1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN LUẬT BIỂN ĐỀ TÀI QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

11 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 421,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỌC: LUẬT BIỂN TÊN ĐỀ TÀI: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM Công ước Luật biển của Liên hợp quốc 1982 gọi tắt là Công ước 1982 (UNCLOS) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế mới về biển và đại dương. Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia, có thể là có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lý... trong việc sử dụng biển và đại dương. Công ước 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 và tính đến nay đã có 168 quốc gia thành viên. Việt Nam là quốc gia phê chuẩn Công ước 1982 vào ngày 23/6/1994. Theo Công ước, về nguyên tắc các quốc gia ven biển, kể cả các quốc gia quần đảo có 5 vùng biển, tuy nhiên, việc quốc gia ven biển có đầy đủ các vùng biển trên hay không hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm và cấu tạo địa lý của quốc gia ven biển. Việt Nam là một quốc gia ven biển và có đặc điểm địa lý phù hợp cho việc yêu sách cả 5 vùng biển. Vì vậy, phạm vi để nghiên cứu các quy chế pháp lý của cả 5 là rất rộng lớn và nhiều khía cạnh. Xét về tính chất pháp lý, các vùng biển mà các quốc gia ven biển có quyền yêu sách theo Công ước có thể được chia thành 2 nhóm khác nhau. Các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven như “Nội thủy” và “Lãnh hải” có quy chế pháp lý như lãnh thổ lục địa, điều này có ý nghĩa là quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền. Còn đối với những vùng như ”Vùng tiếp giáp”, “Vùng đặc quyền kinh tế”, “Thềm lục địa”. Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển được thực hiện một số quyền mang tính chất chủ quyền và chỉ có quyền tài phán trong một số lĩnh vực nhất định. Trong số những vùng biển được nêu trên, có thể thấy chỉ có 2 nội dung vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia là “Nội thủy” và “Lãnh hải”, đây là các vùng mà quốc gia được phép áp dụng luật của mình để quản lý, thực hiện mọi quyền của quốc gia, có thể ban hành những quy định riêng nhưng phải phù hợp và tôn trọng quy định của Luật biển quốc tế. Đây sẽ chính là nội dung mà chúng ta cần đi sâu và nghiên cứu trong đề tài lần này. Vì cần làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, phân tích chi tiết và kỹ lưỡng về nội dung này, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm về Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC DUY

MSSV: 2053801011056 LỚP: 114-TM45.1

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN HỌC: LUẬT BIỂN

TÊN ĐỀ TÀI:

QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC

TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

I KHÁI QUÁT CHUNG 2

1 Khái quát về các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 2

2 Khái niệm nội thủy 2

2.1 Theo quy định của pháp luật quốc tế 2

2.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam 3

3 Khái niệm lãnh hải 3

3.1 Theo quy định của pháp luật quốc tế 3

3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam 3

II QUY CHẾ PHÁP LÝ 4

1 Quy chế pháp lý của nội thủy theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 4

1.1 Đặc điểm chế độ pháp lý của nội thủy 4

1.2 Cách phân định vùng nội thủy 5

2 Quy chế pháp lý của lãnh hải theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 6

2.1 Đặc điểm chế độ pháp lý của lãnh hải 6

3 Bất cập và kiến nghị 7

3.1 Bất cập 7

3.2 Kiến nghị 7

KẾT LUẬN 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Công ước Luật biển của Liên hợp quốc 1982 gọi tắt là Công ước 1982

(UNCLOS) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế mới về biển và đại dương Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia, có thể là có biển, không

có biển, bất lợi về mặt địa lý… trong việc sử dụng biển và đại dương Công ước 1982

có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 và tính đến nay đã có 168 quốc gia thành viên Việt Nam là quốc gia phê chuẩn Công ước 1982 vào ngày 23/6/1994

Theo Công ước, về nguyên tắc các quốc gia ven biển, kể cả các quốc gia quần đảo có 5 vùng biển, tuy nhiên, việc quốc gia ven biển có đầy đủ các vùng biển trên hay không hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm và cấu tạo địa lý của quốc gia ven biển Việt Nam là một quốc gia ven biển và có đặc điểm địa lý phù hợp cho việc yêu sách cả 5 vùng biển Vì vậy, phạm vi để nghiên cứu các quy chế pháp lý của cả 5 là rất rộng lớn

và nhiều khía cạnh

Xét về tính chất pháp lý, các vùng biển mà các quốc gia ven biển có quyền yêu sách theo Công ước có thể được chia thành 2 nhóm khác nhau Các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven như “Nội thủy” và “Lãnh hải” có quy chế pháp lý như lãnh thổ lục địa, điều này có ý nghĩa là quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền Còn đối với những vùng như

”Vùng tiếp giáp”, “Vùng đặc quyền kinh tế”, “Thềm lục địa” Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển được thực hiện một số quyền mang tính chất chủ quyền và chỉ có quyền tài phán trong một số lĩnh vực nhất định

Trong số những vùng biển được nêu trên, có thể thấy chỉ có 2 nội dung vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia là “Nội thủy” và “Lãnh hải”, đây là các vùng mà quốc gia được phép áp dụng luật của mình để quản lý, thực hiện mọi quyền của quốc gia, có thể ban hành những quy định riêng nhưng phải phù hợp và tôn trọng quy định của Luật biển quốc tế Đây sẽ chính là nội dung mà chúng ta cần đi sâu và nghiên cứu trong đề tài lần này

Vì cần làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, phân tích chi tiết và kỹ lưỡng

về nội dung này, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm về Quy chế pháp lý của các

vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Trang 4

2

1 Khái quát về các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

Tính từ bờ biển của quốc gia trở ra ngoài khơi, Luật biển quốc tế xác định có các vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Chế độ pháp lý cũng như chiều rộng của mỗi vùng biển được xác lập khác nhau hoàn toàn phù hợp với tính chất của vùng biển đó

Trong đó, các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia là các vùng biển nằm phía trong đường biên giới quốc gia trên biển và là một bộ phận cấu thành lãnh thổ của quốc gia ven biển Như vậy, chỉ có nội thủy và lãnh hải là lãnh thổ biển của quốc gia ven biển Trên cơ sở chủ quyền quốc gia và phù hợp với các quy định của Luật biển quốc tế, các quốc gia có biển trong đó có Việt Nam đã ban hành các quy định có liên quan nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, khai thác hiệu quả các lợi ích ở nội thủy và lãnh hải của mình

2 Khái niệm nội thủy

2.1 Theo quy định của pháp luật quốc tế

Khoản 1 Điều 8 Công ước Luật biển 1982 định nghĩa, nội thuỷ là “các vùng nước

ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” Một quốc gia có thể

có một hay nhiều vùng nước nội thuỷ với các chế độ pháp lý khác nhau như: nội thuỷ, nội thuỷ trong đó quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền được tôn trọng

Các vùng nước nằm bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, giáp với bờ biển như vịnh, cửa sông, vũng tàu là nội thủy thông thường, còn nội thuỷ trong đó tồn tại quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài là các vùng nước có các đường hàng hải quốc tế đi qua mà vốn trước đó chưa được coi là nội thuỷ nhưng do việc vạch đường cơ sở thẳng, vùng này đã bị gộp vào nội thuỷ dựa theo khoản 2 Điều 8 của Công ước 1982

Vùng nước hoặc vịnh lịch sử là các vùng biển, không phải là nội thuỷ nhưng do tính chất lịch sử của mình, chúng được hưởng quy chế nội thuỷ Hiện nay, vịnh hay vùng nước lịch sử không được quy định rõ trong Luật biển quốc tế Tuy nhiên, ý kiến chung cho rằng một vịnh được coi là lịch sử phải thoả mãn ba điều kiện:

- Quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình trên đó;

- Việc sử dụng vùng biển trên được thực hiện một cách liên tục, hoà bình và lâu dài;

Trang 5

- Có sự công nhận của cộng đồng quốc tế bằng sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia quan tâm, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này

2.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam

Cũng giống như quy định về nội thủy của Luật biển thế giới, ở Điều 9 Luật biển

Việt Nam 2012 do Quốc Hội ban hành có quy định: “Nội thủy là vùng nước tiếp giáp

với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.”

Theo định nghĩa này, nội thủy bao gồm cửa sông, vũng, vịnh, cảng biển và vùng nước ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển; vùng nước lịch sử cũng theo chế

độ nội thủy Nội thủy được coi như là bộ phận lãnh thổ trên đất liền của quốc gia ven biển

Điều đáng lưu ý là khi một đường cơ sở thẳng được vạch ra theo đúng phương pháp mà gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi là nội thuỷ thì quyền

đi qua không gây hại nói trong Công ước 1982 vẫn được áp dụng ở các vùng nước đó

3 Khái niệm lãnh hải

3.1 Theo quy định của pháp luật quốc tế

Lãnh hải của quốc gia ven biển là vùng biển tiếp liền và nằm phía ngoài đường cơ

sở, thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển Theo quy định tại Điều 3 Công ước 1982, các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình tới một giới hạn không vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở

Chủ quyền quốc gia ven biển đối với lãnh hải không phải tuyệt đối như đối với nội thủy, do Công ước 1982 thừa nhận quyền qua lại vô hại lãnh hải của tàu thuyền nước ngoài Đây chính là sự thỏa hiệp giữa các quốc gia ven biển và các cường quốc hàng hải trong việc thừa nhận quốc gia ven biển có vùng lãnh hải rộng 12 hải lí (trước đây, thông thường lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ rộng 3 hải lí)

3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam

Điều 11 Luật biển Việt Nam 2012 khẳng định: "Lãnh hải là vùng biển có chiều

rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra phía biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam"

Nhìn chung, nội dung quy định không khác là mấy so với pháp luật quốc tế quy định về lãnh hải, các khái niệm có sự tương đồng với nhau

Trang 6

4

1 Quy chế pháp lý của nội thủy theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

1.1 Đặc điểm chế độ pháp lý của nội thủy

Nội thủy là một vùng biển gắn với đất liền, là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, tại đó quốc gia có chủ quyền hoàn toàn tuyệt đối

Chủ quyền này bao trùm cả lớp mặt nước, đáy biển, lòng biển và cả vùng trời bên trên Chính vì vậy, trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ được thực hiện đầy đủ quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ mà quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào

“Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy

như trên lãnh thổ đất liền” (Điều 10 Luật biển Việt Nam 2012)

Tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có lại Tàu thuyền nhà nước dùng vào mục đích không thương mại và tàu thuyền quân sự phải xin phép Các thủ tục xin phép cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động tại nội thủy của mỗi quốc gia được điều chỉnh bởi quy định của Luật biển quốc tế và pháp luật quốc gia

Về nguyên tắc, một quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với vùng nước nội địa cũng như đối với đất liền Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 không có quy định cụ thể nào về quyền tài phán hình sự hoặc dân sự của các quốc gia ven biển đối với tàu nước ngoài trong vùng nước nội địa Với vị trí tiếp giáp với đất liền, các hành vi vi phạm của tàu thuyền trên tàu hoặc trong vùng nội thủy có thể ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng đến các quốc gia ven biển Do đó, quốc gia ven biển có quyền xác định phạm vi và giới hạn quyền tài phán của mình đối với các vấn đề hình sự và dân sự Trên cơ sở chủ quyền lãnh thổ, thực tiễn và luật pháp của các nước trên thế giới thừa nhận rằng quyền tài phán quốc gia được thiết lập và thực hiện trong phạm vi lãnh thổ,

kể cả đối với tàu nước ngoài neo đậu hoặc đi qua vùng nước nội địa Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tài phán đối với các tàu này tùy thuộc vào mức độ vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích, an toàn và trật tự của quốc gia ven biển

Khi hoạt động trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàu nước ngoài có hành vi trái pháp luật Đối với các tàu được hưởng quyền miễn trừ như tàu quốc gia sử dụng vào mục đích phi thương mại và tàu quân sự nước ngoài vi phạm quy định, quốc gia ven biển có quyền buộc tàu rời khỏi vùng nội

Trang 7

thủy của mình và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tàu mang cờ trừng trị các vi phạm đó Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do hành vi phạm pháp của tàu thuyền đó gây ra

Đối với các vi phạm hình sự và dân sự trên tàu thuyền nước ngoài, luật áp dụng là luật của quốc gia mà tàu mang cờ Quốc gia ven biển chỉ can thiệp:

- Nếu hành vi phạm tội do một người ngoài thuỷ thủ đoàn thực hiện;

- Nếu thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp;

- Nếu hậu quả của nó ảnh hưởng tới an ninh trật tự của cảng

1.2 Cách phân định vùng nội thủy

Vùng nội thủy được phân định theo đường cơ sở duyên hải Khi tính toán nội thủy cần chú ý tất cả các cửa sông hoặc vịnh nhỏ mà toàn phần thuộc các quốc gia ven biển thì được xác định theo quy thức sau:

1 Nếu một con sông chảy trực tiếp ra biển thì đường cơ sở sẽ là đường thẳng đi ngang qua cửa sông, nối các điểm ở mực nước thấp nhất (tức mực nước ròng đo trung bình trong nhiều năm) trên hai bờ con sông

2 Nếu một vịnh nhỏ thuộc toàn phần về một quốc gia thì cần xác định xem đó là một vịnh "đúng" (theo định nghĩa địa hình) hay chỉ là đoạn thụt vào tự nhiên của bờ biển

Một vũng hay vịnh được coi là "đúng" nếu diện tích của phần lõm vào, bị cắt bởi đường cơ sở, lớn bằng hoặc là hơn diện tích của hình bán nguyệt được tạo ra với đường kính bằng chính chiều dài của phân đoạn đường cơ sở tại phần lõm vào đó Nếu trong đoạn lõm vào này có một số đảo thì hình bán nguyệt tưởng tượng sẽ có đường kính bằng tổng chiều dài các phân đoạn của các đường cơ sở Ngoài ra, chiều dài của đường kính này không vượt quá 24 hải lý Vùng nước bên trong của đường cơ sở tưởng tượng

đó cũng được coi là nội thủy Quy tắc này không áp dụng cho các vũng, vịnh đã thuộc chủ quyền của một quốc gia nào đó mang tính chất "lịch sử" hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà việc áp dụng đường cơ sở thẳng là hợp lý (theo khoản 2 điều 10 phần II của Công ước 1982)

Trang 8

6

2 Quy chế pháp lý của lãnh hải theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

2.1 Đặc điểm chế độ pháp lý của lãnh hải

Lãnh hải có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ trên đất liền Nghĩa là, quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ đối với lãnh hải, được hiểu là vùng trời, vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải

Tuy nhiên, chủ quyền dành cho quốc gia ven biển đối với lãnh hải không phải là tuyệt đối, vì tàu thuyền các nước khác được phép "Đi qua không gây hại" trong lãnh hải Đây là vấn đề mang tính tập quán và được các quốc gia thừa nhận cho việc giao thương, phát triển hàng hải, du lịch , vì lợi ích của cộng đồng quốc tế nói chung, quốc gia ven biển nói riêng Việc "Đi qua không gây hại" là không được gây tổn hại đến hòa bình, an ninh trật tự hoặc những lợi ích chính đáng khác của quốc gia ven biển và phải tuân theo quy định tại điều 19 của Công ước 1982

Các quốc gia ven biển có quyền ấn định, phù hợp với Công ước Luật biển 1982 các tuyến đường hàng hải, quy định việc phân chia luồng giao thông trên biển dành cho tàu nước ngoài khi đi qua lãnh hải nước mình Trường hợp có sự vi phạm, quốc gia ven biển có quyền tạm thời đình chỉ việc "Đi qua không gây hại", nhằm bảo đảm chủ

quyền, an ninh và lợi ích quốc gia của mình

Chế độ pháp lý lãnh hải của pháp luật trong nước được quy định tại Điều 12 Luật biển Việt Nam 2012 Cụ thể như sau:

“1 Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời,

đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

2 Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

3 Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

4 Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trang 9

5 Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam.”

3 Bất cập và kiến nghị

3.1 Bất cập

Chỉ có một vài điểm bất cập đáng lưu ý chủ yếu đến từ Công ước 1982 (UNCLOS), mặc dù hiệp ước này đã quy định và chi tiết những điều luật chung nhất liên quan đến chủ quyền biển, đảo Nhưng sau khi xem xét và tìm hiểu kỹ lại, Công ước 1982 vẫn còn nhiều điều khoản chưa được xác định toàn vẹn:

1 Công ước 1982 không có bất kỳ điều khoản nào quy định về quy chế pháp lý của nội thủy

2 Khoản 2 Điều 8 của Công ước 1982 vẫn còn nhiều bất cập về việc xác định nội thủy

và lãnh hải

Còn một vài vấn đề không được quy định rõ ràng đến từ khu vực trong nước, đó là tình hình Biển Đông đang bị xâm phạm một cách nghiêm trọng, có thể kể đến “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc ngang nhiên áp đặt lên bản đồ thế giới, tranh chấp ở khu vực này chưa bao giờ là nguôi ngoai, Việt Nam vẫn đang là quốc gia chịu thiệt thòi trong

“cuộc chiến” này

3.2 Kiến nghị

Mặc dù là “Bộ luật quốc tế về biển và đại dương” nhưng Công ước 1982 đã trải qua một thời gian dài tồn tại Hiệp ước được ký kết vào thế kỷ trước nên không thể tránh khỏi sự lạc hậu, mất đi nhiều tính khả thi trong việc áp dụng Mong rằng trong tương lai, cộng đồng quốc tế sẽ tích cực sửa đổi, hoàn thiện UNCLOS, làm rõ những quy định còn mơ hồ và bổ sung những điều khoản còn thiếu để tránh những tranh chấp đáng tiếc, xung đột không đáng xảy ra giữa các quốc gia Mang lại sự thịnh vượng và đoàn kết chung cho biển và đại dương toàn thế giới

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra

Trang 10

8

KẾT LUẬN

Vừa rồi, chúng ta đã tìm hiểu những khái niệm căn bản và quy chế pháp lý của vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia Sở dĩ những quy chế pháp lý của vùng biển này rất riêng biệt và có sự khác lạ với các vùng biển khác là vì chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp, mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp Mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không

có quy định khác Áp dụng những quy định đó vào vùng biển “Nội thủy” và “Lãnh hải” để có thể thấy được sự tương đồng cũng như khác biệt của pháp luật trong nước so với quy định chung của pháp luật thế giới và quốc tế

Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền của mình một cách tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn ở trong vùng nội thủy, bởi vì, nội thủy được coi là bộ phận đất liền như ao hồ, sông suối, các vùng nước nằm trong đất liền Đối với vùng lãnh hải thì quốc gia ven biển không được thực hiện chủ quyền một cách tuyệt đối, tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền "đi qua vô hại" trong lãnh hải của quốc gia ven biển, với những quy định kiểm soát chặt chẽ của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982 Tuy nhiên, các quốc gia ven biển vẫn được thực hiện chủ quyển của mình đối với vùng lãnh hải của mình một cách đầy đủ và toàn vẹn

Liên hệ đến tình hình khu vực, trên Biển Đông, ngoài việc thực thi và bảo vệ chủ quyền ở vùng nội thủy, lãnh hải mà phạm vi của chúng được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng theo Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, Việt Nam còn có chủ quyền đối với nhiều đảo, quần đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa

Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm giữ trái phép quần đảo Hoàng Sa; Trung Quốc và một số quốc gia khác trong khu vực đang chiếm đóng trái phép một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đây là vấn đề cực kỳ đáng báo động

Chủ quyền quốc gia là một định nghĩa vô cùng thiêng liêng và cao quý, mỗi người dân đều phải chung tay bảo vệ, nhất là chủ quyền biển đảo, một vấn đề đang nhức nhối và âm ĩ nhiều năm nay Mong rằng qua bài nghiên cứu lần này, chúng ta sẽ

có cái nhìn chính xác và nhận định được tầm quan trọng về quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, từ đó chung tay bảo vệ và gìn giữ đất nước

Ngày đăng: 04/03/2022, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w