiếu đi kỹ năng làm bài tập, không đáp ứng đượcyêu cầu của môn Vật lý
Những khó khăn mà học sinh trong nhà trường mắc phải được thể hiện rõ trong chất lượng ở những bài làm của học sinh, cụ thể với kết quả khảo sát ở các
4
4
Trang 5lớp 7 tại trường THCS ABC cuối học kì 1 năm học 2017 – 2018 bằng những bài tập
ở các mức độ khác nhau Kết quả thu được như sau:
Trung bình Yếu - kém
III Giải pháp thực hiện
Để mỗi học sinh hoàn thành tốt được những tiết học có vận dụng bài tập hay cóthể tự mình hoàn thành những bài tập ở nhà, nâng cao năng lực tự học thì điềuđầu tiên cần làm là giáo viên cần hệ thống lại kiến thức chuyên môn một cáchkhoa học, dễ hiểu để làm nền tảng, làm cơ sở cho việc giải bài học Khi hệ thốnglại kiến thức cũng như trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần áp dụng cácphương pháp dạy học tích cực phù hợp với các đối tượng học sinh ở từng lớp, cụthể là phù hợp với học sinh khối 7 trường THCS ABC Đồng thời đó cần phảicung cấp cho học sinh cách phân loại bài tập, trình tự giải một bài tập vật lý cũngnhư giới thiệu cho học sinh một sô dạng bài tập cơ bản trong môn vật lý 7 vàcách giải, để từ đó học sinh có thể tự tích lũy thêm cho mình một số kinh nghiệmkhi giải bài tập, làm cơ sở cho việc tự học, tự giải các dạng bài tập nâng cao khihọc ở nhà Đó là nội dung chính của bài viết này
5
5
Trang 61 Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực
Dạy học tích cực (DHTC) là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ những
phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của người học DHTC nêu cao mối quan hệ giữa việc dạy và học, lấy học sinhlàm trung tâm của các hoạt động dạy học, coi trọng rèn luyện phương pháp tự họccủa học sinh bên cạnh việc rèn luyện học tập hợp tác
Có thể kể tên một số phương pháp dạy học tích cực: phương pháp vấn đáp,phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp vấn đáp,
phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp động não
Ở bài này đặc biệt giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực phù hợp vớiđối tượng học sinh là học sinh khối 7 trường THCS ABC
1.1 Phương pháp hoạt động nhóm
Ở phương pháp hoạt động nhóm, lớp học được chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 người, mỗi lớp không quá 6 nhóm để đảm bảo việc hoạt động nhómđạt được kết quả cao nhất Việc chia nhóm cần được thực hiện phù hợp với nội dung, yêu cầu của bài học và có thể thay đổi theo từng bài học khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng Các thành viên hoạt động tích cực theo sự phân côngnhiệm vụ của nhóm trưởng, trong quá trình hoạt động các thành viên có sự phối hợp và giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ được phân công Kết quả hoạt độngcủa thành viên đóng góp vào kết quả của nhóm, kết quả của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành như sau:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
* Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
6
6
Trang 7- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Tuy nhiên trong quá trình tổ chức các hoạt động nhóm cần tránh sự ỷ lại vào một
thành viên nào đó trong tổ mà phải đảm bảo tất cả các thành viên đều được hoạt động và đóng góp vào kết quả chung của cả nhóm
1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học tích cực này rèn luyện cho học sinh biết phát hiện, đặt
ra và tự giải quyết những vấn đề xảy ra trong học tập, trong cuộc sống của cá
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
Lập kế hoạch
Giải quyết vấn đề
Kết luận, đánh giá
7
7
Trang 82 Giáo viên Giáo viên Học sinh Học sinh
Giáo viên+ Họcsinh
Giáo viên+ Họcsinh
Giáo viên+ Họcsinh
1.3 Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp là phương pháp DHTC mà trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để họcsinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đây là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
- Vấn đáp tìm tòi: giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để
hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiệntượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự traođổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định
2 Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy có thể hiểu là một phương pháp ghi chép tận dụng tối đa khả năng
ghi nhớ, sự nhạy cảm của bộ não đối với hình ảnh, màu sắc sự giúp con người cóthể nắm bắt được các vấn đề, nội dung và liên kết những đối tượng đơn lẻ lại vớinhau Sơ đồ tư duy trình bày các ý tưởng, nội dung bằng hình ảnh, giúp bộ nãonhìn nhận và ghi nhớ dễ dàng hơn
2.1 Chương I Quang học
8
8
Trang 9CHƯƠNG I: QUANG HỌC
* Nhận biết ánh sáng – nguồn sáng và vật sáng
- Mắt chỉ có thể nhận biết được ánh sáng khi có ánh sáng truyền vào mắt ta
Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng Vật sáng bao gồm nguồn sáng và vật hắt lại ánh sáng chiếu vào nó
Trang 10* Định luật truyền thẳng của ánh sáng
- Bóng tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ nguồn sáng truyềntới
- Bóng nửa tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ một phần củanguồn sáng
* Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
- Ảnh ảo tạo bởi gương phẳng không hứng được trên màn và có độ lớn bằng vật
10
10
Trang 11- Điểm sáng và ảnh của nó tạo bởi gương phẳng cách gương một khoảng bằng nhau.
- Các tia sáng từ điểm sáng S cho tia phản xạ có đường kéo dài đi qua ảnh ảo S’
* Gương cầu lồi
- Ánh sáng đến gương cầu lồi phản xạ tuân theo định luật phản xạ ánh sáng
- Ảnh tạo bởi gương cầu lồi nhỏ hơn vật
- Vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của gương phẳng
* Gương cầu lõm
- Ảnh ảo tạo bởi gương cầu lõm lớn hơn vật
- Gương cầu lõm có tác dụng biến đổi một chùm tia tới song song thành chùm tia hội tụ vào một điểm ở trước gương và ngược lại có thể biến đổi một chùm tia tới phân kì thành chùm tia phản xạ song song
2.2 Chương II Âm học
11
11
Trang 12CHƯƠNG II: ÂM HỌC
* Nguồn âm
- Các vật phát ra âm gọi là nguồn âm
- Các nguồn âm đều dao động
* Độ cao của âm
- Tần số là số dao động trong một giây Đơn vị của tần số là 1/s gọi là Héc
(Hz)
Tần số dao động (Hz) = Số dao động / thời gian (s)
- Âm phát ra càng cao (bổng) khi tần số dao động càng lớn
- Âm phát ra càng thấp (trầm) khi tần số dao động càng nhỏ
* Độ to của âm
- Biên độ dao động là độ lệch lớn nhất của thước so với vị trí cân bằng ban đầu
- Biên độ dao động càng lớn âm phát ra càng to
- Độ to của âm được đo bằng đơn vị Đêxiben (dB)
* Môi trường truyền âm
- Chất rắn, chất lỏng và chất khí là các môi trường có thể truyền âm
12
12
Trang 13- Chân không không thể truyền được âm
- Nói chung vận tốc truyền âm trong chất rắn lớn hơn chất lỏng, trong chất lỏng lớnhơn trong chất khí
* Phản xạ âm – tiếng vang
- Âm truyền gặp màn chắn đều bị phản xạ nhiều hay ít Tiếng vang là âm phản xạđược nghe cách âm trực tiếp ít nhất 1/15 giây
- Các vật mềm, có bề mặt gồ ghề phản xạ âm kém Các vật cứng, có bề mặt nhẵnbóng, phản xạ âm tốt (hấp thụ âm kém)
- Giả sử: Gọi s là quãng đường truyền âm, t là thời gian truyền âm, v là vận tốctruyền âm, ta có: v = s/t (m/s)
Trang 14K
K
- Vật bị nhiễm điện (mang điện tích) có khả năng hút các vật khác hay làm sángbóng đèn bút thử điện
* Hai loại điện tích
- Có hai loại điện tích: điện tích dương và điện tích âm Các vật nhiễm điện
nhân mang điện tích dương và các electron mang điện tích âm chuyển động
xung quanh hạt nhân
- Một vật nhiễm điện âm nếu nhận thêm electron, nhiễm điện dương nếu mất
bớt electron
* Dòng điện – nguồn điện
- Dòng điện là dòng các điện tích dịch chuyển có hướng
Dòng điện chạy trong mạch kín bao gồm các thiết bị điện được nối liền với hai cực của nguồn điện bằng dây điện
* Chất dẫn điện và chất cách điện dòng điện trong kim loại
- Chất dẫn điện là chất cho dòng điện đi qua: Kim loại, nước, - Chất cách
điện là chất không cho dòng điện đi qua: cao su, thủy tinh, nhựa,
- Dòng điện trong kim loại là dòng các electron tự do dịch chuyển cóhướng
* Sơ đồ mạch điện – chiều dòng điện
- Mạch điện được mô tả bằng sơ đồ và từ sơ đồ có thể lắp mạch điện tương ứng